Khóa luận ý nghĩa biểu tượng muối và gừng trong ca dao người Việt SV Quách Thị Diệu Hiền Sp Văn K12 - Pdf 40

LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn cô giáo, TS.
Buôn Krông Tuyết Nhung, Trưởng Bộ môn Ngữ Văn - Khoa Sư phạm - Trường
Đại học Tây Nguyên đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong quá trình học tập
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Nhân đây em cũng chân thành cảm ơn quý thầy cô trong tổ bộ môn Ngữ Văn,
tổ bộ môn Ngôn ngữ giảng dạy tại Trường Đại học Tây Nguyên cùng các bạn sinh
viên lớp Sư phạm Ngữ văn K12 đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu.
Đây là lần đầu bản thân tiến hành nghiên cứu khoa học nên không thể tránh
khỏi những hạn chế cũng như thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của quý thầy cô và các bạn.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện

Quách Thị Diệu Hiền

i


MỤC LỤC

ii


PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Ca dao là một bộ phận quan trọng của thơ ca dân gian, đã gắn liền với biết bao
nhiêu thế hệ người Việt từ ngàn xưa và đã để lại trong tâm hồn mỗi chúng ta những
dấu ấn khó phai mờ. Những vấn đề xoay quanh thể loại ca dao cho đến ngày nay
vẫn còn nguyên vẹn sức hút đối với những nhà nghiên cứu văn học cũng như phần

đông đảo độc giả trong và ngoài nước, đồng thời là nguồn đề tài vô tận đối với các
nhà nghiên cứu và các nhà phê bình văn học. Việc nghiên cứu, đánh giá đã đạt
được nhiều thành tựu rực rỡ trên nhiều phương diện và còn hứa hẹn nhiều khám
phá mới lạ. Có thể nhắc đến một số công trình tiêu biểu như sau:
Trước hết, ca dao là một thể loại xuất hiện từ lâu đời chủ yếu được lưu truyền
bằng phương thức truyền miệng, thế nên trước hết phải kể đến những công trình
khoa học dựa trên việc sưu tầm, biên soạn và phân loại. Cụ thể như sau:
Giáo sư Đinh Gia Khánh đã sưu tầm và biên soạn cuốn Ca dao Việt Nam [4]
trong đó đã phân loại thành tám nội dung chính với dụng ý phản ánh những nét
chính về cuộc đời con người và bộ mặt xã hội cũ ở nước ta.
Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vũ Ngọc Phan rất tâm huyết khi sưu tầm
và biên soạn cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam [10] với việc phân loại rõ ràng
và sắc nét dựa trên nội dung và hình thức của ca dao. Đồng thời còn quan tâm đến
vấn đề khái niệm cũng như quá trình xuất hiện của thể loại này.
Nhà phê bình nghiên cứu văn học Nguyễn Quốc Tăng đã dày công sưu tầm và
biên soạn cuốn Tục ngữ ca dao Việt Nam [11] dưới góc độ đối xứng và bổ sung
qua lại giữa tục ngữ và ca dao trong văn học dân gian. Tác giả giới thiệu cuốn sách
nhằm đóng góp một phần nhỏ vào việc gìn giữ, bảo tồn nét đẹp của văn học dân
gian Việt Nam.
Công trình Ca dao Việt Nam [3] được tác giả Bích Hằng tuyển chọn được xuất
bản bởi nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin lại khác với những công trình trên, với
cách phân loại ca dao thành ba phần: ca dao cổ bao gồm những nội dung về văn
hóa xã hội, phong tục tập quán; tình yêu đôi lứa; tình cảm gia đình, tình yêu quê
hương đất nước; kinh nghiệm sản xuất; ca dao trào phúng; ca dao kháng chiến và
ca dao về Bác Hồ.
Tác giả Nguyễn Xuân Kính đã tiến hành nghiên cứu ca dao trên phương diện
thi pháp với chuyên luận có tên là “Thi pháp ca dao”. Đây là công trình nghiên cứu
chuyên sâu, toàn diện và công phu về thi pháp ca dao từ trước đến nay. Chuyên
luận có kết cấu chặt chẽ gồm tám chương, chủ yếu nói về những vấn đề liên quan
2

Song, xét trên khía cạnh riêng lẻ thì vấn đề “Ý nghĩa biểu tượng “muối” và
“gừng” trong ca dao người Việt” vẫn chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc và
toàn diện. Từ việc tiếp thu ý kiến của những người đi trước, chúng tôi đã mạnh dạn
đưa ra một hướng nghiên cứu mới là: “Ý nghĩa biểu tượng “muối” và “gừng” trong
ca dao người Việt”. Trên cơ sở tiếp thu những nhận xét đánh giá quý báu của
những công trình trước, chúng tôi xác lập cho mình hướng nghiên cứu mới, khảo
3


sát nhũng câu ca dao Việt Nam đã được các tác giả sưu tầm và biên soạn. Từ đó
làm nổi bật vai trò, ý nghĩa cũng như giá trị của biểu tượng “muối” và “gừng”
trong đời sống tình cảm xã hội của con người Việt Nam, cũng như tầm quan trọng
mà ca dao đóng góp cho nền văn học nước nhà.

4


PHẦN THỨ BA: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Ý nghĩa biểu tượng “muối” và “gừng” trong ca dao người Việt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát ở một số tài liệu cụ thể như sau:
- Tập Ca dao Việt Nam (GS. Đinh Gia Khánh (1995), Ca dao Việt Nam, NXB
Đồng Tháp).
- Tập Tục ngữ ca dao Việt Nam (Nguyễn Quốc Tăng (2000), Tục ngữ ca dao
Việt Nam, NXB Thuận Hóa, Huế).
- Tập Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Vũ Ngọc Phan (2007), Tục ngữ ca dao
dân ca Việt Nam, NXB Văn học, TP Hồ Chí Minh).
3.3. Nội dung nghiên cứu

phương pháp khác: phương pháp phân tích, bình giảng tác phẩm văn học, phân tích
nhân vật - hình tượng văn học, cùng một số phương pháp khảo sát thực tế cụ thể
khi cần thiết.

6


PHẦN THỨ TƯ: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1

NGUỒN GỐC BIỂU TƯỢNG
“MUỐI” VÀ “GỪNG” TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
1.1. Giới thiệu về ca dao
1.1.1. Khái niệm
Ca dao là một thể loại văn học ra đời đã lâu, gắn liền với phong tục tập quán
của người Việt Nam và được lưu truyền đạt qua nhiều thế hệ bằng phương thức
truyền miệng. Tuy nhiên việc định nghĩa ca dao vẫn là một việc làm tương đối khó
khăn, dễ nhầm lẫn giữa thể loại ca dao và dân ca.
Trong chương trình phổ thông khái niệm về ca dao được giản lược rất ngắn gọn
như sau: “Ca dao diễn tả đời sống, tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong
các quan hệ lứa đôi, gia đình, quê hương, đất nước,...” [8; tr.82]
Trong cuốn sách Tục ngữ - Ca dao - Dân ca [10], ngoài việc đưa ra khái niệm
về ca dao, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vũ Ngọc Phan đã so sánh, phân biệt
giữa ca dao và dân ca. Ông đã dày công sưu tầm nhiều cách lí giải cũng như cách
phân biệt giữa dân ca và ca dao dựa trên hình thức lẫn nội dung của những bậc tiền
bối đi trước như: “Ca dao là vốn là một thuật ngữ Hán Việt”. Về vấn đề này, trong
Văn học dân gian tập II (Lịch sử văn học Việt Nam), Đinh Gia Khánh có chú thích
như sau: “Trong Kinh Thi, phần Ngụy phong bài Viên hữu đào có câu: “Tâm chi
ưu hĩ, ngã ca thả dao” (lòng ta buồn, ta ca và dao). Sách Mao truyện viết: “Khúc
hợp nhạc viết ca, đô ca viết dao” (khúc hát cho nhạc đệm theo lời gọi là ca, còn hát

họ quan tâm tới, đã ghi chép trong vốn ca dao và lời nói ví truyền miệng của nhân
dân. Bộ phận những câu thơ ấy phần nhiều có nội dung phản ánh phong tục, hoặc
có ý nghĩa giáo dục theo cách hiểu của nhà Nho, vì vậy được xem như là phần tinh
túy nhất của thơ ca dân gian và thơ ca dân tộc. Từ cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ
XX, đã có những sách như Nam Phong giải trào, Quốc phong thi hợp thái (Hợp
tuyển thơ quốc phong), Việt Nam phong sử (Bộ sửu phong dao Việt Nam), Đại
Nam quốc túy (Quốc túy Đại Nam), Tục ngữ phong dao...tập hợp, ghi chép thơ ca
dân gian Việt Nam theo khuynh hướng trên. So với thuật ngữ phong dao và những
thuật ngữ xuất phát từ thuật ngữ đó như phong thi, nam phong, quốc phong, phong
sử...kể trên, thì thuật ngữ ca dao có nội dung rộng hơn. Thuật ngữ này đã từng
được dùng phổ biến trong giới trí thức Hán học ở Trung Quốc nhiều thế kỷ trước.
Nó được các nhà tri thức Hán học Việt Nam dùng một cách rộng rãi từ đầu thế kỷ
XX cùng với thuật ngữ phong dao, và ngày càng được dùng một cách phổ biến cho
tới ngày nay.” [7; tr.179]. Đoạn trích trên đã sơ lược về xuất xứ của những tên gọi
8


về thể loại này trước khi có tên chính thức là ca dao, còn về khái niệm ca dao thì
ông cho rằng: “Cho nên, về sau người ta còn dùng thuật ngữ ca dao để chỉ một hình
thức thể loại của thơ ca dân tộc: những sáng tác theo thể ca dao có thể thuộc phạm
trù văn học dân gian nếu đó là những sáng tác tập thể, truyền miệng, cũng có thể
thuộc phạm trù văn học thành văn nếu đó là những sáng tác cá nhân, thành văn.”
[7; tr.179] . Khái niệm trên đã nói được hết những đặc điểm đặc trưng của thể loại
ca dao và phần nào giúp ta phân biệt với những thể loại văn học dân gian khác như
thơ sử thi, vè, câu đối...
Xét về nội dung và hình thức, nghệ thuật của ca dao rất tinh vi, tế nhị, đáp ứng mật
thiết với những nội dung phong phú mà ca dao đề cập đến. Cách dùng chữ, những lối biến
thể, những hình tượng được trừu tượng hóa, nhân cách hóa sát với thực tế biểu hiện ở nội
dung, làm cho ca dao trở nên thắm thiết về mặt trữ tình nhưng đồng thời cũng phản ánh sắc
nét về cuộc sống của nhân dân lao động.

phương tiện thích hợp nhất tạo nên sự đồng cảm giữa người với người vì đặc trưng
cơ bản của nó là tính truyền miệng. Những tình cảm, tình yêu và tâm sự thầm kín
đó được biểu hiện trong ca dao thông qua nhiều mặt, giữa những mối quan hệ với
nhau như giữa những con người trong gia đình, xóm làng; giữa đôi bên trai gái hay
lớn hơn nữa là tình cảm đối với ruộng đồng, quê hương; với đất nước; với thiên
nhiên hay cao cả hơn là tình yêu đồng loại, yêu hòa bình. Bên cạnh đó ca dao còn
thể hiện tư tưởng đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác của nhân dân Việt Nam và dần
dần điều đó được hoàn thiện qua các thời kì lịch sử. Do cảm xúc cấu tứ nên lời ca ,
vì vậy những tư tưởng tình cảm của nhân dân Việt Nam được bộc lộ qua ca dao
mang lại sự đồng cảm sâu sắc giữa người với người, đồng thời còn thể hiện được
những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Tình yêu của nhân dân Việt
Nam được thể hiện trong ca dao trước hết là tình yêu giữa nam nữ dưới thời phong
kiến. Một mặt ca dao khẳng định tình cảm trong sáng, đẹp đẽ của những đôi lứa
yêu nhau nhưng mặt khác cũng phản ánh xã hội phong kiến với những ràng buộc
độc đoán đã phá vỡ không biết bao nhiêu mối tình đẹp, hay hệ lụy của việc “cha
mẹ đặt đâu con ngồi đó” được thể hiện ẩn ý qua câu ca dao sau:
“Lấy chồng chẳng biết mặt chồng,
Đêm nằm mơ tưởng, nghĩ ông láng giềng.” [10; tr.229]
Hay:
“Chồng lớn vợ bé thì xinh
Chồng bé vợ lớn ra tình chị em” [10; tr.229]
Đa số những bài về tình yêu về nam nữ vẫn nhiều hơn cả, nó đã thể hiện được
những cung bậc cảm xúc như nỗi nhớ nhung khi xa cách, sự lo lắng bảo vệ cho tình
yêu, nỗi đau thương khi phải chia lìa bởi lễ giáo phong kiến, cũng như sự khổ cực,
những bất công trong cuộc sống vợ chồng do hủ tục phong kiến mà người chịu
thiệt nhiều hơn cả vẫn là người phụ nữ... Những điều đó đã làm cho ca dao có tính
10


chất trữ tình sâu sắc, điển hình như :

dao ở mặt thực tiễn, như dùng để phổ biến kinh nghiệm sản xuất:
11


“Dưa gang một chạp thì trồng
Chiêm cấy trước Tết thì lòng đỡ lo
Tháng hai đi tậu trâu bò
Cày đất cho ải, mạ mùa ta gieo” [3; tr.389]
Hay:
“Khó thay công việc nhà quê,
Quanh năm khó nhọc, dám hề khoan thai.
Tháng chạp thì mắc trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà,
Tháng ba cày vỡ ruộng ra
Tháng tư bắc mạ, thuận hòa mọi nơi.” [3; tr.391]
mà còn biểu hiện ý thức lao động qua những bài ca ngợi lao động, khích lệ tinh
thần lao động, làm nảy sinh trong họ tình yêu nghề nghiệp. Hơn nữa đó còn là tình
yêu mến ruộng đồng, núi rừng và không ngại khốn khó, nguy hiểm khi lên rừng
xuống bể. Chẳng hạn như:
“Ơn trời mưa nắng phải thì,
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu.
Công lênh chẳng quản bao lâu,
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.
Ai ơi! Đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu.” [3; tr.390]
Ngoài ra đó còn là tình cảm yêu mến đối với công cụ sản xuất, với con vật được
xem là biểu tượng của nghề nông như hình ảnh con trâu đã được người nông dân chăm
sóc ân cần, thân thương:
“Trâu ơi, ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

Vì chưng bác mẹ tôi nghèo,
Cho nên tôi phải băm bèo thái khoai.” [3; tr.412]
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan khi phân chia nội dung ca dao trên những
phương diện tiêu biểu như trên phần nào đã đáp ứng được khả năng thể hiện tư
tưởng, tình cảm của nhân dân Việt Nam thông qua ca dao.
Về hình thức, những bài ca dao thường ngắn gọn và hàm chứa ý tứ sâu xa từ
hai, bốn, sáu hay tám câu. Số lượng câu tuy không bắt buộc nhưng hầu hết đều giữ
được trọn vẹn những chủ đề tư tưởng và tính chất mộc mạc vốn có của ca dao. Đặc
điểm nổi bật nhất về hình thức của ca dao là vần, vừa sát lại vừa thanh thoát, không
gò ép mà giản dị và rất tươi tắn. Dường như đó là những câu nói cửa miệng của
người nông dân nhưng đã được chải chuốt, gọn gàng hơn nhằm biểu hiện những
13


tình cảm, ý tứ sâu sắc.
Ca dao có nhiều thể mà nhiều hơn cả đó là thể sáu tám (tức là thể thơ lục bát
truyền thống), thể bốn chữ và thể hai bảy sáu tám cũng có nhưng ít hơn. Chẳng hạn
thể ca dao bốn chữ ta có bài than thân sau:
“Bèo than thân bèo,
Nằm trên mặt nước,
Bạc than thân bạc,
Đeo chiếc bông tai,
Khoai than thân khoai,
Đào lên bới xuống,
Muống than thân muống,
Bứt đọt nấu canh,
Anh than thân anh,
Vợ con chưa có,
Người nói lòng nọ,
Kẻ nói lòng kia,

Ai về tôi gửi đôi giầy
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.” [6; tr.66]
Đa phần ca dao yêu thương thường gắn với những biểu tượng như cái khăn, chiếc
cầu,...vì đây là những vật, những nơi mà nam nữ thường có nhiều kỉ niệm. Khăn là kỉ
vật luôn đi cùng người con gái còn chiếc cầu là nơi nam nữ hẹn hò tâm sự:
“Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm, để chàng sang chơi!” [3; tr.175]
Hay:
“Khăn đào vắt ngọn cành mơ,
Mình xuôi đằng ấy, bao giờ mình lên.
Em xuôi, em lại ngược ngay
Sầu riêng em để trên này cho anh.” [3; tr.179]
Ca dao tình nghĩa còn thường sử dụng những ước lệ như cây đa, bến nước, con
thuyền, gừng cay, muối mặn... Vì đó là những hình ảnh vừa gần gũi, quen thuộc
với người bình dân vừa là biểu tượng cho sự chia li, chờ đợi hay cho những ước
muốn, khát khao về sự thủy chung tình nghĩa của con người.
“Nước sông Tô vừa trong vừa mát,
Em ghé thuyền vào đỗ sát thuyền anh.
Dừng chèo muốn ngỏ tâm tình,
Sông bao nhiêu nước, thương mình bấy nhiêu.” [3; tr.182]
Và cuối cùng là ca dao hài hước với tiếng cười tự trào, tiếng cười hóm hỉnh,
hồn nhiên vô tư nhằm “thi vị hóa” cuộc sống nghèo khổ của người dân lao động.
Đó là tiếng cười tiếp sức để con người vượt lên hoàn cảnh. Trong khi đó tiếng cười
phê phán xã hội lại có mục đích đấu tranh xã hội mạnh mẽ hơn, nó hướng vào
những thói hư tật xấu trong nội bộ hoặc lên án giai cấp thống trị ti tiện, tham lam,...
15


Tiếng cười phê phán có nhiều mức độ: nhắc nhở, giễu cợt, đả kích, phủ nhận,...
Tiêu biểu là:

16


biểu tượng cây cầu có ý nghĩa tượng trưng cho sự qua lại giữa hai bờ bên này và bờ
bên kia, từ đó hình thành nên những lớp ý nghĩa của sự chuyển giao. Ví như sự
chuyển giao giữa cõi trần thế và cõi âm tà được diễn ra trên cây cầu Nại Hà bắc
qua con sông cùng tên theo truyền thuyết dân gian. Và biểu tượng này xuất hiện
trong ca dao còn mang ý nghĩa đại diện cho sự giao duyên giữa tình yêu nam nữ và
được sử dụng nhằm bộc lộ không gian tâm trạng của đôi lứa yêu nhau. Điển hình
như:
“Thương thương, nhớ nhớ sầu sầu
Một ngày ba bận ra cầu đứng trông
Thấy người nam, bắc, tây, đông
Thấy người thiên hạ mà không thấy chàng.” [6; tr.132]
Hay:
“Qua cầu dừng bước trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp em sầu bấy nhiêu.” [6; tr.126]
Hay như biểu tượng dải yếm thường được sử dụng để tượng trưng cho hình
ảnh người phụ nữ đẹp, đồng thời còn thể hiện những khát khao, ước muốn đến
cháy lòng về những tình cảm đôi lứa. Ví như:
“Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.” [6; tr.126]
Vì vậy, nếu đã xác định hình ảnh “muối” và “gừng” là một biểu tượng có trong
ca dao bên cạnh những biểu tượng khác như cây cầu, dải yếm...thì hình ảnh “muối”
và “gừng” đó phải tượng trưng cho một ý nghĩa nào đó của ca dao. Trước hết, xét
về nghĩa thông dụng theo Từ điển tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ
biên, gừng có những nét nghĩa như sau:
“Gừng ginger dt. 1. Cây có củ ngầm giống như củ nghệ nhưng có vị cay,
thường dùng làm thuốc. trồng gừng. 2. Củ gừng và các sản phẩm của nó. gừng cay
muối mặn; mứt gừng.” [15; tr.310]

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.” [3; tr.359]
Những đồ vật, vật dụng, thực phẩm và con vật quen thuộc như con trâu, cái cối
cái chày, bầu bí, rau muống, bèo... xuất hiện trong ca dao như minh chứng cho sự
quan trọng của bản thân cũng như sự gần gũi của người lao động đối với thế giới tự
nhiên xung quanh. Qua những điều quen thuộc ấy, người lao động đã gửi gắm
trong đó những ước mơ, khát vọng về một cuộc sống hiện thực bình yên, về những
tình cảm thân thuộc của con người.
“Trâu ta ăn cỏ đồng ta
Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm.” [10; tr.81]
“Bầu ơi! Thương lấy bí cùng,
18


Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.” [10; tr.81]
Đồng thời với nền văn minh lúa nước, ca dao cũng khẳng định tầm quan trọng
của những loài thực vật trong cuộc sống mà đặc biệt là thực vật làm gia vị như
gừng. Còn muối lại là gia vị thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày, nếu thiếu chúng
thì con người chúng ta sẽ dễ nảy sinh bệnh tật. Hình ảnh “muối” và “gừng” ngoài
việc thể hiện sự khó khăn trong cuộc sống hiện thực của người dân lao động như:
“Rạng ngày vác cuốc ra đồng
Tay cầm mồi lửa, tay dòng thừng trâu
Ruộng đầm nước cả bùn sâu
Suốt ngày cùng với con trâu cày bừa
Việc làm chẳng quản nắng mưa
Cơm ăn đắp đổi muối dưa tháng ngày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Biết công kẻ cấy người cày mấy nao!” [4; tr.39]
Hay tình cảm chung thủy trong tình yêu, hôn nhân:
“Tay cầm nắm muối quả mơ,
Mơ chua muối mặn, ta chờ đợi nhau.” [4; tr.72]

2.1.1. Biểu tượng đơn
Qua khảo sát ta nhận thấy sự xuất hiện của các biểu tượng “muối” và “gừng”
đơn lẻ vẫn nhiều hơn so với khi chúng xuất hiện cùng nhau (xuất hiện 29 lần trên
tổng số tài liệu khảo sát).
Sau khi tiến hành khảo sát và thống kê về biểu tượng đơn thì sự xuất hiện của
biểu tượng “muối” (21 lần trên tổng số tài liệu khảo sát) trong các tập tài liệu đều
nhiều hơn cả so với biểu tượng “gừng” (8 lần trên tổng số tài liệu khảo sát). Một
phần có lẽ là bởi sự quan trọng của nguyên liệu đối với cuộc sống hàng ngày của
con người, là thành phần chính trong những món ăn dân dã nơi đồng quê như dưa
muối, cà muối... Còn bởi một lẽ nữa đó là biểu tượng “muối” thích hợp để diễn tả
sự khổ cực của người nông dân trong xã hội lúc bấy giờ cũng như sự vất vả trong
công việc nông như:
“Ngày phơi muối trắng đầy trời
Đêm nằm nghe xót, lòng người năm canh
Trời xanh, muối trắng, cát vàng
Thứ gì cũng đẹp, riêng nàng lầm than.” [11; tr.152]
Xét về biểu tượng “gừng” ta nhận thấy rằng biểu tượng này thường dùng để
diễn tả sự đắng cay, tủi nhục của người phụ nữ dưới sự đày đọa của kỷ cương xã
hội phong kiến. Chẳng hạn như cảnh lấy chồng theo sự sắp đặt, mai mối khiến cho
đôi bên lỡ làng:
“Chị em ơi! Người ta trông thấy mặt chồng thì mừng,
Sao tôi trông thấy mặt chồng thì lại như gừng như vôi.” [10; tr.248]
Hoặc thể hiện tình yêu đôi lứa bị ngăn cách, chia lìa:
“Anh ra đi cay đắng như gừng,
Đường xa xôi ngàn dặm, khuyên em đừng nhớ thương.” [10; tr.164]
Khi xuất hiện đơn lẻ, những biểu tượng thường có xu hướng kết hợp với những
từ ngữ, hình ảnh khác nằm trong cùng trường nghĩa như với biểu tượng “muối”
21



tượng hay hình ảnh khác nên có được tính tập trung sắc thái nghĩa rõ rệt.

22


2.1.2. Biểu tượng kép
Tần suất xuất hiện của các biểu tượng kép ít hơn so với biểu tượng đơn (xuất
hiện 5 lần trên tổng số tài liệu khảo sát), bởi chỉ khi nào cần diễn đạt tăng cấp bậc
của nội dung, ý nghĩa thì sự xuất hiện của biểu tượng kép sẽ làm là câu ca dao trở
nên thắm thiết và sâu sắc hơn.
Tuy tần suất xuất hiện không nhiều nhưng sự đi liền giữa hai biểu tượng
“muối” và “gừng” đã trở thành một mô-típ thường gặp trong ca dao. Sự hình thành
mô-típ đó chính là căn nguyên của việc xác định hai biểu tượng này là trở thành
biểu tượng kép.
Khi hình thành biểu tượng kép thì giữa hai biểu tượng đã có sự tương đồng về
nguồn gốc cũng như ý nghĩa, vì vậy khi trở thành biểu tượng kép và đi liền với
nhau. Thay vì tập trung sắc thái nghĩa thì giữa chúng có sự giao hòa nét nghĩa, bổ
sung qua lại trong một mối quan hệ mật thiết.
Biểu tượng kép “muối - gừng” thường tăng cấp bậc của ý nghĩa mà chúng
mang lại một cách trọn vẹn nhất. Ví như để phản ánh thói xấu của những người đàn
ông muốn đa thê đa thiếp và hơn cả là phản ánh những hủ tục của chế độ phong
kiến trọng nam khinh nữ, ca dao có câu:
“Anh kia có vợ con rồi
Mà anh còn muốn hoa hồi cầm tay
Hoa hồi vừa đắng vừa cay
Vừa vặn như muối, vừa cay như gừng.” [11; tr.261]
Và cũng có những câu ca dao hài hước phê phán tình trạng “trai thì năm thê
bảy thiếp”, gái chính chuyên một chồng” :
“Chính chuyên chết cũng ra ma,
Lẳng lơ chết cũng chôn ra ngoài đồng.” [10; tr.253]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status