TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG Chuyên đề
Lựa chọn các tiêu chí cơ bản để xây dựng
bộ chỉ thị sinh học, đề xuất các chỉ thị
sinh học cho loại hình hệ sinh thái thủy vực
nước chảy của Việt Nam
(Thuộc mục “Đề xuất bộ chỉ thị sinh học cho loại hình hệ sinh thái
thuỷ vực nước chảy của Việt Nam phục vụ quan trắc môi trường
lưu vực sông”)
Người thực hiện: Hồ Thanh Hải
Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
i sử dụng có khả năng
đánh giá xem liệu diễn biến đó có phải là diễn biến như mong đợi hay không. Nếu
không có khả năng này, các dữ liệu đó cũng sẽ chỉ là dữ liệu mà thôi. Như vậy, một
kết quả đo đạc bất kì, về mặt nguyên tắc, có thể được sử dụng như một chỉ thị nếu có
sự liên hệ giữa thông số
đo đạc đó với một tiểu chuẩn môi trường về các mức độ tốt,
xấu. Tuy nhiên, thông số đó có thể trở nên một chỉ thị với chất lượng thấp. Thường thì
các chỉ thị là các hàm đơn giản hay phức tạp của các dữ liệu đo đạc đủ loại. Nói một
cách khác, nếu như so sánh với mục đích của các thông số được đ
o đạc một cách trực
tiếp, một chỉ thị phải có khả năng đại diện cho một hiện tượng mang tính tổng quát
hơn. Mô hình trong Hình 1 có thể minh hoạ mối liên hệ giữa dữ liệu và các chỉ thị.
Hình 1. Mô hình tháp dữ liệu và thông tin
Mức độ diễn giải,
phân tích và tổng
hợp thông tin
Chỉ số
Chỉ thị
Dữ liệu đã
đư
ợcxử lý
Dữ liệu thô
2
Lược giản và giảm bớt khối lượng thông tin là các bước rất cần thiết trong quá
trình xây dựng chỉ thị. Mức độ lược giản khối lượng thông tin sẽ phụ thuộc vào các
nhóm đối tượng sử dụng thông tin và mục tiêu phổ biển thông tin đối với từng chỉ thị
cụ thể. Việc giới thiệu và phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng đòi hỏi phải
có sự l
(mục tiêu): “khoảng cách tới đích”. Các chỉ thị đánh giá hoạt động phù hợp trong
Nång ®é Chlorophyll-a ®o t
¹
i c¸c tr
¹
m quan tr¾c miÒn Trung,
2000-2003
0
2
4
6
8
10
§Ìo Ngang §ång Híi Con Co ThuËn An §µ n½ng Dung QuÊt Sa Huúnh Quy Nh¬n
Stations
mg/m
3
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
3
trường hợp các nhóm hoặc cơ quan cụ thể nào đó phải chịu trách nhiệm về những
biến động áp lực và hiện trạng môi trường. Hầu hết các nước và các tổ chức quốc tế
hiện nay đều đang xây dựng các chỉ thị đánh giá hoạt động để theo dõi những tiến bộ
đạt được đối với các mục tiêu về môi trường. Những chỉ thị đánh giá ho
ạt động này
có thể liên quan tới các loại điều kiện/giá trị tham khảo khác nhau, ví dụ như:
• Các mục tiêu chính sách quốc gia;
• Các mục tiêu chính sách quốc tế được chính phủ các nước thừa nhận;
• Ước tính gần đúng mức độ bền vững.
5
10
15
20
25
30
35
1996 1997 1998 1999 2000 2001
mg/l
Red River, Hanoi Cam River, Haiphong
Huong River, Hue Saigon River. HCM City
National standard= 4mg/l
4
Các chỉ thị mang tính hiệu quả
Cần phải lưu ý là một số chỉ thị phản ánh mối quan hệ giữa các yếu tố riêng
biệt trong cả một chuỗi nguyên nhân. Những chỉ thị phù hợp nhất cho quá trình hoạch
định chính sách thường là các chỉ thị liên quan đến áp lực môi trường do các hoạt
động của con người gây ra. Các chỉ thị này thường giúp ta hiểu thấu đáo về hiệu quả
của các sản phẩm và quy trình. Hiệu quả về
mặt tài nguyên/nguồn lực đã sử dụng,
lượng khí và rác thải phát thải trên mỗi đơn vị tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Bên cạnh các chỉ thị về hiệu quả chỉ liên quan đến 1 tham biến, hiện cũng đang
tiến hành xây dựng các chỉ thị mang tính hiệu quả tổng hợp.
Các chỉ thị đánh giá tổng hợp
Cần phải có một số phép đo nhằm đánh giá tổng mức bền vững để có thể trả lời
cho câu hỏi về vấn đề này, ví dụ một dạng “GDP xanh” như Chỉ số thịnh vượng kinh
tế bền vững (ISEW). Các chỉ số được tính toán dựa theo các giả thiết ưu tiên là những
ví dụ về các chỉ thị có khả năng diễn đạt những thông đi
xét đến công chúng là đối tượng tiếp nhận thông tin chính, thì sẽ hợp lý hơn nếu đưa
vào các chỉ thị về hiện trạng hoặc tác động. Đồng thời, số lượng ch
ỉ thị cũng cần phải
được giới hạn với những chỉ thị được ưu tiên nhất.
I.3 Mục đích và việc sử dụng bộ chỉ thị
Khái niệm chỉ thị chỉ phù hợp trong mối tương quan với các mục đích cụ thể.
Những ví dụ quan trọng về mục đích của chỉ thị môi trường là:
Cung cấp thông tin, thông báo cho các chính trị gia, các nhà ho
ạch định chính sách
và công chúng nói chung. Các chỉ thị cho ba mục đích sẽ thường là khác nhau. Để
cung cấp thông tin cho các chính trị gia cần có chỉ thị đưa ra câu trả lời rõ ràng cho
các chính sách. Các câu hỏi chính sách thường là: Vấn đề đang diễn biến ra sao? và
tiến độ đạt được so với các mục tiêu đặt ra trong các chính sách có liên quan?
Việc cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý môi
trường cần bao gồm các khía cạnh sau:
i. hiện trạng môi trường nói chung trong đó bao gồm tất c
ả các yếu tố DPSIR;
ii. cảnh báo sớm, nhờ đó phát hiện kịp thời các vấn đề mới. Các câu hỏi đặt ra là:
Tình trạng ô nhiễm đã đến mức báo động hay chưa? Các vấn đề môi trường
trước đây chưa được quan tâm có ngày càng trở nên thiết yếu hay không?
iii. tiến độ so với mục tiêu đặt ra; Có thực sự đạt được các mục tiêu về môi trường
được đặt ra trong các chiế
n lược và kế hoạch hành động môi trường của chính
phủ hay không, hay chúng ta có đang tiến dần đến các mục tiêu đó hay không?
Việt nam đã phê chuẩn một số Hiệp định và Công ước quốc tế. Liệu chúng ta
có đang thực hiện đúng theo những nghĩa vụ quốc tế này hay không?
iv. tiến độ thực thi chính sách: Kết quả của các biện pháp và chính sách được thực
hiện với mục tiêu giải quyế
t các vấn đề môi trường cụ thể là gì?
v. hiệu quả của chính sách: So sánh hiệu quả hoạt động môi trường của Việt nam
Nâng cao nhận thức
Các chỉ thị có thể phục vụ mục đích tuyên truyền thông tin ví dụ thông qua các
chiến dịch, và theo cách này, các chỉ thị sẽ góp phần thay đổi hành vi con người theo
cách có lợi cho môi trường. Ở đây, điều quan trọng là các chỉ thị phải đơn giản, rõ
ràng và dễ cho thấy mối liên hệ nhân quả. Các chỉ thị có thể được coi như là các minh
hoạ
cho nội dung thông tin muốn chuyển tải. Cần có thông tin để tăng cường sự tham
gia của công chúng và ở đây chỉ thị có thể phục vụ một mục đích quan trọng. Cụ thể,
các chỉ thị có thể giúp nâng cao nhận thức nếu chúng có liên quan đến các hậu quả
của suy thoái môi trường: các vấn đề về sức khoẻ con người, nguồn tài nguyên cho
sinh kế của con người bị suy kiệt Việc theo dõi hiệu qu
ả và lợi ích của việc cộng
đồng tham gia bảo vệ môi trường có thể được thực hiện và quản lý thông qua việc xây
dựng các chỉ thị về vấn đề này (các chỉ thị đáp ứng).
Cần lưu ý rằng tuỳ thuộc vào bối cảnh cụ thể, một chỉ thị có thể phù hợp cho
một số mục đích cùng một lúc.
I.4 Chức năng của chỉ
thị và chỉ số môi trường
- Cho 1 cái nhìn tổng quan về sự tiến bộ
- Tập trung vào sự chú ý của công chúng
- Làm gia tăng sự quan tâm của lãnh đạo tới môi trường
7
- Khuyến khích sự thay đổi hành vi, định hướng hành động
- Khuyến khích tập trung vào sự phát triển bền vững hơn là vào tăng trưởng kinh
tế thuần túy.
- Hiệu quả thông tin: chúng giảm số lượng các chỉ số, thông số số mà cần có cho
việc trình bầy hiện trạng môi trường một cách bình thường
- Đơn giản hóa thông tin: chỉ thị và chỉ số môi trường làm đơn giản hóa quá trình
giao tiếp thông tin và thông qua chúng, các kết quả đo l
ng
trường hợp như vậy, định nghĩa mới cũng như sự khác nhau giữa định nghĩa mới và
định nghĩa trước đây cũng phải thật chính xác. Trong trường hợp có các giá trị biến
8
thiên theo thời gian của chỉ thị, ảnh hưởng của việc định nghĩa lại đối với việc diễn
giải các giá trị theo thời gian của chỉ thị cần được giải thích cụ thể.
Tính nhất quán
Cần xác định rõ ràng mối liên hệ giữa việc xây dựng các giá trị chỉ thị và
những diễn biến trên thực tế mà chỉ thị đó được xây dựng để giám sát. Nói một cách
khác: mỗi khi giá trị chỉ thị tăng lên, phải có thể diễn giải sự gia tăng đó theo cùng
một cách: có nghĩa là sự tăng lên đó luôn thể hiện một tình hình hoặc xấu đi, hoặc tốt
hơ
n.
Khả năng đáp ứng
Một chỉ thị phải có tính phản ứng cao đối với diễn biến mà chỉ thị đó được
dùng để đo lường. Điều này ít nhiều có liên quan đến kích thước mẫu và tính đại diện
của mẫu dữ liệu tạo nên chỉ thị.
Tính liên tục
Chỉ thị cần phải được cập nhật đều đặn để nó có giá trị như là một chỉ thị.
Tính sẵn có
Việc thu thập các dữ liệu tạo nên chỉ thị cần phải khả thi về mặt kỹ thuật cũng
như về mặt tài chính. Cần phải luôn so sánh tầm quan trọng của thông tin mà một chỉ
thị có thể cung cấp (nếu đạt được tiêu chuẩn về chất lượng) với chi phí thu thập các
dữ liệu cần thiết để xây dựng chỉ thị đó.
II. CÁC TIÊU CHÍ LỰA CHỌ
• Xác định mục đích thông tin đầu tiên cần có từ chỉ thị.
• Sử dụng mô hình DPSIR nh
ằm hỗ trợ cho việc xác định những chỉ thị mang tính
chiến lược nhất (với một số lượng ít nhất các chỉ thị có thể phục vụ nhiều nhất các
mục đích thông tin) để đạt được các mục đích thông tin trên. Để hỗ trợ cho quá
trình này, có thể đặt ra bốn câu hỏi chung sau: i) Vấn đề đang diễn biến như thế
nào? (có liên quan đến các chỉ thị về hiệ
n trạng); ii) Các ngành/ tác nhân/ quy trình
đang đóng vai trò như thế nào? (liên quan đến các chỉ thị về áp lực); iii) Các tác
động đang diễn biến như thế nào? (liên quan đến các chỉ thị về tác động); iv) tính
hiệu quả của các biện pháp đáp ứng? (liên quan đến các chỉ thị về đáp ứng).
• Kiểm tra lại tính sẵn có cuả các dữ liệu hiện tại và xem xét các khía cạnh liên quan
đến chất lượng chỉ thị.
•
Nếu cần, kiểm tra các khả năng cải thiện tính sẵn có của dữ liệu: các khả năng
trước mắt cũng như trong thời gian ngắn hạn.
• Lựa chọn các chỉ thị.
Tiếp theo đó, quy trình lựa chọn có thể được tiến hành theo những tiêu chí lựa chọn
chung sau, các tiêu chí này là kết quả của việc xem xét các vấn đề trong chương III về
mục đích chỉ thị và các khía cạ
nh liên quan đến chất lượng chỉ thị:
1.Tính phù hợp với chính sách:
được kiểm nghiệm qua việc xem xét tham khảo các
văn bản chính sách, các kế hoạch, luật định, v v
2.Giám sát tiến độ so với mục tiêu đề ra
: được kiểm nghiệm thông qua các thông tin
trong các văn bản chính sách. Trong trường hợp thiếu các mục tiêu, có thể sử dụng
mức ngưỡng.
3. Mức độ bao phủ về mặt không gian và thời gian
. Nhất quán về không gian và có
đề này cần được xem xét trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn. Trong
trường hợp dữ liệu không sẵn có trong ngắn hạn, có thể lựa chọn một chỉ thị biểu kiến
hoặc một chỉ thị thay thế khác và sau đó nên tiếp tục xem xét các khả năng thu thập
dữ liệu thích hợp trong thời gian dài hạn
Các tiêu chí lựa chọn, tính thích hợp của các tiêu chí lựa chọn cũng như mức
độ
quan trọng của các tiêu chí lựa chọn đã được xem xét. Các mục đích của chỉ thị
theo đó được tóm tắt thành 07 mục đích và các tiêu chí lựa chọn đối với từng mục
đích đã được xem xét đánh giá (Bảng 1). Các tiêu chí lựa chọn đã được sắp xếp theo
thứ tự ưu tiên (Bảng 2).
Bảng 1. Mục đích sử dụng chỉ thị môi trường được chia thành 7 loại sắp xế
p theo
các tiêu chí lựa chọn
Mục đích
Cung cấp thông tin cho các chính trị gia và các nhà hoạch định chính sách: Vấn đề
đang tiến triển như thế nào?
11
Cung cấp thông tin cho các chính trị gia và các nhà hoạch định chính sách: Các tiến
độ đạt được so với mục tiêu đề ra?
Cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách: Quy hoạch và dự báo nói
chung – mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và quản lý môi trường
Hoạch định chính sách: tiến độ thực thi chính sách
Hoạch định chính sách: hiệu quả của chính sách
Hoạch định chính sách: so sánh, so sánh dùng mức chuẩn (benchmarking)
Cung cấp thông tin cho cộng đồng: nâng cao nhận thức
Bảng 2. Xếp hạng các tiêu chí lựa chọn chỉ thị môi trường nói chung
A. Phù hợp về chính sách
B. Tính sẵn có của dữ liệu
- Tham khảo các nhóm vị trí sinh học được xác định dựa trên sự phân loại thu
từ những vùng tương tự.
- Những mối liên quan được phát triển giữa tính biến thiên của môi trường và
các nhóm sinh học.
- Sự dự báo được hình thành từ thành phần phân loại ở ở vị trí môi trường biến
đổi
- Những so sánh đượ
c tạo ra từ thành phần quần xã dự báo hay mong muốn với
vị trí kiểm tra và thông báo bằng các chỉ số chuẩn.
Một chỉ thị cảnh báo sớm có thể được mô tả như phản ứng sinh học, vật lý, hóa
học có thể đo lường được trong mối quan hệ với các tác động chống lại xảy ra trong
hệ đang quan tâm. Khái niệm nền tảng của chỉ thị cảnh báo sớm là cho nh
ững tác
động có thể được kháng lại, chỉ ra sự tấn công của những tác động đến môi trường
hiện tại. Cảnh báo sớm để tạo cơ hội cải tạo môi trường trước khi xảy ra những tác hại
nghiêm trọng.
Những thuộc tính lý tưởng của chỉ thị cảnh báo sớm được thảo luận rộng rãi ,
và được tổng hợp thành dạng đầy đủ như dướ
i đây:
• Phòng ngừa: xảy ra ở những mức bộ phận về mặt sinh học và sinh lý, đưa ra
chỉ thị về sự thoái hóa hoặc 1 vài dạng tác động biến đổi trước khi xảy ra những tác
hại nghiêm trọng cho môi trường.
• Nhạy cảm: trong việc phòng ngừa những tác động nghiêm trọng trước khi
chúng xảy ra, 1 chỉ thị cảnh báo sớm phải phải nhạy cảm với nồ
ng độ thấp, hoặc
những giai đoạn sớm lan tràn.
• Đặc trưng.
• Tính ứng dụng phổ biến: nói cách khác, 1 chỉ thị cảnh báo sớm cần dự đoán
tác động có thể xảy ra từ mức độ nhỏ các chất ức chế.
sẽ quan sát được, nhưng không thể mang lại cả 2 giá trị về thời gian và tác động. Sau
đó không phải tất cả các thuộc tính có được
ở mỗi nhân tố. Vì vậy, chọn lựa những
thuộc tính phù hợp hơn với mục đích riêng, những chỉ thị được chọn lựa dựa trên
những thuộc tính đó. Từ đó có định hướng để đưa ra các tiêu chí xây dựng bộ chỉ thị
sinh học.
Việc chọn lựa các chỉ thị cần dựa trên một số tiêu chí (sự sắp xếp không theo
thứ tự t
ầm quan trọng):
(1) Tính phù hợp với chính sách: được kiểm nghiệm qua việc xem xét tham
khảo các văn bản chính sách, các kế hoạch, luật định
14
Về mặt quản lý, các chỉ thị phải:
- Phù hợp với mục tiêu.
- Liên kết rõ ràng với kết quả đang giám sát.
- Được xây dựng với tất cả các yếu tố của quá trình quản lý.
- Là 1 phần của quá trình quản lý chứ không phải điểm kết thúc.
(2) Giám sát tiến độ so với mục tiêu đề ra: được kiểm nghiệm thông qua các
thông tin trong các văn bản chính sách. Trong trường hợp thi
ếu các mục tiêu, có thể
sử dụng mức ngưỡng cho phép.
(3) Mức độ bao phủ về mặt không gian và thời gian. Nhất quán về không gian
quốc gia hay các tỉnh/thành phù hợp đối với một vấn đề môi trường nhất định. Chỉ thị
bao phủ đủ một khoảng thời gian để có thể cho thấy xu hướng theo thời gian. Thông
thường chuỗi số liệu được đánh giá xác định trong khoảng thời gian 5 nă
m (tính đến
thời điểm số liệu được cập nhật tại năm đó)
(4) Phù hợp với cấp độ quốc gia hay cấp tỉnh/thành, mang tính đại diện cho
các địa phương hoặc cấp khu vực nhằm hỗ trợ việc so sánh.
Trong trường hợp dữ liệu không sẵn có trong ngắn hạn, có thể lựa chọn một chỉ thị
biểu kiến hoặc một chỉ thị thay thế khác và sau đó nên tiếp tục xem xét các khả năng
thu thập dữ liệu thích hợp trong thời gian dài hạn. Cần chú ý đến dữ liệu có chất
l
ượng và bao quát về không gian và thời gian.
Từ những tiêu chí trên cần sắp xếp theo thứ tự tầm quan trọng của chúng, dựa
trên chính sách, đường lối chỉ đạo của tổ chức chính quyền và nhà chỉ đạo.
IV. ĐỀ XUẤT TIÊU CHÍ CHỌN LỰA SINH VẬT CHỈ THỊ THEO ĐIỀU
KIỆN VIỆT NAM
Như đã trình bày trong các khái niệm về sinh vật chỉ thị. Có thể phân biệt hai
nhóm sinh vật sử dụng làm chỉ
thị môi trường gồm có những đặc tính:
• Có tính nhạy cảm hoặc chống chịu
• Có khả năng tích tụ chất gây ô nhiễm.
Từ những kinh nghiệm đã được nghiên cứu áp dụng, các nhóm, loài sinh vật
chỉ thị môi trường nói chung cần thoả mãn các tiêu chí cơ bản như sau:
Nhóm loài sinh vật chỉ thị môi trường
- Dễ thu mẫu ngoài thiên nhiên, có số lượng nhiều, kích thước vừa phải
-
Ổn định về phân loại học.
- Có khoá định loại tốt, đã được định loại rõ ràng.
- Nhiều đặc trưng dễ nhận biết: những loài sinh vật chỉ thị có đặc trưng dễ nhận
biết sẽ giúp cho người thực hiện quan trắc nhưng không có nhiều kiến thức chuyên
sâu về sinh học có thể nhận dạng và xác định được loài chỉ thị cần quan trắ
c.
- Phân bố rộng rãi (tối ưu là phân bố toàn cầu): loài sinh vật phân bố rộng rãi là
loài có khả năng thích ứng cao với nhiều điều kiện môi trường.
- Phổ biến và phong phú ở địa phương và ở tất cả thời gian
- Có nhiều dẫn liệu về đặc điểm sinh học và sinh thái cá thể của đối tượng qua
thử nghiệm sinh học.
và đương nhiên phải dung hoà để chọn được loài có thể sử dụng làm sinh vật tích tụ
trong các chương trình giám sát ô nhiễm. Hiện có hai cách khác nhau mà qua chúng
các sinh vật tích tụ được khai thác. Quan trắc thụ động đối với tình trạng nơi những
sinh vật bản địa được thu mẫu từ những nơi cư trú đặc biệt để phân tích hoá học mô
của chúng. Quan tr
ắc sinh học chủ động gồm sự tìm kiếm nơi ở và phơi nhiễm thận
trọng các sinh vật thường thu được từ vùng không ô nhiễm. Tính ưu việt của sử dụng
các phương pháp quan trắc sinh học chủ động là khả năng sử dụng các sinh vật từ
cùng nguyên liệu di truyền gốc tại nhiều điểm.
Nhiều loài có thể sử dụng làm sinh vật quan trắc sinh học, mộ
t số trong chúng
là nguồn thực phẩm cho người. Trong các hệ sinh thái nước, cần nhấn mạnh tới việc
17
sử dụng thực vật lớn (Macrophytes) và động vật thân mềm như các sinh vật tích tụ do
chúng đáp ứng được nhiều tiêu chí đã liệt kê ở trên.
Từ những phân tích trên, các tiêu chí lựa chọn sinh vật chỉ thị và sinh vật tích
tụ mới dừng ở ở mức sử dụng loài chỉ thị nhằm đánh giá chất lượng môi trường nói
chung, môi trường nước nói riêng. Việc sử dụng loài sinh vật chỉ
thị cho tới nay cũng
chỉ dừng ở mức độ đánh giá chất lượng môi trường một cách định tính. Mặt khác, việc
xác định chính xác sự hiện diện của một loài hoặc một số loài thuỷ sinh vật có mặt
hoặc không có mặt trong vực nước đòi hỏi phải có kiến thức phân loại học khá sâu,
nhất là với các nhóm động vật KXS có kích bé như động vật nổi, trùng bánh xe. Bởi
vậy, trong thực tế ở nhiều nước, đã sử dụng quần xã sinh vật chỉ thị bao gồm nhiều
nhóm động vật thuỷ sinh khác nhau với bậc phân loại (taxon) thấp nhất là họ (family)
nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho nhân viên quan trắc môi trường.
IV. KẾT LUẬN
Từ những lý do đó, để phù hợp với tính hình thực tế ở Việt Nam, tiêu chí cho
việc xây dựng bộ sinh vậ