Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng, thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc môi trường các lưu vực sông của việt nam áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông nhuệ đáy phân tích, đánh giá các hệ thố - Pdf 13

TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG

Chuyên đề

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC HỆ THỐNG CHỈ THỊ SINH
HỌC CHO MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐÃ ĐƯỢC
NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG Ở TRONG NƯỚC

Người thực hiện: Nguyễn Hồng Hạnh

-1 -
MỞ ĐẦU
Vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và vấn đề ô nhiễm môi trường nước
nói riêng đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Vận dụng sáng tạo và phát
triển các ý tưởng từ các nghiên cứu quốc tế, kết hợp với những kinh nghiệm và kiến
thức thực tiễn trong điều kiện môi trường nước ta, việc nghiên cứu sử dụng sinh vật
chỉ thị để đ
ánh giá chất lượng môi trường nước cũng đã được tiến hành trong các
năm gần đây và đạt được 1 số thành tựu nhất định.
Việc áp dụng phương pháp sinh học trong đánh giá chất lượng nước ngày
nay đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm và áp dụng. Tuy nhiên, sử dụng các
chỉ thị sinh vật để quan trắc, đánh giá chất lượng môi trường nước còn chưa được
áp dụng nhiề
u ở nước ta. Hiện nay chưa có những tiêu chuẩn sinh học cụ thể hay
các chỉ số sinh học đánh giá chất lượng nguồn nước mặt. Cần phải có những nghiên
cứu trên nhiều khu vực để xây dựng một hệ thống chỉ số sinh học dùng để đánh giá
chất lượng nước phù hợp cho từng vùng. Nhìn nhận môi trường thủy vực dưới góc
độ sinh thái cũng như nghiên cứu sử
dụng sinh vật chỉ thị môi trường mới chỉ bắt
đầu để cập nhưng chưa được thực hiện đồng bộ trên quy mô lớn, và mới chỉ dừng ở
mức đánh giá định tính. Vì vậy chưa có chỉ số riêng cho từng khu vực để đánh giá
giám sát chất lượng thủy vực quốc gia.
Phân tích, đánh giá các hệ thống chỉ thị sinh học cho môi trường nước lưu
v
ực sông đã được nghiên cứu và xây dựng ở Việt Nam với mục đích xem xét
phương pháp nghiên cứu và số liệu thu được, tiếp thu, thừa kế những thành tựu góp
phần xây dựng bộ chỉ thị có tính ứng dụng phổ biến trên quy mô rộng lớn, phù hợp
với các điều kiện lưu vực sông nước ta và tính chính xác cao về cả mặt định tính và
định lượng.


nên có thể dùng làm chỉ thị sinh học trong quan trắc chất lượng nước. Khảo sát
trong các nhóm Động vật phù du tại đây thì nhóm Rotatoria và Cladocera phát triển
mạnh nhất. Dường như không thấy nhóm Calanoida trong các hồ này (Đặng Ngọc
Thanh, 2002).
Gần đây, năm 2005 có công trình của Nguyễn Tác An và các cộng tác viên,
dựa vào quần thể tuyến trùng Nematoda (Giun tròn) và kết quả tính toán chỉ số đa
d
ạng Shannon (H’) cho quần xã thực vật và động vật phù du đánh giá chất lượng
môi trường nước một số đầm, vịnh ven biển như vịnh Cam Ranh, vịnh Nha Trang,
vịnh Hạ Long, đầm Nha Phu, đầm Thị Nại ; bước đầu đề xuất một số loài tuyến
trùng chỉ thị cho chất lượng môi trường ven biển.
Vừa qua có một số tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến chất lượng sinh học
nước
đã được Nhà nước ban hành như: TCVN 7176:2002 về Phương pháp lấy mẫu
sinh học- Hướng dẫn lấy mẫu động vật không xương sống cỡ lớn bằng vợt cầm tay;
TCVN 7177:2002 về Hướng dẫn thiết kế và sử dụng dụng cụ lấy mẫu định lượng
đối với động vật không xương sống cỡ lớn trên nền đá ở vùng nước nông… Do
chưa có được m
ột quy trình chuẩn về thu mẫu, một phương pháp thống nhất trong -3 -
xử lý và đánh giá số liệu về thực trạng chất lượng môi trường nước, cho nên chưa
thể xây dựng ở Việt Nam một hệ thống các chỉ số sinh học độc lập để đánh giá và
quan trắc chất lượng môi trường nước và có thể dự báo được diễn thế của chúng
dưới tác động ngày càng gia tăng của con người.
Chuyên đề này sẽ điểm lại một s
ố nghiên cứu điển hình đã được thực hiện
trong nước về vấn đề sử dụng chỉ thị sinh học nhằm đánh giá chất lượng nước sông.
Các nghiên cứu này chính là cơ sở bước đầu cho việc đề xuất một Bộ chỉ thị thống

diễn ra trong 3 năm 1998-2000.
Mẫu nghiên cứu được thu thập vào tháng 4 và tháng 8 năm 1999. Ở bắc Việt
Nam, các đị
a điểm thu mẫu được lấy theo thứ tự 1 con suối nhỏ, chảy mạnh trên núi
Tam Đảo, chảy chậm qua những địa điểm ở đồng bằng xung quanh là đồng lúa,
cuối cùng đổ ra sông Cầu, với các nguồn ô nhiễm tiềm năng khác nhau bao gồm
nước thải từ các thành phố, thị trấn và các ngành công nghiệp cũng như nông
nghiệp. Ở miền Nam, các địa điểm lấy mẫu
được chọn ở trong và xung quanh thành
phố cao nguyên Đà Lạt, những điểm thuộc suối đổ ra sông Đa Nhim, bao gồm 1
phạm vi rộng về các điều kiện vật lý và hóa học. Tổng số có 14 điểm thu mẫu ở
miền Bắc và 15 điểm thu mẫu ở miền Nam. Tuy nhiên có 1 số điểm không thể thu
mẫu vì mùa khô, mực nước quá thấp, hoặc vào mùa mưa, mực nước quá cao không
thể
thực hiện thu mẫu.
Kết quả nghiên cứu là đã xây dựng nên khóa định loại động vật không xương
sống (ĐVKXS) cỡ lớn đến cấp họ, thiết lập quy trình lấy mẫu và hệ thống tính điểm
sử dụng trong quan trắc sinh học đối với các thủy vực nước chảy Việt Nam (VN).
Có thể coi đây là những kết quả ban đầu làm cơ sở cho những nghiên c
ứu tiếp theo
nhằm từng bước hoàn thiện quy trình quan trắc đánh giá chất lượng nước thông qua
sinh vật chỉ thị là ĐVKXS cỡ lớn ở VN.
Với mục tiêu nghiên cứu về mặt định tính khu hệ ĐVKXS cỡ lớn ở 1 khúc
sông có thể cho ta thông tin về chất lượng môi trường ở đó. Từ chính những dẫn
liệu thu được có thể phát hiện được những thay đổi thực tế v
ề chất lượng môi
trường ở một hay nhiều địa điểm, phát hiện được những sự khác nhau về không
gian trong chất lượng môi trường nước của 1 dòng sông hay cả vùng nghiên cứu.
Từ nghiên cứu này, nhóm tác giả đã đưa ra Hệ thống điểm BMWP
Vietnam

c) Trichoptera : Hydroptilidae (caddis-flies)
d)
Odonata : Lestidae, Agriidae (Calopterygidae), Gomphidae, Cordulegastridae,
Aeshnidae, Corduliidae/Libellulidae, Coenagrionidae/Platycnemidae, Chlorocyphidae,
Macromidae (dragonflies)

a)
Hemiptera : Veliidae, Mesovelidae, Hydrometridae, Gerridae, Nepidae, Naucoridae,
Notonectidae, Belostomatidae, Hebridae, Pleidae, Corixidae (bugs)
5
b)
Coleoptera : Haliplidae, Dytiscidae, Gyrinidae, Hydraenidae, Hydrophilidae,
Hygrobiidae, Helodidae, Dryopidae, Elmididae, Chrysomelidae, Curculionidae,
Psephenidae, Ptilodactylidae (beetles)

c) Trichoptera : Hydropsychidae (caddis-flies)
d) Diptera : Tipulidae, Simuliidae (dipteran flies)
e) Platyheminthes : Planariidae (Dugesiidae) (triclads)
f) Mollusca : Viviparidae, Amblemidae (bivalves)
a) Ephemeroptera : Baetidae/Siphlonuridae (mayflies) 4
b) Megaloptera : Sialidae, Corydalidae (alderflies and dobsonflies)
c) Mollusca: Pilidae, Unionidae (snails, bivalves), Pachychilidae
d) Oligochaeta : Piscicolidae (leeches)
a)
Mollusca : Hydrobiidae (Bithyniidae, Triculinae), Lymnaeidae, Planorbidae, Thiaridae,
Corbiculidae, Sphaeriidae (Pisidiidae) (snails, bivalves)
3
b) Oligochaeta : Glossiphoniidae, Hirudidae, Erpobdellidae (leeches)
c) Crustacea : Parathelphusidae (crabs)
d) Odonata : Protoneuridae (dragonflies)

I 10 - 8 Không ô nhiễm, nước sạch
II 7,9 - 6 Ô nhiễm nhẹ (Oligosaprobe)
III 5,9 - 5
Ô nhiễm vừa (β Mesosaprobe)
IV 4,9 - 3
Khá ô nhiễm (α Mesosaprobe)
V 2,9 - 1 Ô nhiễm nặng (Polysaprobe)
VI 0 Ô nhiễm rất nặng (không có ĐVKXS)
Nguồn: Environment Agency, UK, 1997. Richard Orton, Anne Bebbington và
John Bebbington, 1995
Qua việc áp dụng hệ thống điểm BMWP
Vietnam
và điểm sinh học trung bình
ASPT cho việc phân hạng chất lượng nước một số thuỷ vực nước chảy phía bắc
Việt Nam, nghiên cứu đã đưa ra một số nhận xét sau:
• Hầu hết các thuỷ vực sông suối miền núi đều có giá trị ASPT tương ứng
từ mức Ô nhiễm nhẹ đến Khá ô nhiễm. Không có điểm khảo sát nào có môi trường
nước đạt m
ức Không bị ô nhiễm (nước sạch). Trong khi đó, các kết quả phân tích
môi trường nước thông qua các chỉ số thuỷ lý hoá chỉ danh ô nhiễm hữu cơ tại hầu
hết các thuỷ vực ở đây cho thấy chất lượng nước đều dưới mức giới hạn cho phép
nhiều lần theo tiêu chuẩn Việt Nam. Điều đó cho thấy các mức phân hạng môi -7 -
trường nước các thuỷ vực sông suối theo hệ thống điểm BMWP có thể sử dụng để
cảnh báo về chất lượng môi trường sinh thái thuỷ vực.
• Giá trị điểm tính được phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng lấy mẫu và
kích thước mẫu. Một quy trình lấy mẫu nhất quán sẽ cho điểm số ASPT chính xác
và tin cậy. Kích thước mẫu lớn cho tổng số

• Đ
ánh giá hiệu lực của phương pháp đã áp dụng đối với 1 loạt các địa
điểm có sự khác nhau về các đặc điểm vật lý và hóa học trên những hệ thống sông
ngòi Việt Nam. -8 -
II.2. Ứng dụng phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học hệ sinh thái thủy
vực vào sinh quan trắc chất lượng môi trường nước Việt Nam:
Nghiên cứu của Nguyễn Vũ Thanh và cộng tác viên sử dụng tính đa dạng
của quần xã động vật không xương sống (ĐVKXS) cỡ lớn và trung bình trong sinh
quan trắc môi trường. Phương pháp này có các ưu thế sau:
• Số lượng cá thể, tổng số họ, giống, loài…củ
a quần xã ĐVKXS lớn và trung bình
phản ánh tương đối chính xác hiện trạng chất lượng nước của khu vực, nếu quần
xã ĐVKXS lớn và trung bình đa dạng, với sự phát triển bền vững của nhiều loài,
nhiều họ thì chất lượng nước sẽ tốt, tác động ô nhiễm ít hoặc không đáng kể và
ngược lại, chất lượng nước nguồn sẽ bị tác động, xấu
đi nếu nhiều trong số các
họ của ĐVKXS lớn và trung bình bị mất đi;
• Sự phát triển quần xã ĐVKXS lớn và trung bình trong các hệ sinh thái thủy vực
không tách rời với sự phát triển ở một vài giai đoạn nào đó trong chu trình sống
của ấu trùng côn trùng nước và các nhóm ĐVKXS khác, vì vậy sự hiện diện của
các nhóm côn trùng nước như Ephemeroptera, Plecoptera, Trichoptera luôn luôn
là thước đo bắt buộc trong tính tổng số
điểm (BWMP), điểm trung bình (ASTP)
và xác định các chỉ số sinh học cụ thể khác (BDI);
• Các nhóm ĐVKXS cỡ lớn và trung bình có hàng loạt ưu điểm hơn so với các
nhóm động vật khác ở chỗ: chúng có mặt ở mọi sinh cảnh, vòng đời tương đối
ngắn, sinh sản nhanh, số lượng cá thể lớn, hầu như không di chuyển khỏi chỗ cư

Rất tốt Quần xã tương đương hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn với
quần xã của nơi chưa bị tác động nhân tạo hoặc được coi là
không đáng kể (không bị xáo trộn).
Tốt Có các thay đổi nhỏ trong quần xã được quan sát khi so sánh
với quần xã đối chứng.
Trung bình Quần xã được quan sát không giống ở mức đáng kể và nhiều
nhóm bị thiếu so với danh mục phân loại của quần xã đối chứng.
Xấu Quần xã được quan sát không giống ở mức đáng kể và nhiều
nhóm bị thiếu so với danh mục phân loại của quần xã đối chứng.
Rất xấu Quần xã được quan sát bị suy giảm trầm trọng khi được so sánh
với quần xã đối chứng. Chỉ có mặt các nhóm phân loại có khả
năng sống trong điều kiện cực kỳ bị xáo trộn.
Nguồn: TCVN 6966:2001
Để góp phần hoàn thiện phương pháp quan trắc dựa trên sự hiểu biết đầy đủ
về độ đa dạng của hệ sinh thái nước, nhất thiết phải tiến hành các nghiên cứu toàn
diện đa dạng sinh học của các hệ sinh thái đặc trưng cho các vùng lãnh thổ khác
nhau trong cả nước. Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng và có thể áp dụng
riêng lẻ hay phối kết hợp tuỳ
đặc trưng của từng vùng nghiên cứu. Các chỉ số đa
dạng Shannon- Weaver và Margalef, chỉ số ưu thế Simpson và chỉ số đồng đều
Pielou đã được sử dụng rộng rãi trong sinh quan trắc và sẽ hoàn thiện hơn nếu sử
dụng phương pháp so sánh ABC (Abundance Biomass Comparison Curves) với chỉ
số Warwick.
Kết quả nghiên cứu đối chiếu cho thấy, để thực hiện phân loại chất lượng
nước ở ph
ạm vi lớn hoàn toàn có thể sử dụng phương pháp cho điểm theo bản điểm
sinh học của các Họ sinh vật thuỷ sinh. Phương pháp này cho phép khắc phục khó
khăn trong việc phân loại các nhóm sinh vật đến thứ hạng loài và nhờ vậy việc sinh
quan trắc môi trường nước không còn hạn chế nào đáng kể nữa. Qua những đợt tập


Trần Đức Hạ (1993) và thay đổi mức thứ 4 - mức bẩn rất nặng (Polysaprobic) thành
mức chuyển tiếp là mức bẩn nặng ÷ bẩn rất n
ặng (α÷Polysaprobic):
1. Thủy vực bẩn nhẹ (Olygo-saprobic).
2. Thủy vực bẩn vừa (β-mesosaprobic).
3. Thủy vực bẩn nặng (α-saprobic).
4. Thủy vực bẩn nặng ÷ bẩn rất nặng (α -Polysaprobic).
Với mức bẩn rất nặng (Polysaprobic) thực tế trong sản xuất thủy sản hầu như
không gặp bởi do chất lượng môi trường thủ
y vực quá xấu, các đối tượng nuôi
không thể sống được. -11 -
Đặc tính thành phần loài
- Theo vùng địa lý (theo miền):
Căn cứ vào địa điểm xuất hiện, có thể chia thành phần thủy sinh vật vùng
nghiên cứu thành hai nhóm:
- Nhóm loài phân bố rộng: gồm 29 loài thực vật phù du (TVPD) và 28 loài
động vật phù du (ĐVPD) bắt gặp trong các thủy vực nuôi thủy sản ở cả 2 vùng nghiên
cứu Bắc Bộ và Nam Bộ.
- Nhóm loài phân bố hẹp (theo vùng sinh thái): gồm 74 loài TVPD, 26 loài
ĐVPD bắt gặp ở các thủy vực nuôi thủy sản ven biể
n Bắc Bộ, 8 loài TVPD và 10
loài ĐVPD mới chỉ bắt gặp ở các thủy vực nuôi thủy sản ven biển Nam Bộ trong
thời gian nghiên cứu.
- Theo thời gian (theo mùa):
Căn cứ vào thời gian xuất hiện của thủy sinh vật trong các thủy vực nuôi
thủy sản, có thể chia thành 2 nhóm sau:
- Nhóm loài phân bố quanh năm: bao gồm 34 loài TVPD, 30 loài ĐVPD và 7

nặng - bẩn rất nặng.
Trong các thủy vực nuôi thủy sản mức bẩn vừa có sự hiện diện của 51 loài
thuộc 37 giống, 26 họ của 4 ngành ĐVPD là Aschelminthes,
Arthropoda,
Chaetognatha, Protochordata và 9 nhóm ấu trùng của ĐVPD và ĐVĐ. Các thủy
vực nuôi thủy sản có mức bẩn nặng, số lượng ĐVPD bắt gặp còn 16 loài thuộc 12
giống, 12 họ của 2 ngành Aschelminthes, Arthropoda và 4 nhóm ấu trùng của
ĐVPD và ĐVĐ. Số lượng taxon các bậc phân loại của ĐVPD giảm sút nghiêm
trọng ở mức bẩn nặng - bẩn rất nặng, chỉ còn 7 loài thuộc 5 giống, 5 họ thuộ
c 2
ngành Aschelminthes và Arthropoda. Nhóm ấu trùng ĐVPD và ĐVĐ phong phú ở
mức bẩn vừa, giảm sút ở mức bẩn nặng và hầu như mất hẳn trong mức bẩn nặng -
bẩn rất nặng.
Bảng 4. Đề xuất các chỉ số sinh học theo phân mức chất lượng môi
trường thủy vực vùng cửa sông
TT Chỉ số mức môi
trường
S H’ D N
1 Sạch (không nhiễm
bẩn)
*

> 22 3,5 - 5,0
≤ 0,1

2 Bẩn nhẹ (Oly) 15 - 22 2,5 - 3,5 0,1 - 0,3 - TVPD: hàng chục nghìn tb/lít
-ĐVPD: hàng chục nghìn con/m
3
3
Bẩn vừa (β)

Quýnh đã đề xuất một hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn các thuỷ vực có nước thải ở
Hà Nội dựa trên một số chỉ tiêu lý hoá học, quy định sự có mặt hay vắng mặt của
một số loài hay nhóm loài động vật không xương sống, được coi như sinh vật chỉ
thị, quy định sự phát triển về số lượng và kh
ối lượng của chúng ở mức độ khác
nhau.
II.5. Nghiên cứu sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chất
lượng nước trên 4 hệ thống kênh chính tạo thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu do Trương Thanh Cảnh, Ngô Thị Trâm Anh, thuộc trường Đại
Học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM thực hiện trong năm 2006.
Ô nhiễm nguồn nước mặt là một trong những vấn đề môi tr
ường quan trọng
của TP. Hồ Chí Minh. Hiện nay để đánh giá chất lượng nguồn nước mặt người ta
thường sử dụng phương pháp đánh giá qua các chỉ tiêu lý hoá của nước. Phương
pháp này thể hiện một số nhược điểm như: Là phương pháp gián tiếp chỉ có thể
phản ánh tình trạng thủy vực ngay tại thời điểm lấy mẫu, khó có thể dự báo chính
xác về các tác động lâu dài c
ủa chúng đến khu hệ sinh vật nước. Trái lại, phương
pháp quan trắc sinh học khắc phục được một số hạn chế của phương pháp trên như
cung cấp các dẫn liệu về thời gian, tiện lợi trong sử dụng và cho kết quả nhanh, trực
tiếp về ảnh hưởng của hiện trạng ô nhiễm đến sự phát triển của hệ thống thủy sinh
vật. Trong nghiên cứu này đ
ã khảo sát thành phần động vật không xương sống
(ĐVKXS) cỡ lớn của 4 hệ thống kênh chính của TP. Hồ Chí Minh nhằm bước đầu
góp phần xây dựng hệ thống chỉ thị sinh học đánh giá chất lượng nước mặt trên TP.
Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện được 28 họ ĐVKXS cỡ lớn. Dùng
ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước của 4 hệ
thống kênh cho thấy nước kênh
bị ô nhiễm từ mức độ trung bình đến rất bẩn. Kết quả này phù hợp với việc đánh giá
chất lượng nước mặt thông qua các chỉ tiêu lý hoá.

Phân tích các chỉ tiêu môi trường nước mặt
Phạm vi nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu là bốn hệ thống kênh và sông chính trong thành phố
1. Kênh Tham Lương – Vàm Thuật
2. Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè
3. Kênh Đôi – Tẻ – Tàu Hủ – Bến Nghé
4. Hệ thống sông ở khu vực Nam Sài Gòn.
Mẫu nước lấy hai lần vào mùa mưa và mùa khô, tại 14 vị
trí. 4 điểm trên
kênh Tham Lương –Vàm Thuật, 3 điểm trên kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, 4 điểm -15 -
trên kênh Đôi – Tẻ – Tàu Hủ – Bến Nghé và 3 điểm trên khu vực Nam Sông Sài
Gòn.
Kết quả khảo sát về thành phần ĐVKXS cỡ lớn
Qua kết quả hai đợt khảo sát tại bốn hệ thống kênh khác nhau ở Thành phố
Hồ Chí Minh, đã ghi nhận được 29 họ ĐVKXS cỡ lớn, bao gồm:
- 19 họ thuộc 08 bộ của ngành Chân khớp (Arthropoda)
- 7 họ thuộc 02 lớp của ngành Thân mềm (Mollusca)
- 1 họ
thuộc phân lớp Đỉa (Hirudinea)
- 1 họ thuộc ngành Giun dẹp (Platythelminthes)
- Các đại diện của Giun ít tơ (Oligocheata) và Giun nhiều tơ (Polychaeta)
Kết quả cho thấy có sự khác biệt về thành phần họ giữa 02 mùa và về số
lượng cá thể ĐVĐKXS cỡ lớn. Số lượng cá thể ở các thủy vực cũng khác nhau rõ
rệt.
Như vậy, xét chung cho cả hai mùa, các hệ thống kênh rạch trong thành ph

có số họ hiện diện thấp và tập trung chủ yếu là các họ có khả năng chống chịu cao

c
trong 4 hệ thống kênh chính của TP. Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu cho thấy có thể dùng chỉ thị sinh học ĐVKXS cỡ lớn để đánh giá
mức đô ô nhiễm của các nguồn nước mặt tại TP. Hồ Chí Minh. Đây là phương pháp
có nhiều ưu điểm góp phần đa dạng hoá các phương pháp đánh giá chất lượng
nguồn nước mặt.
II.6. Đánh giá hiện trạng môi trường một số nhánh sông lư
u vực sông Cầu sử
dụng các loài thuỷ sinh
Khảo sát tiến hành tại năm vị trí trên lưu vực sông Cầu vào hai đợt tháng 6
và 11 năm 2006.
Cụ thể kết quả đánh giá qua các loài thuỷ sinh vật trong lưu vực như sau:
Thực vật thủy sinh (Macrophyte)

Qua nghiên cứu, đã xác định được 40 loài thực vật thủy sinh thuộc hai ngành
Thực vật Quyết (Pteridophyta) và ngành Thực vật có hạt (Spermatophyta) phân bố
trong các dạng thủy vực sông, suối, ao, hồ trong lưu vực sông Cầu. Thực vật thuỷ
sinh thường phân bố tại các khu vực nơi nước đứng, lòng sông, suối rộng, có các
bãi ngập nước diện tích lớn. Không thấy có nhóm thực vật nào phổ biến trong các
dạng thu
ỷ vực ngoại trừ một số loài rong như rong đuôi chồn vòng Myriophyllum
verticillatum L., rong đuôi chồn Myriophyllum spicatum L., rong đuôi chó
Ceratophylum demersum L. mọc tại các khu vực sông, suối nước chảy yếu Một số
loài như dừa nước Ludvigia repens L.: ngổ Limnophyla aromatica (L.): phỏng rạ
Hygroriza aristata (Retz.) Nees ex W. & Arn); rau bợ Marsilea quadrifolia L. mọc
ven sông, suối (nơi nước chảy chậm hoặc không chảy). Các loài thực vật thuỷ sinh
thuộc các họ
ráy Araceae, khoai lang Convolvulaceae, hoa tán Apiaceae như cây
khoai nước Colocassia esculenta, rau muống Ipomoea aquatic, rau cần nước
Oenanthe javanica… dân địa phương sử dụng làm thực phẩm, chăn nuôi gia súc

Nhóm tảo Mắt tại khu vực trạm 1, 2 và 5 cao hơn các trạm khác cho thấy các khu
vực này mức độ ô nhiễm là cao hơn các khu vực khác. Trong khi tảo Silic không
cao có th
ể thấy các khu vực này có xu hướng bị ô nhiếm hơn. Khi thuỷ vực bị ô
nhiễm, tính đa dạng và mật độ của quần xã tảo trong thuỷ vực bị biến đổi. Tại khu vực
không ô nhiễm, số lượng loài thường cao nhưng mật độ cá thể trong một loài lại thấp.
Ngược lại, quần xã tảo tại nơi ô nhiễm được đặc trưng bởi số lượng loài ít nh
ưng mật
độ cá thể lại cao hơn hẳn.
Động vật đáy (zoobenthos)

Tại các khu vực khảo sát, xác định được 20 loài động vật đáy thuộc các
nhóm Mollusca - Gastropoda, Mollusca- Bivalvia, Crustacea - Macrura,
Crustacea- Brachyura và một số nhóm ấu trùng Côn Trùng. Cũng như thành phần
loài, mật độ động vật đáy do hai nhóm trai, hến và nhóm ốc quyêt định. Hai nhóm
này thay nhau chiếm tỉ lệ quyết định mật độ số lượng đông vật đáy trên toàn khu
vực. Tại các trạm phía thượng du (trạm1, 2) nhóm ốc chiếm tỉ lệ
mật độ cao nhất và
quyết định mật độ đông vật đáy tại đây. Các trạm phía hạ du (3,4,5) mật đôg nhóm
trai hến lại khá cao, đôi khi chiếm tỉ lệ chính, quyết định mật độ động vật đáy. Mật -18 -
độ động vật đáy dao động từ 5 con/m
2
tại khu vực thượng nguồn đến đến 51 con/m
2
tại khu vực hạ nguồn (trạm 5) trong tháng 9. Trong khi đó vào thời điểm tháng 10,
mật độ động vật đáy lại thấp nhất tại trạm hạ nguồn (trạm 5) và cao nhất tại trạm ở
khu vực sông Cà Lồ.

mùa trong năm. Do đó có khả năng đánh giá chất lượ
ng nước hiệu quả hơn điểm
BMWP trong một số trường hợp. Tuy nhiên chỉ số này lại có nhược điểm là chỉ
phản ánh được ô nhiễm hữu cơ, ít có khả năng phản ánh về ô nhiễm các độc tố vì
không tính đến các đơn vị phân loại.
Kết hợp hai chỉ số trên có thể hạn chế nhược điểm của từng phương pháp
riêng biệt. ASTP thấ
p và điểm BMWP
VIET
thấp chỉ thị cho sự ô nhiễm hữu cơ. Nếu -19 -
ASTP cao hơn và chỉ số BMWP
VIETNAM
thấp sẽ chỉ thị cho môi trường bị ô nhiễm
do độc tố và các tác động vật lý. Căn cứ trên đó, các nhà nghiên cứu ở trường Đại
học Đà Nẵng đã phát hiện được 26 họ ĐVKXS cỡ lớn có trong bảng điểm
BMWPVIET; chất lượng môi trường nước mặt tại đây đã bị ô nhiễm từ mức “nước
bẩn vừa α” (α-Mesosaprobe)
đến “nước rất bẩn” (Polysaprobe).
II.8. Quan trắc sinh học thủy vực dòng sông Đu sử dụng nhóm động vật không
xương sống cỡ lớn
Cho đến nay ở nước ta, việc đánh giá chất lượng dòng chảy chủ yếu đều dựa
trên cơ sở quan trắc các chỉ tiêu lý, hóa. Đây là các thông số rất quan trọng nhưng
không đưa ra được các thông tin về ảnh hưởng của chất ô nhiễm đối với
đời sống
thủy sinh. Hơn nữa, các số liệu đo đạc lấy trong một thời điểm chưa hẳn đã đặc
trưng cho chất lượng môi trường của toàn bộ lưu vực.
Khắc phục "điểm yếu" này, trên thế giới từ nhiều năm qua đã tiến hành quan

với các thông số về lưu lượng nước, chỉ tiêu lý hóa trong nước tại các điểm quan
trắc. Kết quả quan trắc cho thấy, quần thể đa dạng sinh học đáy sông Đu phong phú
vào mùa mưa, đặc biệt ở thượng nguồn. Dựa vào đa dạng sinh học quần xã động vật
không xương sống cỡ lớn trên sông Đu có thể phân loại chất lượng môi trường tại
các đi
ểm nghiên cứu. Nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố lý hóa học trong nước
có liên quan mật thiết đến phân loại dựa trên quan trắc sinh học(đối với mùa mưa là
nồng độ kim loại nặng, hàm lượng N-NO
2
trong nước, mùa khô là hàm lượng P-PO
4

trong nước và hàm lượng Ni tơ trong trầm tích).
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa dạng sinh học sông Đu thấp hơn nhiều so
với đa dạng sinh học tại suối DakPri -DakLak thậm chí thấp hơn cả suối trong
Vườn Quốc gia Tam Đảo. Điều này không chỉ cảnh báo các cơ quan chức năng
quan tâm đến việc xử lý nguồn thải trên lưu vực sông Đu, mà là một minh chứng
cho quan đi
ểm áp dụng phương pháp đánh chất lượng dòng chảy trên các chỉ thị
sinh học với quan trắc hóa học có khả năng đưa ra những kết luận tổng hợp hơn về
ảnh hưởng của chất lượng nước đến hệ sinh thái. -21 -
KẾT LUẬN
Những hạn chế còn tồn tại khi nghiên cứu về bộ chỉ thị sinh học thủy vực có
thể áp dụng trên diện rộng như lựa chọn loại và các nhóm sinh vật chỉ thị: mới chỉ
có tính chất thử nghiệm, chưa mang tính hệ thống, còn tồn tại nhiều hướng và
trường phái về bản chất, khả năng ứng dụng về các loài động th
ực vật thủy sinh như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status