TÊN ĐỀ TÀI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 1
1
Nghệ An 4/2013
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
PHẦN I: MỞ ĐẦU 3
PHẦN II: NỘI DUNG 5
Bước 1: Hướng dẫn học sinh đọc kỹ đề toán , phân -ch đề và 0m cách giải 6
Bước 2: Trình bày bài giải 8
PHẦN III: KẾT LUẬN 18
2
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Trong chương trình toán tiểu học, giải toán có lời văn được đưa vào dạy lớp
1 từ đầu học kì II, tuần 22. Đây là kiến thức rất quan trọng làm cơ sở để các em
học tốt các bài toán hợp sau này.
Đối với mạch kiến thức: Giải toán có lời văn” là một trong năm mạch kiến
thức cơ bản xuyên suốt quá trình Tiểu học.Thông qua giải toán có lời văn, các em
được phát triển trí tuệ, rèn luyện kỹ năng tổng hợp; đọc,viết, diễn đạt, trình bày,
tính toán. Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán
học, các em sẽ được giải các bài toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình
học và đo đại lượng.Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời
sống, giữa toán học và các môn học khác.
Thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 1 năm học 2002-2003 về giải
toán có lời văn có những đổi mới như sau:
Ở chương trình lớp 1 cũ, học sinh được học giải bốn dạng toán đơn về cộng
trừ là "Thêm- bớt- nhiều hơn- ít hơn". Trong chương trình mới , nội dung kiến thức
chế, chưa hiểu cách trình bày bài giải.
Do học sinh không đọc kĩ đề, phân tích đề để tìm ra câu giải, phép tính, cụ
thể như sau:
- Học sinh chép lại đề, trình bày câu giải chưa đúng: 9 em
- Số học sinh giải sai: 14 em
- Chỉ có 11 em giải đúng
Vì vậy tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh ngiệm nhằm giúp học sinh nhận biết
thêm một số cách phân tích đề, tìm ra cách giải, giúp các em khắc phục phần nào
những hạn chế trong khi giải toán có lời văn.
4
PHẦN II: NỘI DUNG
Qua giảng dạy và nghiên cứu tài liệu, tôi đã hưỡng dẫn học sinh cách giải
toán có lời văn được trình bày theo các bước như sau :
- Hướng dẫn học sinh đọc kĩ đề toán, phân tích đề và tìm cách giải
- Trình bày bài giải
- Kiểm tra và đánh giá
Khi dạy bài mới, tôi đã hưỡng dẫn học sinh một cách rõ ràng từ quan sát
tranh nêu được đề toán và biết viết phép tính đúng , trả lời miệng sau dần học sinh
đọc đề toán, điền số vào dữ kiện bài toán rồi điền từ vào chỗ câu hỏi (còn trống) để
biết được bài toán.
- Đã cho biết gì ?
- Cần phải tìm gì ?
Sau đó giúp các em đọc đề toán, điền số vào tóm tắt của bài toán và trả lời các
câu hỏi ( nhiều cách trả lời ).
* Đối với giáo viên
- Bản thân giáo viên phải chịu khó nghiên cứu tài liệu để tìm ra phương pháp
dạy dễ hiểu từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề được giải đáp thích hợp, rõ ràng và
học sinh dễ dàng chấp nhận
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải biết lắng nghe, giải thích những vấn
đề chất vấn của học sinh đưa ra, đòi hỏi giáo viên trình bày bằng ngôn ngữ mạch
- Nga có 8 quả bóng Nga cho bạn 2 quả bóng
Bài toán hỏi gì?
- Nga còn lại mấy quả bóng ?
Muốn biết Nga còn lại mấyquả bóng, ta làm thế nào ?
- Lấy số bóng Nga có trừ số bóng Nga cho bạn
Vì sao lại thực hiện phép tính trừ ?
-Vì Nga cho bạn 2 quả, tức là bớt đi số bóng của Nga
Ví dụ 2:
Nhà An có 5 con gà , mẹ mua thêm 4 con gà nưã. Hỏi nhà An có tất cả mấy
con gà ?
Bài toán cho biết gì ?
- Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà nữa.
Bài toán hỏi gì ?
- Nhà An có tất cả mấy con gà?
Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà thì làm thế nào ?
- Lấy số gà nhà An có cộng số gà mẹ mua thêm.
Vì sao lại thực hiện phép tính cộng ?
6
- Vì mua thêm 4 con tức là cộng thêm 4 con gà.
Ví dụ 3:
Đàn vịt có 5 con dưới ao và 4 con ở trên bờ. Hỏi đàn vịt có tất cả mấy con?
Bài toán cho biết gì ?
- Đàn vịt có 5 con ở dưới ao và 4 con ở trên bờ
Bài toán hỏi gì ?
- Đàn vịt có tất cả mấy con?
Muốn biết đàn vịt có tất cả mấy con, ta làm thế nào?
- Lấy số con vịt dưới ao cộng với số con vịt trên bờ
Vì sao lại thực hiện phép tính cộng?
- Vì tìm tổng số đàn vịt.
Ví dụ 4 :
Vì sao lại thực hiện phép cộng
-Vì tìm tổng số học sinh của lớp 1A
Nêu mẫu ứng dụng về ví dụ bằng cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu những
vấn đề đã cho, những điều cần phải tìm, từ đó giải được bài toán.
Ví dụ :
Nêu câu hỏi
- Bài toán cho biết gì ?
- Bài toán hỏi gì?
- Học sinh trả lời miệng.
Trong quá trình phân tích đề toán , học sinh tự đọc đề toán , giáo viên hướng
dẫn học sinh tìm hiểu đề bài và tìm ra cách giải.
Khi học sinh giải bài toán ,giáo viên cần giúp đỡ các em còn chậm ,chưa
hiểu cách làm bài, dẫn dắt cụ thể, tỷ mỷ để các em tự giải được bài tập.
Bước 2: Trình bày bài giải
Cụ thể coi việc trình bày bài giải là trình bày một sản phẩm của tư duy. Thực
tế hiện nay các em học sinh lớp 1 trình bày bài giải rất hạn chế, kể cả học sinh khá
giỏi. Vì vậy cần rèn cho học sinh thói quen trình bày bài giải một cách chính xác,
khoa học, sạch đẹp dù ở trong giấy nháp, bảng lớp, bảng con, vở ghi, hay giấy
kiểm tra. Cần hướng dẫn học sinh trình bày bài giải như sau:
Trình bày bài giải có 3 phần:
+ Câu trả lời (Dựa vào câu hỏi để ghi câu trả lời)
+ viết phép tính
+ Viết đáp số
8
Trình bày bài giải cần hướng dẫn học sinh cụ thể, khuyến khích học sinh đặt
câu giải theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như bài toán sau:
Hà có 4 quả bóng , Nga có 3 quả bóng. Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng ?
Học sinh có thể đặt câu giải theo nhiều cách khác nhau:
+ Cả hai bạn có
+ Hai bạn có
15 +10 = 25 (bông)
Đáp số: 25 bông
Cách 2:
Bài giải
Cả hai bạn hái được là:
15+10=25 (bông)
Đáp số: 25 bông hoa
Cách 3
Baì giải
Số bông hoa hai bạn hái được là:
15 + 10 = 25 (bông)
Đáp số: 25 bông hoa
Cách 4:
Bài giải
Hai bạn hái được số bông hoa là
15 + 10 = 25( bông)
Đáp số: 25 bông hoa
Với những bài toán có kèm đơn vị đo đại lượng, học sinh thường quên viết
đơn vị đo đại lượng vào phép tính, đáp số.
Ví dụ:
Mơ có sợi dây dài 72 cm, Mơ cắt bớt đi 32 cm. Hỏi sợi dây còn lại dài bao
nhiêu xăng ti mét?
10
Bài giải
Sợi dây còn lại dài là:
đo của số đo độ dài là cm, lưu ý cách diễn đạt cho học sinh.
Đối với bài toán có kèm đơn vị đo thời gian, tuần lễ, ngày, các em thường hay
nhầm giá trị đơn vị liền trước và đơn vị liền sau. Các em thường lấy 1 tuần cộng 1 ngày
bằng 2 ngày hoặc 2 tuần cho nên trước khi giáo viên hướng dẫn học sinh đưa về cùng
một đơn vị đo rồi mới giải.
Ví dụ:
Em được nghỉ tết 1 tuần lễ và 2 ngày. Hỏi em được nghỉ tết mấy ngày?
Học sinh thường làm như sau:
Bài giải
Số ngày em được nghỉ tết là
1 + 2 = 3 ( ngày)
Đáp số: 3 ngày
Hoặc:
Bài giải
Số ngày em được nghỉ tết là
1 + 2 = 3 ( tuần)
Đáp số: 3 tuần
Bài giải
12
Đổi 1 tuần lễ = 7 ngày
Số ngày em được nghỉ tết là:
7 + 2 = 9 ( ngày)
Đáp số: 9 ngày
Ví dụ:
Bố em được nghỉ phép 1 tuần lễ và 3 ngày. Hỏi bố em được nghỉ phép mấy
ngày?
Bài giải
Số ngaỳ bố em được nghỉ phép là:
1 +3 = 4 ( ngày)
Đáp số: 6 ngày
20 +10 = 30 ( cái bát )
Đáp số: 30 cái bát
Ví dụ 2:
Quyển truyện có 42 trang. Mai đã đọc 2 chục trang . Hỏi quyển truyện còn bao
nhiêu trang chưa đọc ?
Một số học sinh thường nhầm lẫn:
Bài giải
Số trang truyện chưa đọc là :
42- 2 = 40 (trang)
Đáp số: 40 trang
Do đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
Bài giải
Đổi 2 chục trang = 20 trang
Số trang truyện chưa đọc là :
14
42 -20 = 22 (trang)
Đáp số : 22 trang truyện
Ví dụ3 :
Nam có 25 nhãn vở, Nam cho bạn 1 chục nhãn vở. Hỏi Nam còn lại bao nhiêu
nhãn vở?
Học sinh thường nhầm:
Bài giải:
Nam còn lại số nhãn vở là:
25- 1 = 24( nhãn vở)
Đáp số: 24 nhãn vở
Cần hướng dẫn học sinh:
Bài giải
Đổi 1chục nhãn vở = 10 nhãn vở
Nam còn lại số nhãn vở là:
25 – 10 = 15 ( nhãn vở)
- Giáo viên phải biết liên trì, chờ đợi kết quả làm việc của các em. Tránh nóng
ruột, sợ hết thời gian, dẫn đến làm hộ, Khi học sinh vướng mắc, Giáo viên
tìm cách gợi mở định hướng nhẹ nhàng sao cho cá em có không khí học tập
nhẹ nhang, vui tươi. Thái độ tích cực của giáo viên cũng có tác dụng khuyến
khích các em học tập tốt.
- Khi các em đã hoạt động tích cực và khám phá được tri thức mới , giáo viên
nên công nhận ngay cho các em, tránh nói lại gây nhàm chán.
Ví dụ: Khi cho học sinh quan sát, các tranh vẽ bài 84, 85 tôi đã cho học sinh được
chính mình quan sát, theo định hướng của cô giáo.
Yêu cầu học sinh quan sát và cho biết Bức tranh vẽ gì?
Tôi dành đủ thời gian cho các em quan sát 1-2 phút sau đó 1 số học sinh tự nêu ý
kiến của mình
Sau đó, tôi hỏi:
Em nào có ý kiến khác?
Ai đồng ý với ý kiến của bạn?
Nếu ý kiến của các em nêu là đúng dó chính là kiến thức các em cần chiếm lĩnh,
Giaó viên không phải nói lại.
Nếu có ý kiến sai ,tôi gợi ý để các em tự điều chỉnh rồi kiểm tra lại.
Trong quá trình giảng dạy, khi hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, cách phân
tích đề bài và trình bày bài giải đã làm cho học sinh có thói quen trình bày bài giải
đúng. Đặc biệt là các bài toán liên quan đến đo đạc, đại lượng và đơn vị đo thời
16
gian một cách khoa học đưa đến hiệu suất giờ học cao hơn. Kết quả thu được qua
khảo sát sau khi hướng dẫn học sinh giỏi toán có lời văn như sau:
Số học sinh
tham gia
khảo sát
Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm 1-4 TB trở lên
TS % TS % TS % TS % TS %
25 10 40 5 20 9 32 1 4 19 96
4. Sách vui học toán.
5. Báo giáo dục và thời đại.
6. Chuyên đề giáo dục tiểu học.
7. Tham khảo một số tài liệu khác.
19