PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm và lí thuyết. Nét đặc thù của
phương pháp học hoá học là có sự kết hợp giữa thực nghiệm khoa học với tư duy
lí thuyết đề cao vai trò của học thuyết, giả thuyết, định luật hoá học và coi chúng
như công cụ cho sự tiên đoán khoa học. Mục đích của môn hoá học là giúp cho học
sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết
về thế giới, con người thông qua các bài học , giờ thực hành… của hoá học.Song ,
nếu chỉ dùng lời nói và chữ viết thì không thể diễn tả được hết những hiện tượng
phong phú và phức tạp của sự biến đổi hoá học trong vật chất.
Với bộ môn hóa học mà tính thực nghiệm được gắn liền với các bài giảng
hàng ngày thì việc định hướng đổi mới phương pháp dạy học cũng phải có sự khác
biệt nhiều so với các môn học khác. Ngoài các phương pháp dạy học tích cực được
sử dụng thường xuyên như: nêu và giải quyết vấn đề; thảo luận nhóm, đàm thoại
gợi mở… Nhằm nâng cao khả năng tiếp thu, tính chủ động sáng tạo trong bộ môn
Hoá học của học sinh thì việc gắn các kiến thức thực tế bộ môn vào các bài giảng
hàng ngày trong giảng dạy Hoá học ở các trường THCS hiện nay ít được chú trọng
có thể nói là “đối phó”- chỉ được vận dụng vào các bài giảng khi thao giảng bộ môn
Hoá học ở các cấp. Vậy vấn đề đặt ra là dạy môn Hoá học như thế nào để học sinh
yêu thích ? Bởi vì, với môn Hoá học là học các khái niệm, định luật, các hiện
tượng, bản chất hoá học nhiều khi trừu tượng , khó hiểu khô cứng làm cho học sinh
khó tiếp thu, dễ nhàm chán , đặc biệt đối với những học sinh có tư duy không tốt sẽ
có xu hướng chán và sợ bộ môn Hoá học. Và hơn nữa trong chương trình sách giáo
khoa THCS số lượng các bài tập thực tiễn vô cùng “khan hiếm” , nếu có gặp thì chỉ
xảy ra ở các kì thi học sinh giỏi. Chủ yếu trong chương trình học bộ môn Hoá học,
các em học sinh có thể giải các bài tập định tính, định lượng về cấu tạo chất, sự
biến đổi các chất …nhưng khi cần phải dùng kiến htức hoá học để giải quyết một
tình huống cụ thể trong thực tiễn thì lại rất lúng túng.
Môn Hoá học trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản để học sinh
không bối rối trong các tình huống gặp phải trong tự nhiên, giải thích được các hiện
tượngt ự nhiên, không mê tín dị đoan có niềm tin vào khoa học. Môn Hoá học giáo
Các phương pháp dạy học tích cực , phương pháp tích hợp môi trường, kĩ năng vận
dụng kiến thức trong học tập và liên hệ thực tiễn của bộ môn học.
3.Phạm vi nghiên cứu
Các bài dạy trong chương trình hoá học lớp 8 , 9.
PHẦN 2: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trong điều kiện hiện nay, khi khoa học kỹ thuật của nhân loại phát triển như
vũ bão, nền kinh tế trí thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô
cùng to lớn: Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải
giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang tính giáo dục,
vừa mang tính giáo dưỡng hướng thiện khoa học.
Từ thực tiễn dạy học, tôi đã thấy rằng: “ Dạy học hoá học gắn với thực
tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh THCS” sẽ tạo hứng thú, khơi dậy
niềm đam mê; học sinh hiểu được vai trò và ý nghĩa thực tiễn trong học hóa học.
Để thực hiện được, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định được
kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liên quan phù hợp với
từng học sinh ở thành thị, nông thôn …; đôi lúc cần quan tâm đến tính cách sở
thích của đối tượng tiếp thu, hình thành giáo án theo hướng phát huy tính tích cực
chủ động của học sinh, phải mang tính hợp lý và hài hoà; đôi lúc có khôi hài nhưng
sâu sắc, vẫn đảm nhiệm được mục đích học môn hoá học. Tuy nhiên, thời gian
giành cho vấn đề này là không nhiều, “nó như thứ gia vị trong đời sống không thể
thay cho thức ăn nhưng thiếu nó thì kém đi hiệu quả ăn uống ”.
2
II.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trong quá trình giảng dạy bộ môn Hoá học, giáo viên không những cung
cấp cho học sinh kiến thức mà còn hướng dẫn cho học sinh con đường tìm đến kiến
thức.Thực tế kiến thức càng thiết thực, hấp dẫn, lôi cuốn thì học sinh càng dễ dàng
tiếp nhận và nhớ lâu. Tuy nhiên, trong mỗi tiết học có thể không nhất thiết phải hội
-Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống, thường sau khi kết thúc một
phần học hoặc kết thúc bài học.Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ
vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay lúc gặp hiện
tượng đó.
3
-Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống thường thay cho lời giới
thiệu bài mới nhằm tạo sự chú ý, lôi cuốn học sinh trong tiết học.
-Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống hàng ngày qua các phương
trình phản ứng hoá học cụ thể trong bài học, làm cho học sinh khắc sâu bài học và
thấy được ý nghĩa thực tiễn.
-Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống thông qua các bài tập tính
toán. Nhằm giúp học sinh lĩnh hội lại được vấn đề cần truyền đạt, giải thích.
- Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống thông qua một vài câu
chuyện ngắn có tính chất khôi hài , gây cười có thể xen vào bất cứ thời gian nào
trong suốt tiết học. Nhằm góp phần tạo không khí học tập thoải mái, kích thích
niềm đam mê hoá học.
* Cách tổ chức thực hiện:
- Mục đích của dạy học tình huống nhằm kích thích hứng thú học tập và khả
năng sáng tạo của học sinh. Để tổ chức thực hiện được, giáo viên cần phải xác định
mục tiêu và nội dung chính trong bài để thiết lập câu hỏi liên quan để xem sự lựa
chọn câu hỏi đó dễ hay khó, thời gian giải quyết trong bao lâu… giáo viên có thể
dùng nhiều phương tiện, nhiều cách như: bằng hình ảnh, đoạn phim, báo điện tử,
bài hát, ca dao…những thông tin này phải đủ thuyết phục và có chất lượng. Sau
khi lựa chọn những thông tin cần thiết, giáo viên cần lựa chọn hình thức và kĩ thuật
thiết kế nhằm khai thác tối đa giá trị của tình huống đem lại. Tuỳ theo nội dung và
điều kiện cụ thể , giáo viên có thể thiết kế tình huống dưới các hình thức sau:
-Đặt tình huống vào bài mới: Tiết dạy có gây được sự chú ý của học sinh hay
không là nhờ vào người hướng dẫn. Trong đó, phần mở đầu bài học là rất quan
khoảng 0,16% gồm các khí cacbonic, heli, xenon....
-Khi hô hấp , ta hít không khí vào và thở ra khí CO 2, N2 và một lượng nhỏ O2 chưa
sử dụng hết , ngoài ra còn có thêm lượng nhỏ các chất là sản phẩm của những phản
ứng sinh hoá phức tạp diễn ra trong cơ thể.
-Cơ thể cần được bổ sung oxi thường xuyên. Dưới áp suất thường nếu lượng oxi
thấp dưới 16% là bắt đầu hiện tượng thiếu oxi, gây ra bất tỉnh đột ngột. Tuy vậy,
chúng ta không thể thở bằng oxi tinh khiết mà phải thở bằng oxi được pha loãng
bằng khí nitơ. Nếu thở bằng khí oxi tinh khiết thì ngay cả người khoẻ mạnh cũng
chỉ sau 2-3 ngày đêm là bắt đầu bị phù phổi.
Áp dụng: Con người ,ai cũng biết hô hấp là hít khí oxi vào nhưng cần phải trang bị
cho các em lượng kiến thức để hiểu oxi nào thì đi vào cơ thể . GV áp dụng vào bài
ứng dụng của oxi trong bài: Oxi. Sự oxi hoá.
Câu hỏi 3: Vì sao khi quạt gió vào bếp củi vừa mới tắt thì lửa sẽ bùng cháy ? Còn
khi quạt gió vào ngọn nến thì nến lại tắt?
Trả lời: - Lửa sẽ bùng cháy, do: khi quạt gió vào bếp củi thì lượng oxi tăng lên, sự
cháy diễn ra mạnh hơn nên lửa sẽ bùng lên. Còn ngọn nến tắt là do ngọn lửa nến
đang cháy thì nhỏ, khi quạt lượng gió vào nhiều sẽ làm nhiệt độ hạ thấp đột ngột.
Áp dụng: Giáo viên có thể đựt câu hỏi cho phần củng cố của bài : Không khí. Sự
cháy.
Câu hỏi 4: Tại sao đường tan vào nước nóng nhanh hơn tan vào nước lạnh?
Trả lời: Trong cốc nước nóng: nhiệt độ cao hơn nên các phân tử nước và các phân
tử đường chuyển động hỗn độn nhanh hơn nên hiện tượng khuếch tán xảy ra nhanh
hơn.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên sau khi học sinh học xong mục II 2:
những yếu tố ảnh hưởng đến độ tan trong bài 41: Độ tan của một chất trong nước.
HOÁ HỌC LỚP 9:
CHƯƠNG I: CÁC HỢP CHẤT VÔ CƠ
Câu hỏi 5: Tại sao khi tôi vôi, người ta thường bỏ vôi xuống hố trước rồi mới dẫn
nước vào hố ?
5
này. Do vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học sinh những hiểu biết về hiện tượng mưa
axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Giáo viên có thể
đặt câu hỏi trên liên hệ tích hợp môi trường trong bài 2: Một số Oxit quan trọng : Lưu
huỳnh đioxit.
Câu hỏi 7: Tại sao “viên sủi” cho vào nước lại sủi bọt?
Trả lời: Trong “viên sủi” có những chất hoá học có tác dụng chữa bệnh, ngoài ra còn có
một ít bột natrihidrocacbonat: NaHCO 3 và bột axit hữa cơ như axit xitric (axit có trong
quả chanh).Khi “viên sủi ” gặp nước tạo ra dung dịch axit. Dung dịch này tác dụng với
muối NaHCO3 sinh ra khí CO2. Khí này thoát ra khỏi cốc nước dưới dạng bọt khí.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi củng cố bài( phần mở rộng tính chất hóa
học của axit) trong bài 3: Tính chất hoá học của axit .
Câu hỏi 8 : Tại sao không nên đổ nước vào axit mà phải cho từ từ axit vào nước?
Trả lời: Axit H2SO4 đặc sánh như dầu và nặng hơn nước. Nếu cho nước vào axit , nước sẽ
nổi lên trên bề mặt axit xảy ra phản ứng hoá học, nước sôi mãnh liệt và bắn tung toé gây
nguy hiểm. Trái lại , cho axit vào nước và cho từ từ rồi khuấy đều thì axit sẽ chìm xuống.
Ngoài ra không nên pha axit này trong bình thuỷ tinh mỏng, tránh bị vỡ.
7
Áp dụng: Có những vụ án mạng tạt axit H 2SO4 đặc – rất nguy hiểm. Vậy vấn đề sử dụng
nó như thế nào để an toàn thì chúng ta cần phải pha loãng axit để làm thí nghiệm. Giáo
viên có thể nêu vấn đề trong bài 4: “ Một số axit quan trọng: H2SO4”.
Câu hỏi 9 : Tại sao khi quét vôi lên tường thì lát sau vôi khô và cứng lại ?
Trả lời: Vôi là canxi hiđroxit, là chất tan ít trong nước nên khi cho nước vào tạo
dung dịch trắng đục, khi quét lên tường thì Ca(OH) 2 nhanh chống khô và cứng lại
vì tác dụng với CO2 trong không khí theo phương trình:
Ca(OH)2 + CO2 → CaCO3 ↓ + H2O
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố tính chất hóa học của
canxi hiđroxit ở Bài 8: “Một số Bazơ quan trọng- Ca(OH)2”.
Câu hỏi 10: Để bảo quản trứng tươi lâu, người ta đã nhúng trứng vào dung dịch
xt, t0 , P
N2
+
O2
D
2NO
Sau đó:
2NO +
O2 à
2NO2
Khí NO2 sẽ tan vào trong nước mưa:
4NO2 + O2 + 2H2O à 4HNO3
Nhờ hiện tượng này, hàng năm làm tăng 6 − 7 kg N cho mỗi mẫu đất. Ngày nay,
người ta đã điều chế Ure [(NH2)2CO] từ không khí để chủ động bón cho cây trồng.
Áp dụng: Đây là một câu ca dao mang một ý nghĩa thực tiễn, thấy rõ trong đời
sống. Vấn đề này được vận dụng trong dạy bồi dưỡng học sinh giỏi.
Câu hỏi 13 :Vì sao người ta dùng tro bếp để bón cho cây ?
Trả lời: Trong tro bếp có chứa muối K2CO3 cung cấp nguyên tố kali cho cây.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt 2 câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài hoặc liên
hệ thực tế trong ở bài 16: Phân bón hoá học.
Câu hỏi 14 : Tại sao trên bề mặt hố vôi thường có một lớp váng màu trắng đục nổi
phía trên?
Trả lời: - Do CO2 trong không khí tác dụng với dd Ca(OH)2 tạo CaCO3 :
CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3 + H2O
Do sức căng bề mặt nên váng( CaCO 3) nổi lên trên. Nếu ta đụng vào váng thì nó sẽ
vỡ ra và rơi xuống.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng thấy ở các hố tôi vôi. Giáo viên có thể áp dụng
Áp dụng: Giải thích được điều này đòi hỏi học sinh phải biết được tính chất của
kim loại. Giáo viên có thể đặt câu hỏi này vào bài bài bài 16: “ Tính chất hoá học
của kim loại”.
Câu hỏi 18:Tại sao khi đánh xoong, nồi không cần đánh sáng mà chỉ cần chùi sạch
Trả lời: Ở điều kiện thường, nhôm phản ứng với oxi tạo thành lớp Al 2O3 mỏng, bền
vững. Lớp oxit này bảo vệ đồ vật bằng nhôm, không cho nhôm tác dụng với oxi
trong không khí và nước. Nếu đánh sáng các vật dụng bằng nhôm thì chỉ sau vài
ngày là không còn sáng nữa do có lớp Al2O3 bám. Nên chỉ cần chùi sạch.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng có thể nói là “ thói quen”mà chị em nội trợ thường
làm bởi vì trước mắt là nhìn các vật dụng nó sáng, sạch trông rất ưng ý. Nhưng chỉ
là “công cốc” vì đâu lại vào đấy. Bởi vậy giáo viên cần đề cập vấn đề này để các
em hiểu việc làm trên là nên : đánh sáng hay chỉ cần chùi sạch qua phần học về : “
tính chất hoá học của nhôm- tác dụng với oxi trong bài 18: Nhôm”.
Câu hỏi 19 : Tại sao những đồ dùng bằng sắt thường bị gỉ tạo thành gỉ sắt và dần
dần đồ vật không dùng được ?
Trả lời : Trong không khí có oxi, hơi nước và các chất khác. Do tác dụng nhiệt độ
cao của ánh nắng mặt trời, hơi nước, oxi và nước mưa (thường hòa tan khí CO 2 tạo
môi trường axit yếu) có phản ứng với sắt tạo thành một số hợp chất của sắt (Fe2O3)
gọi là gỉ sắt. Gỉ sắt không còn tính cứng, ánh kim, dẻo của sắt mà xốp, giòn nên làm
đồ vật bị hỏng. Do đó để bảo vệ đồ dùng bằng sắt, người ta thường phủ lên đồ vật
bằng sắt một lớp sơn, kim loại khác để ngăn không cho sắt tiếp xúc với nước, oxi
không khí và một số chất khác trong môi trường.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài 21:
Sự ăn mòn kim loại.
Câu hỏi 20: Chảo, môi, dao đều được làm từ sắt.Vì sao chảo lại giòn ? môi lại
dẻo? còn dao lại sắc ?
Trả lời : Chảo xào rau, môi và dao đều làm từ các hợp kim của sắt nhưng chúng lại
không giống nhau.
Sắt dùng để làm chảo là “gang”. Gang có tính chất là rất cứng và giòn. Trong
công nghiệp, người ta nấu chảy lỏng gang để đổ vào khuôn, gọi là “đúc gang”.
Cacbon
Câu hỏi 23 : Tại sao khi sử dụng than để đun nấu, nung gạch ngói, nung vôi lại gây
ô nhiễm môi trường? Nêu biện pháp chống ô nhiễm môi trường?
Trả lời: Khi đun, đốt than đã tác dụng với oxi làm giảm lượng oxi trong không
khí. Sản phẩm của phản ứng đốt cháy là khí CO 2, CO, SO2 ... gây độc. Nhiệt toả ra
qua các phản ứng rất lớn..
-Biện pháp tích cực nhất để chống ô nhiễm môi trường là: trồng và bảo vệ cây xanh
sẽ tăng lượng khí oxi, giảm được lượng khí độc nhờ quá trình quang hợp và làm
giảm sức nóng của môi trường.
Áp dụng:Vấn đề môi trường đã và đang được cả cộng đồng người trên thế giới
chung tay bảo vệ môi trường.GV cần khơi dậy những tri thức “lí thuyết và thực tại
” trong mỗi HS qua bài 27: Cacbon.
Câu hỏi 24: Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra ?
11
Trả lời:: Ở nhiệt độ thường 1 lít nước hoà tan được 1 lít CO 2, khi tăng áp suất độ
tan của CO2 sẽ tăng . Khi các chai nước giải khát, CO 2 được hoà tan dưới áp suất
lớn hơn áp suất khí quyển. Khi mở nút chai dưới áp suất khí quyển, độ tan của CO 2
giảm đi do đó khí CO2trong dung dịch thoát ra, gây nên hiện tượng sủi bọt.
Áp dụng: Hiện tượng có nhiều bọt khí thoát ra từ bình nước ngọt có ga hay chai bia
thì chắc hẳn học sinh nào cũng biết. Nhưng khi giải thích khí đó là khí gì và có
công dụng ra sao ,tại sao người ta đưa khí đó vào bình được ? thì học sinh không
biết được. Giáo viên có thể nêu câu hỏi trên khi dạy bài 28: Oxit của Cacbon
Câu hỏi 25: Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ ở các hang động với những
hình dạng phong phú đa dạng được hình thành như thế nào?
Trả lời: Ở các vùng núi đá vôi, thành phần chủ yếu là CaCO 3. Khi trời mưa trong
không khí có CO2 tạo thành môi trường axit nên làm tan được đá vôi. Những giọt
mưa rơi xuống sẽ bào mòn đá thành những hình dạng đa dạng:
khí metan để sử dụng đun nấu hay chạy máy …
Áp dụng: Đây là hiện tượng thường gặp và là cơ sở giải quyết các vấn đề về môi
trường ở các địa phương chăn nuôi nhỏ lẻ. Giáo viên đưa vấn đề này vào trong
phần liên hệ thực tế bài 36: Metan
Câu hỏi 28: Làm cách nào để quả mau chín ?
Trả lời: Từ lâu người ta đã biết xếp một số quả chín vào giữa sọt quả xanh thì toàn
bộ sọt quả xanh sẽ nhanh chóng chín đều. Tại sao vậy ?
Bí mật của hiện tượng này đã được các nhà khoa học phát hiện khi nghiên
cứu quá trình chín của trái cây. Trong quá trình chín trái cây đã thoát ra một lượng
nhỏ khí etilen. Khí này sinh ra có tác dụng xúc tác quá trình hô hấp của tế bào trái
cây và làm cho quả mau chín.
Nắm được bí quyết đó người ta có thể làm chậm quá trình chín của trái cây
bằng cách làm giảm nồng độ etilen do trái cây sinh ra. Điều này đã được sử dụng
để bảo quản trái cây không bị chín nẫu khi vận chuyển xa. Ngược lại khi cần cho
quả mau chín,người ta thêm etilen vào kích thích quá trình hô hấp của tế bào trái
cây.
Ngày nay người ta dùng khí đá cho vào thùng trái cây để làm trái cây mau
chín vì khi có hơi nước khí đá tác dụng trong môi trường ẩm sinh ra etilen làm trái
cây mau chín.
13
Áp dụng: Đây là hiện tượng đã được sử dụng rất lâu nhưng không phải ai cũng biết
giải thích được. Giáo viên có thể sử dụng hiện tượng trên liên hệ thực tế trong phần
ứng dụng của etilen ở bài 37: Etilen
Câu hỏi 29: Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết ?
Trả lời: Đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua(CaC2), khi tác dụng với nước
sinh ra:
CaC2 + 2H2O → C2H2 + Ca(OH)2
Axetilen sinh ra tiếp tục phản ứng với nước tạo ra anđehit axetic- chất này làm tổn
nồng độ cồn quá cao làm cho protein trên bề mặt vi khuẩn đông cứng nhanh hình
thành lớp vỏ cứng ngăn không cho cồn thấm vào bên trong làm giảm tác dụng diệt
14
khuẩn . Nếu nồng độ nhỏ hơn 75o thì khả năng làm đông tụ protein giảm, vì vậy
hiệu quả sát trùng kém.
Áp dụng: Trong y tế việc dùng cồn để sát khuẩn trước khi tiêm và rửa vết thương
trở nên thông dụng. Nhưng để giải thích được ý cồn có khả năng sát khuẩn thì
không phải ai cũng giải thích được. Trong bài giảng, nếu học sinh được giáo viên
giải thích thì sẽ rất hứng thú về hóa học có những ứng dụng rất thực tế và sẽ thêm
yêu hóa học. Giáo viên có thể đề cập ở phần ứng dụng trong bài 44: Rượu etylic
Câu hỏi 33: Dấm ăn là gì? Có ích gì?
Trả lời: Trong dấm ăn có vị chua vì có 3 - 5% là Axit axetic (CH3COOH). Dấm ăn
có tác dụng tạo vị chua và có tác dụng làm cho cơ thể có cảm giác muốn ăn và tiêu
hoá tốt, có khả năng tiêu độc, sát khuẩn.
Áp dụng: Vận dụng trong phần mở bài 45: Axitaxetic.
Câu hỏi 34: Vì sao rau, củ , quả thường được ngâm giấm?
Trả lời: Một số thức ăn, thường là rau, củ, quả ngâm vào giấm và sau đó đóng hộp
kín gió . Giấm là dung dịch axitaxetic ( nồng độ 3-5%), nó ngăn được sự phát triển
của vi khuẩn nên thức ăn được bảo quản.Hành và dưa là những thực phẩm được
ngâm giấm thường gặp.
Áp dụng: Vào bài học giáo viên có thể đặt câu hỏi trên để kích thích học sinh tư
duy hiện tượng hoá học trong đời sống.Vận dụng trong bài 45: Axitaxetic.
Câu hỏi 35: Tại sao dầu mỡ ăn để lâu bị ôi thiu?
Trả lời: Nguyên nhân của quá trình ôi thiu dầu mỡ có nhiều như dầu mỡ có lẫn
nước, hay những tạp chất khác... song chủ yếu là sự oxi hóa liên kết đôi bởi oxi
không khí tạo thành peoxit, sau đó peoxit bị phân hủy thành anđehit và xeton có
mùi khó chịu.
Vì vậy, dầu thực vật (chứa chủ yếu là chất béo không no) nhanh bị ôi thiu hơn mỡ
Áp dụng: Giáo viên có thể đề cập vấn đề trên ở phần củng cố ,liên hệ trong bài
50: Glucozơ.
Câu hỏi 38: Ông bà ta xưa nay luôn nhắc nhỡ con cháu câu: “ Nhai kỹ no lâu”. Tại
sao khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt và no lâu ?
Trả lời: Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến nước bọt của
người có các enzim. Khi nhai kỹ cơm trong nước bọt sẽ xảy ra sự thủy phân một
phần tinh bột thành mantozơ và glucozơ nên có vị ngọt:
Áp dụng: Giáo viên có thể đề cặp vấn đề trên ở phần nội dung phản ứng thủy phân
của tinh bột trong bài 52: Tinh bột nhằm cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản
của sự chuyển hóa tinh bột trong khi ăn. Học sinh cũng có thể kiểm nghiệm được
trong khi ăn.
Câu hỏi 39: Tại sao khi nấu thịt, cá cùng với rau, quả có vị chua thì nhanh nhừ
hơn?
Trả lời: Trong môi trường axit là các rau, quả có vị chua sẽ xúc tác cho sự thủy
phân protein tạo thành aminoaxit và những protein đơn giản hơn, nên thịt cá nhanh
nhừ hơn.
Áp dụng: Việc đặt vấn đề bằng những câu hỏi thực tiễn gần gũi với học sinh sẽ đưa
học sinh vào tình huống có vấn đề. Việc giải quyết vấn đề giúp học sinh hiểu sâu
sắc bài học hơn.Câu hỏi này được đặt ra khi bắt đầu phần tính chất hóa học của
protein trong bài 53: Protein.
Từ khái niệm ptotein và tính chất hóa học của peptit học sinh sẽ tìm cách trả lời
câu hỏi trên. Từ đó, mà nâng cao kỹ năng phân tích và tư duy của học sinh.
Câu hỏi 40: Giải thích vì sao khi nấu canh cua thì có gạch cua nổi lên? Khi nấu
trứng thì lòng trắng trứng kết tủa lại?
Trả lời: Vì trong những trường hợp đó có xảy ra sự kết tủa protit bằng nhiệt, gọi là
sự đông tụ. Một số protit tan trong nước tạo thành dung dịch keo, khi đun nóng sẽ
bị kết tủa.
16
Điểm khá
Điểm TB
Điểm yếu
Lớp
Sĩ số
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
8A1
Ít áp dụng
05
12,5
09
22,5
21
52,5
05
12,5
(40HS)
8A2
Có áp dụng
07
14,9
15
32
xuyên áp
dụng
9A5
(54HS)
Điểm giỏi
SL
%
Điểm khá
SL
%
Điểm TB
SL
%
Điểm yếu
SL
%
07
12,7
18
32,7
PHẦN 3: PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Kết luận:
Như vậy, đổi mới dạy và học hiện nay là hướng tới học tập chủ động, tích
cực, tự tòm tòi, chống thói quen học tập thụ động. Các phương pháp tích cực hướng
tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học phải gắn
liền với giá trị thực tiễn của nôi dung bài học. Đó là nhu cầu cũng là xu hướng của
giáo dục thời hội nhập để rèn luyện cho học sinh khả năng tự lực, nhạy bén trong
cuộc sống.
Để có được tiết học đạt hiệu quả cao nhất luôn là niềm trăn trở, suy nghĩ là
mục đích hướng tới của từng người giáo viên có lương tâm và trách nhiệm nghề
nghiệp. Người giáo viên phải nhận thức rõ vai trò là người “thắp sáng ngọn lửa”
chủ động lĩnh hội tri thức trong từng học sinh.
Trong nội dung đề tài của mình, tôi đã đề cập đến một số vấn đề xung quanh
cuộc sống và có ý nghĩa thực tiễn, thậm trí có thể gặp ,tiếp xúc hàng ngày. Tuy
nhiên, việc áp dụng các hiện tượng thực tiễn phải biết lựa chọn đúng nội dung bài,
thời gian hợp lí trong giờ học mới cuốn hút sự chú ý, tập trung của học sinh tạo
không khí thoải mái trong tiết học, mới tạo được ý thức học tập và yêu thích bộ
môn. Có thể nói các tình huống gắn với thực tiễn là một công cụ dạy học hiệu quả,
hỗ trợ đắc lực cho giáo viên và là người bạn thân thiết của giáo viên trong quá trình
đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng bài lên lớp.Tôi hi vọng đây là
vấn đề gợi mở ra một quan niệm trong dạy học hoá học, mặc dù trong đề tài này tôi
không thể đề cập mọi hiện tượng có liên quan.
Đề xuất:
18
Vấn đề đổi mới phương pháp trong giờ học đang là vấn đề đã và đang được
học tập và triển khai có triều hướng khả quan, nếu:
Đối với giáo viên: phải kiên trì, đầu tư nhiều tâm, sức để tìm hiểu các vấn đề hoá
học, vận dụng sáng tạo phương pháp dạy hoá học, để có bài giảng thu hút được học
19
PHỤ LỤC:
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Trang 1
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI………………………………………………………….. 1
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU…………………………………………………… 2
1.Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………………. 2
2.Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………… 2
3.Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………… 2
PHẦN 2: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM………………………… . 2
I .Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm………………………………………… 2
II.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm…………………… 3
III.Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề. . 3
20
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản than, đồng
nghiệp và nhà trường………………………………………………………………….4
PHẦN 3: PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .............................................................18
KẾT LUẬN
ĐỀ XUẤT
21