SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC PHÂN MÔN
LÀM VĂN TRONG CHƢƠNG TRÌNH THPT"
1
2
A. Đặt vấn đề
I. Lí do chọn đề tài
Môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc rèn luyện kĩ năng nói, viết, nghe,
đọc; góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, hình thành nhân cách cho học sinh, hướng tới
những tình cảm tốt đẹp như lòng nhân ái, tôn trọng lẽ phải, sự công bằng…Vì thế, việc
đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung và phân môn Làm văn nói riêng càng
được đặt ra như một vấn đề cấp bách. Dạy học làm sao để phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập
và ý chí vươn lên.
Là một giáo viên dạy môn Ngữ văn ở trường THPT, tôi luôn trăn trở làm gì, làm như thế
nào để nâng cao hiệu quả dạy học phần Làm văn, bởi nhiều lẽ:
+ Thứ nhất là bởi dạy văn là công việc rất khó, dạy Làm văn lại càng khó hơn.Vì dạy văn
là một khoa học, đồng thời cũng là một nghệ thuật. Dạy Văn suy cho cùng là hướng tới
đích: Giải mã văn bản của người và tạo lập văn bản của mình. Nếu trò không biết cách
tạo lập được văn bản thì coi như không “tiêu hóa” được kiến thức của hai phân môn Văn
3
học và Tiếng Việt. Con tằm ăn lá dâu để nhả ra tơ hay nhả ra lá dâu là được quyết định ở
II. Phạm vi, đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu
1. Phạm vi đề tài
5
Phương pháp để dạy học phần Làm văn sao cho đạt chất lượng, hiệu quả cao đã có không
ít những công trình nghiên cứu từ xưa đến nay, từ chương trình cũ cho đến chương trình
đổi mới. bản thân tôi cũng không dám chắc mình đã nắm được hết, thấu tỏ mọi nhẽ về
phương pháp dạy Làm văn. Song với tâm huyết của mình và trong khuôn khổ của một
sáng kiến kinh nghiệm, tôi chỉ xin bàn một số giải pháp cụ thể mà tôi đã áp dụng trong
quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT Hậu Lộc I.
2. Đối tƣợng nghiên cứu: Phân môn Làm văn trong chương trình Ngữ văn ở THPT
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp thống kê, phân loại, so sánh, phân
tích, tổng hợp.
B. Giải quyết vấn đề
I. Thực trạng dạy và học phân môn Làm văn ở THPT
1. Nội dung chƣơng trình
6
+ Tỉ lệ tiết dạy Làm văn trong chương trình khá nhiều, chiếm hơn 1/3 dung lượng của
môn Ngữ văn. Cụ thể, ở chương trình Cơ bản, lớp 10 có 35/105 tiết, lớp 11 có 37/123
tiết, lớp 12 là 31/105 tiết; ở chượng trình Nâng cao, lớp 10 có 43/140 tiết, lớp 11 có
46/140 tiết, lớp 12 là 51/140 tiết. Các tiết Làm văn được bố trí xen kẽ với các tiết Văn
học và Tiếng Việt theo chủ trương tích hợp ba phân môn trong môn Ngữ văn. Đó là một
chủ trương đúng đắn, phù hợp và đã phần nào phát huy được thế mạnh của bộ môn.
Song, sự chẻ nhỏ các tiết Làm văn cũng khiến giáo viên gặp khó khăn khi bao quát, hệ
ơ, đối phó, qua loa cho xong. Ở các tiết trả bài, các trò chỉ lo lắng, quan tâm đến điểm số
mà ít chú ý đến đọc lời phê của thầy cô.
Từ thực trạng trên, tôi thiết nghĩ cần phải có cách dạy phù hợp để sao cho nâng cao hiệu
quả phần Làm văn trong chương trình.
II. Giải pháp khắc phục
1. Nắm chắc mục đích và nội dung chƣơng trình phân môn Làm văn ở THPT.
Có thể thấy quan điểm sáng tác văn chương của chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vãn còn
nguyên giá trị. Trước khi viết, Người thường đặt ra các câu hỏi “Viết cho ai?” “Viết làm
gì?”, từ đó mới xác định “Viết cái gì?”, “Viết như thế nào?”. Thiết nghĩ, dạy học làm văn
cũng phải như vậy. Trước khi xác định cách dạy sao cho hiệu quả nhất, theo tôi cần phải
nắm chắc dạy phần Làm văn nhằm mục đích gì? Để đạt được mục đích ấy, nội dung
chương trình của cả cấp học đã kết cấu như thế nào?
1.1. Mục đích của phân môn Làm văn
9
Phân môn Làm văn ở THPT có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh kiến thức về các
kiểu loại văn bản. Từ đó các em biết cách tạo lập các kiểu văn bản ấy trong nhà trường
cũng như trong cuộc sống. Như vậy, đích hướng tới là dạy học sinh làm văn chứ không
phải dạy một môn khoa học nghiên cứu về làm văn; dạy học sinh tạo lập văn bản một
cách thành thạo chứ không phải dạy các em trở thành nhà thơ, nhà văn.
Vậy, học làm văn để làm gì? “Mục đích của phần làm văn trong nhà trường là
giúp người học biết suy nghĩ trước một vấn đề văn học, xã hội hay một hiện tượng trong
cuộc sống và biết diễn đạt, trình bày những suy nghĩ đó một cách sáng sủa, rõ
ràng…Học làm văn là học cách rèn luyện để có cả hai khả năng: biết nghĩ và biết diễn
đạt suy nghĩ”(Ngữ văn 12, Nâng cao, tập 2, trang 206)
1.2. Nội dung chƣơng trình phân môn Làm văn
Môn Ngữ văn là môn học tích hợp. Do đó nội dung kiến thức, kĩ năng giữa ba phần
Văn học, Tiếng Việt và Làm văn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được sắp xếp đan
- Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh
- Tóm tắt văn bản thuyết minh
+ Văn nghị luận có các bài như:
- Đề văn nghị luận
- Luận điểm trong văn nghị luận.
12
- Lập dàn ý bài văn nghị luận
- Lập luận trong văn nghị luận
- Các thao tác nghị luận
- Luyện tập viết đoạn văn nghị luận
* Lớp 11:
Phần Làm văn tập trung vào các thao tác nghị luận chưa học như: Lập luận phân
tích, lập luận so sánh, lập luận bác bỏ và lập luận bình luận. Bốn thao tác được chia đều
cho hai học kì và thao tác nào cũng được luyện tập cả về nghị luận xã hội, nghị luận văn
học. Cuối cùng là vận dụng kết hợp các thao tác lập luận đó.
Ngoài ra, ở lớp 11 các em còn được học cách tóm tắt văn bản nghị luận.
* Lớp 12:
Phần Làm văn tập trung vào tổng kết, củng cố các dạng bài nghị luận và kĩ năng hoàn
chỉnh bài văn:
13
+ Nghị luận xã hội với ba dạng bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về
một hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học.
+ Nghị luận văn học với ba dạng chủ yếu: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; nghị
luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi và nghị luận về một ý kiến bàn về văn
thống hóa kiến thức, kĩ năng xuyên suốt từ bậc THCS lên THPT. Vì vậy, khi dạy những
bài này, giáo viên nên gợi dẫn để học sinh nhớ lại kiến thức và kĩ năng đã có, trên cơ sở
đó nâng cao thêm. Hơn nữa có thể sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực “Bản
đồ tư duy” để giúp học sinh nhớ dễ dàng và lâu hơn.
Như vây, nhìn vào mục đích và nội dung chương trình, chúng ta có thể thấy: Nếu
thầy và trò dạy tốt và học tốt phần Làm văn thì các em sau khi ra trường có thể tạo lập
các văn bản một cách thành thạo là điều không khó. Thế nhưng, vì sao học nhiều như vậy
mà trò vẫn tạo ra nhiều sản phẩm gây “sốc” trong dư luận? Điều đó phần lớn liên quan
đến phương pháp dạy học. Từ cái nhìn tổng thể về nội dung chương trình của phân môn
kết hợp với kiến thức, công cụ lí luận, điều kiện thực tế của trường, tôi hình thành cho
mình phương pháp dạy phù hợp, hiệu quả. Đó là phân các bài học theo nhóm và tìm ra
phương pháp dạy phù hợp với từng kiểu bài.
2. Phân loại và cách dạy từng nhóm bài
2.1. Phân loại
16
Từ cấu trúc nội dung chương trình của phân môn Làm văn, tôi chia thành bốn
nhóm bài như sau:
-
Nhóm bài lí thuyết về làm văn
-
Nhóm bài luyện tập, rèn kĩ năng
vừa học xong(như Vợ chồng A Phủ tiết 55, 56 hoặc Vợ nhặt tiết 60, 61). Điều đó sẽ vừa
giúp cho việc khảo sát ngữ liệu nhanh chóng, thuận lợi vừa phục vụ trực tiếp cho việc ôn
tập những tác phẩm quan trọng trong nội dung ôn thi cuối cấp.
Ở tiết 84 Diễn đạt trong văn nghị luận, thay vì sử dụng ngữ liệu là một đoạn văn của
Xuân Diệu trong Lời tựa cho tập “Lửa thiêng”, tôi chọn những đoạn văn tiêu biểu trong
18
bài làm của trò. Điều đó sẽ tránh cho học sinh sự xa lạ, khó hiểu, “hàn lâm” và tăng sự
gần gũi, sinh động, thiết thực của tiết học
+ Bước 2: Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu
Ở bước này, học sinh tiến hành phân tích, xử lí ngữ liệu theo yêu cầu của giáo viên
dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập. Giáo viên có thể dựa vào gợi dẫn trong sách giáo khoa để
tạo lập hệ thống câu hỏi khai thác thông tin, xử lí ngữ liệu một cách chi tiết, cụ thể và phù
hợp nhất. Trong khâu này, học sinh cần phát huy tính tích cực, tự tìm hiểu, tự phân tích
và rút ra nhận xét mang tính cá nhân. Với giáo viên không nên chỉ chú ý đến kết quả phân
tích, xử lí ngữ liệu mà còn giúp các em hình thành và rèn luyện cách phân tích và xử lí
thông tin
+ Bước 3: Tổ chức học sinh trao đổi, thảo luận
Giáo viên gọi cá nhân hoặc tổ nhóm trình bày cụ thể kết quả đã tìm hiểu
được, đồng thời biện giải cơ sở, con đường đi đến kết quả đó. Ở phần này, giáo viên nên
khuyến khích động viên các em tranh luận, phản biện về các vấn đề, nội dung mà bạn
khác đã nêu ra theo gợi dẫn. Như vậy, sẽ vừa giúp các em rèn luyện khả năng lập luận,
19
nói trước tập thể vừa tìm ra nội dung bài học mà giáo viên không phải quá “khó nhọc”.
Đồng thời, qua đó, các em cũng tự rút ra kết luận cho chính mình.
+ Bước 4: Bổ sung, điều chỉnh và chốt
21
trong sách giáo khoa thì các bài làm văn của các em là những bài tập sinh động, thiết
thực.
2.2.3. Nhóm bài kiểm tra và trả bài
a. Kiểm tra
Một trong những nguyên nhân khiến học sinh ngại làm văn, thậm chí mỗi khi
chuẩn bị đến giờ làm văn là các em cảm thấy nặng nề như sắp phải “chịu đòn tra tấn” là ở
đề văn. Khi trò phải ngồi cắn bút trước một đề văn vừa dài vừa khó, nặng về tái hiện kiến
thức, không kích thích hứng thú làm bài thì khó có thể đòi hỏi một bài văn hay. Vì vậy,
theo tôi cần đổi mới cách ra đề, lưu tâm loại đề mở để học sinh được phát huy cá tính
sáng tạo. Dù khó khăn nhưng nên cố gắng ra đề sao cho vừa lạ vừa quen, giừa chất văn
lại có thể phân hóa được đối tượng và gắn với thực tiễn ở trường, ở lớp. Ví dụ như một số
đề sau:
+ Đề 1: Em nghĩ gì về phong trào chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong
giáo dục ở trường, lớp em?
22
+ Đề 2: Dân gian có câu: “Ở hiền gặp lành”. Nhương nam cao lại cho rằng: “hiền” chỉ
kém “hèn” một chữ “i” thôi! Em suy nghĩ gì về điều này.
+ Đề 3: Trong tác phẩm “Chí Phèo”, nhà văn Nam Cao đã miêu tả Thị Nở là một người
đàn bà vừa xấu, vừa nghèo, vừa dở hơi lại có dòng giống mả hủi. Vậy mà có người lại
cho rằng Thị là người thông minh, nhân hậu, đẹp nhất làng Vũ Đại.
Suy nghĩ của em về những ý kiến trên.
+ Đề 4: Cùng nói về cái đói, cái nghèo nhưng ở “Vợ nhặt” của Kim Lân, ta thấy cái đói
đã se duyên cho một mối tình, cái nghèo lại làm nên điều kì diệu. Còn ở “Chiếc thuyền
ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, ta lại thấy cái nghèo sẽ sinh ra tội ác và là căn
dù là nhỏ nhất để động viên khích lệ các em. Không nên dùng những lời nhận xét chung
chung, ít bổ ích, chỉ mang tính xếp loại. Khi cho điểm, cần chú ý đến tương quan giữa nội
dung lời phê và điểm số. Giáo viên chấm bài làm văn thực chất là đánh giá, là “đo” năng
lực nhận thức và vận dụng kiến thức, kỹ năng các phân môn Làm văn, Văn học, Tiếng
Việt của học sinh để giải quyết vấn đề do đề bài đặt ra. Việc đánh giá này được thực hiện
bằng “bộ công cụ” là đáp án và biểu điểm cho từng tiêu chí cụ thể trong đáp án mà giáo
viên xây dựng trên cơ sở yêu cầu của đề bài.
Ngoài ra, do tính đặc thù của bài làm văn là mang dấu ấn cá nhân, thể hiện ở những cảm
nhận, phân tích, lý giải, đánh giá vấn đề, nhất là với những học sinh có năng khiếu, nên
giáo viên cần quan tâm đến độ mở khi xây dựng đáp án, biểu điểm chấm bài làm văn.
Điều đó không chỉ đánh giá đúng năng lực mà còn kích thích sự tìm tòi, bày tỏ quan điểm
cá nhân của học sinh, tạo hứng thú cho các em khi đối diện với một đề bài mới, lạ.
25