Luyện thi: Việt Bắc - Pdf 40

Việt Bắc
Tố Hữu
Nhân dân là bể, văn nghệ là thuyền
Tập thơ “Việt Bắc” của nhà thơ Tố Hữu đã được viết ra từ nguồn cảm hứng chủ đạo ấy,
nguồn cảm hứng về một con thuyền văn nghệ bơi trên biển cả của nhân dân và được biển
cả của nhân dân nâng đỡ. Vì thế người đọc có thể tìm thấy cả nội dung, cảm xúc và hình
thức nghệ thuật của mọi bài thơ trong đó. Nhưng tính nhân dân ấy, sự gắn bó giữa con
thuyền thơ với biển cả của Tổ Quốc và nhân dân ấy không được kết đọng ở đâu nhiều hơn
là trong bài thơ mà tên của nó đã được mượn làm tên cho cả tập thơ, bài thơ mà Xuân Diệu
đã coi là đỉnh cao nhất trong tập thơ ấy. Dó nhiên đó chỉ có thể là bài thơ dài mang tên “ Việt
Bắc ”.
Bài thơ được sáng tác vào thời khắc giao thừa giữa hai giai đoạn Cách Mạng, giữa cuộc
kháng chiến chín năm mà chúng ta vừa trải qua mà kỉ niệm về nó vẫn còn tươi nguyên
trong kí ức, với một giai đoạn hoà bình còn chưa đến hẳn nhưng dự cảm về nó đã xôn xao
lắm giữa lòng người. Đó là thời điểm giao thời giữa chiến đấu và dựng xây, giữa một giai
đoạn mà Việt Bắc là đầu não, là “thủ đô gió ngàn”, với một giai đoạn mà trung tâm của
Cách mạng sẽ chuyển về xuôi với thủ đô là Hà Nội. Đây cũng chính là thời điểm làm dậy
lên trong lòng người những ý nghó lớn lao. Bởi trên đỉnh cao của thời điểm ấy, con người sẽ
có điều kiện nhìn thấu suốt về quá khứ và nhìn vào xa tắp của tương lai. Đôi cánh rộng của
cảm hứng ở bài thơ “Việt Bắc” cũng được nâng đỡ rất nhiều bởi thời điểm mà bài thơ được
sáng tạo, nhất là khi tác giả luôn luôn có ý thức gắn mình với đất nước, nhân dân và Cách
mạng. Nhờ đó Tố Hữu đã có thể qua “Việt Bắc” làm một bản tổng kết bằng thơ về cả một
giai đoạn cách mạng và kháng chiến, giai đoạn gắn liền, lấy Việt Bắc làm trung tâm. Đó là
giai đoạn “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Mặc khác, do được sinh ra từ thời điểm
giao thừa ấy mà “Việt Bắc” còn có thể nói lên được những dự cảm rộn rã, náo nức mênh
mang trước một tương lai sắp tới, tương lai trong hoà bình, xây dựng. Nhà thơ cũng không
quên nói đến mối liên hệ khăng khít giữa hai giai đoạn đẹp đẽ đó của đất nước và cách
mạng, về sự giữ gìn truyền thống của quá khứ, trong giai đoạn của hiện tại và tương lai. Và
“Việt Bắc” được kết thúc trong một hình ảnh đầy ý nghóa, hình ảnh Bác Hồ rời Việt Bắc về
xuôi. Đó là một biểu tượng tuyệt đẹp mà nhà thơ đã mượn để diễn tả xúc cảm về cuộc cách
mạng đã chuyển sang một giai đoạn mới.

Nhưng “cùng” đó cũng chỉ là một lối nói khác không chỉ để biểu hiện sự phong phú mà còn
gợi ra cảm giác giao hoà, kết hợp, quấn vào nhau. Còn hai chữ “hoa” và “người” dường như
chỉ để báo trước những nội dung sẽ được nói tiếp trong những câu thơ còn lại. Nỗi nhớ ấy
hướng về hai phương diện: “hoa” - phép hoán dụ để chỉ tự nhiên, và tình cảm còn lại sẽ
dành cho con người. Và như thế, tám dòng thơ sau viết đúng theo cách ấy. Dường như mọi
cặp câu sau đều có sự phân công, bởi những câu sáu chữ chủ yếu chỉ nói về tự nhiên, còn
câu tám chữ lại hướng tới con người.
Thiên nhiên trong nỗi nhớ luôn luôn mang những nét của núi rừng, bởi cả bốn câu sáu chữ
đều có chữ “rừng”. Còn những con người hiện lên trong thơ hầu như đều là những con
người lao động, người đi nương, “người đan nón” hay “cô em gái hái măng”. Cái hướng cảm
xúc nhà thơ đã rõ, xúc cảm ấy đã dành tất cả cho quê hương Việt Bắc và đặc biệt cho
người dân Việt Bắc. Và có thể gọi tên thứ tình cảm dạt dào ấy là tình yêu quê hương đất
nước và những người dân nơi đây.
Đã có nhiều người muốn coi tám câu thơ còn lại của đoạn thơ giống như một bức tứ bình
được vẽ ra bằng ngôn ngữ, một bộ tranh đặc sắc về bốn mùa Việt Bắc. Nếu đúng là như
thế thì hai câu thơ đầu trong tám câu thơ ấy phải là cảm xúc trước mùa đông. Nhưng đó
không phải là mùa đông lặng lẽ, giá buốt mà lại tươi tắn, ấm áp, thân thuộc đáng yêu. Và
cũng chẳng phải tình cờ mà nhà thơ đã dành cho mùa đông ấy thật nhiều màu sắc. Màu
xanh tươi của cây lá và trên nền ấy là sắc đỏ cũng rất tươi của những bông hoa chuối rừng,
gợi nên cảm giác tươi và ấm.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Và trong câu thơ tám chữ bên dưới nhà thơ còn nói đến một ngày đông ánh nắng và còn
chói lọi hơn trong ánh phản quang chắt lại từ những con dao của những người đi rừng.
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Câu thơ nhấn rất nhiều vào chữ “ánh”. Có thể đây là mùa đông được nhìn bằng con mắt rất
lạc quan của con người kháng chiến. Và con người ấy ở Việt Bắc trong đoạn thơ này cũng
hiện lên thật khỏe mạnh và tươi đẹp với góc nhìn “cao” vời vợi. Câu thơ tám chữ được nhà
thơ bắt đầu bằng hai chữ “đèo cao”, gợi liên tưởng đến những câu thơ :
Đèo cao thì mặc đèo cao
Trèo lên đến đỉnh ta cao hơn đèo.

Chỉ trong một câu thơ thôi mà chúng ta không chỉ thấy được thời gian luân chuyển sống
động, tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến - hè đến - cây phách chuyển màu vàng, mà còn
cảm nhận được cả sự chuyển đổi giữa âm thanh và sắc màu. Tiếng ve kêu không phải là
nguyên nhân nhưng nó giống như một hiệu lệnh báo hiệu mùa hè. Để rồi sau đó sự ngắt
nhòp của câu thơ đã tạo ra một khoảng lặng, làm cho không khí mùa hè, hơi thở mùa hè
như thấm vào hồn của rừng cây, vào từng thớ gỗ khiến cả “rừng phách đổ vàng”. Sự đổi
thay sinh động được nhà thơ cảm nhận một cách tinh tế đã làm sống dậy cả thời gian. Và
đây nữa, một bức tranh mùa hè toàn vẹn đặt trong bộ tứ bình, một bức tranh mà ở đó con
người lao động cũng hài hoà cùng thiên nhiên, tạo vật :
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Màu vàng của nắng, của rừng cây phách, màu vàng của bụi măng như hoà cùng làm một.
Màu vàng ấy gợi sự trẻ trung bởi nhà thơ đã cố ý thêm vào câu thơ ấy hai chữ “một mình”,
đặt cùng ba chữ cũng trẻ trung không kém - “cô em gái”. Cách viết của nhà thơ khiến người
ta liên tưởng đến những tứ thơ quen thuộc của ca dao, nơi người ta vẫn bắt gặp hình ảnh
những người con gái trẻ trung đứng một mình :
Chín thương em đứng một mình.
hay :
Trúc xinh trúc đứng một mình cũng xinh.
Nhưng không chỉ có vậy, bức tranh còn được làm đẹp thêm bởi hình ảnh trung tâm - người
con gái hái măng một mình, người con gái bình dò đang say sưa trong lao động. Với hai câu
thơ ấy, Tố Hữu đã gợi nên vẻ đẹp mang chất thơ, chất trẻ rất lạ của mùa hè, mùa mà xưa
nay người ta vẫn thường đem gắn với những gì nóng bức.
Thiên nhiên, con người thật sự đã cùng hoà quyện và tô điểm cho nhau trong suốt bài thơ,
bởi nhà thơ đã không quên nhắc đến con người trong bức tranh cuối cùng về Việt Bắc :
Rừng thu trăng rọi hoà bình,
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Cảnh rừng đêm thu hiện ra dưới ánh trăng hoà bình âm vang tiếng hát. Nhà thơ đã không
phải ngẫu nhiên viết “trăng rọi” mà không phải là “trăng soi” hay “trăng chiếu”, bởi chữ “rọi”
ấy phần nào cũng gợi nên cảm giác hiền hoà, êm ả. Và “tiếng hát” trong câu thơ còn khiến
người ta liên tưởng đến một câu thơ khác của Bác Hồ :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status