MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................................1
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................................................2
THE RESEARCH RESULT SUMMARY OF DEPARTMENT LEVEL SICENCE AND
TECHNOLOGY SUBJECT..................................................................................................3
2.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU..........................................................................................7
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU,.....................................10
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU...............................................................................................10
4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...............................................................................................11
4.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành nhân vật “Âu hóa”..............................................11
4.1.1. Vài nét về nhà văn Vũ Trọng Phụng và đóng góp của ông trong nền văn học Việt
Nam.....................................................................................................................................11
4.1.2. Bối cảnh lịch sử - xã hội............................................................................................14
Vũ Trọng Phụng bắt đầu sự nghiệp văn chương trong giai đoạn rối ren nhất của lịch sử
khi những biến cố lớn liên tiếp, dồn dập tác động đến đất nước ta với tác phẩm đầu tay là
truyện ngắn Chống nạng lên đường (1930).........................................................................14
4.1.3. Khái quát về hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng.. .17
4.1.4. Tiểu kết......................................................................................................................18
4.2. Hệ thống hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng............19
4.2.1. Người tiểu tư sản “Âu hóa”.......................................................................................19
4.2.2. Người phụ nữ “Âu hóa”............................................................................................26
4.2.3. Trẻ em “Âu hóa”.......................................................................................................39
4.2.4. Tiểu kết......................................................................................................................41
4.3. Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật “Âu hóa” của Vũ Trọng Phụng.................42
4.3.1. Nghệ thuật miêu tả chân dung nhân vật “Âu hóa”....................................................42
4.3.2. Trào phúng thể hiện qua ngoại hình, hành động của nhân vật..................................46
4.3.3. Xây dựng nhân vật, cốt truyện, cú pháp ngôn từ bằng biện pháp ẩn dụ...................50
4.3.4. Tiểu kết......................................................................................................................52
Ngoài những biện pháp trên Vũ Trọng Phụng còn sử dụng biện pháp so sánh như trong Số
đỏ ông đã thâm thúy khi so sánh ngầm giữa đốc-tờ Trực Ngôn và Xuân Tóc Đỏ - lúc này
bản chất thực sự của tri thức “rởm” được phơi bày trong sự so sánh với kẻ vô học. Trí thức
Lớp: Sư phạm Ngữ văn K12
Tel: 0166.382.7937
- Trương Hồng Phúc Lớp: Sư phạm Ngữ văn K11
Tel: 0167.563.1537
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Hoàng Lê Anh Ly
Tel: 0915.807.027
Đơn vị chủ trì đề tài: Khoa Sư phạm - Trường Đại học Tây Nguyên
Đơn vị và nội dung phối hợp:
- Bộ môn Văn học; Bộ môn Ngôn ngữ - Khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây
Nguyên: Cố vấn, hỗ trợ và hướng dẫn.
- Thư viện Trường Đại học Tây Nguyên: Nguồn tài liệu.
- Thư viện tỉnh Đắk Lắk, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk: Nguồn tài liệu.
Thời gian thực hiện: 01/2015 đến 12/2015
1. Mục tiêu
Đề tài khảo sát hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ
Trọng Phụng một cách có hệ thống và khoa học để thấy rõ quan niệm nghệ
thuật về con người được thể hiện trong sáng tác của nhà văn.
2. Nội dung chính
- Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành nhân vật “Âu hóa”.
- Hệ thống hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
- Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật “Âu hóa” của Vũ Trọng Phụng.
3. Kết quả chính đạt được
- Đề tài đã xác định được sự ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử - xã hội đến việc
hình thành kiểu loại nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
- Le Thi Hong Anh
Class: Literature and Linguistics Teacher K12
Tel: 01663827937
- Truong Hong Phuc
Class: Literature and Linguistics Teacher K11
Tel: 0167.563.1537
Instructor: MA. Hoang Le Anh Ly
Tel: 0915807027
Implementing Institution: Faculty of Education Studies - Tay Nguyen
University
Departments and contents for coordination:
- Department of Literature; Department of Language - Faculty of Pedagody,
Tay Nguyen University: Counselling, supporting and instructing.
- Library of Tay Nguyen University: Sources for reference.
- Provincial Library, Buon Ma Thuot City, Dak Lak Province: Sources for
reference.
Duration: January 2015 to December 2015
1. Objectives
The project make a survey the image of “Europeanized” characters in the
works of Vu Trong Phung thereby determine the ideological conceptions and
human art expressed in the works of the author a systematic and scientific.
2. Main contents
- Historical - social context forming the “Europeanized” characters.
- The iconic system of “Europeanized” characters in the works of Vu Trong
ngắn, tiểu thuyết đều hết sức sinh động ở đó có đa dạng kiểu loại con người,
nhân vật có kẻ ma cà bông như Xuân Tóc Đỏ, có những cô gái tân thời như
Tuyết trong Giông tố và cả Tuyết trong Số đỏ, có anh tri thức thất nghiệp
may mắn Phúc trong Trúng số độc đắc hay những con người nghèo khổ rách
rưới chầu chực cơm người trong những trang phóng sự Cơm thầy cơm cô,
Cạm bẫy người... Trong các sáng tác của mình Vũ Trọng Phụng khắc họa
hình tượng nhân vật đều có tạo hình, tính cách và số phận riêng biệt tuy nhiên
nổi bật hơn cả là kiểu loại nhân vật “Âu hóa”.
Điểm lại trong nền văn học Việt Nam, đã có rất nhiều tác giả viết về kiểu
loại nhân vật “Âu hóa” này như Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyên
Hồng...nhưng chỉ khi đến với Vũ Trọng Phụng thì kiểu loại nhân vật này mới
thực sự trở thành điểm sáng cho tác phẩm. Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy
rằng con người - nhân vật “Âu hóa” không chỉ mang những đặc trưng cơ bản
của xã hội mà còn là nhân chứng của lịch sử.
Trong chương trình giáo khoa ở nhà trường phổ thông, Vũ Trọng Phụng
được đưa vào giảng dạy với tư cách là một nhà văn đại diện cho trào lưu văn
học hiện thực phê phán. Vì vậy việc tìm hiểu phân tích nhân vật “Âu hóa” để
thấy được bộ mặt thật của con người cũng như xã hội trong giai đoạn này để
có cái nhìn khách quan trong việc đánh giá nhân định tác giả, tác phẩm là
một việc làm cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu hữu ích phục
vụ cho công tác học tập, giảng dạy, nghiên cứu về hình tượng nhân vật trong
6
sáng tác của Vũ Trọng Phụng nói riêng và tác giả Vũ Trọng Phụng nói
chung.
Chính vì những lý do trên nên chúng tôi đã chọn đề tài “Hình tượng nhân
vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng” cho nghiên cứu khoa học
cấp cơ sở.
1.2. Mục tiêu của đề tài
sinh lý chỉ là một yếu tố trội trong tính cách của họ. Việc vận dụng phân tâm
học Freud vào việc xây dựng một số tính cách nhân vật phần nào làm bộc lộ
rõ cái thế giới bí ẩn mờ khuất trong cõi vô thức của các nhân vật đó, việc làm
của Vũ Trọng Phụng là một đóng góp không thể phủ nhận.
Nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng được viết bởi
nhà phê bình văn học Hà Minh Đức, trong bài viết này ông tập trung nghiên
cứu về nhân vật Xuân Tóc Đỏ dưới góc độ môi trường bụi đời đã sinh ra hắn
cũng như những nét tính cách đặc trưng để tạo thành kiểu loại nhân vật lố
8
bịch theo như nhận định của người viết. Ngoài ra người viết còn khái quát
hóa về nghệ thuật miêu tả của Vũ Trọng Phụng đã tạo nên một nhân vật điển
hình trong nền văn học nước nhà mà “nhắc đến Xuân Tóc Đỏ là nhắc đến
một tính cách, một loại người mà hình như đây đó trong cuộc sống hôm nay
còn thấp thoáng bóng dáng nhân vật” [31, tr472].
Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của Đinh Trí Dũng đã đề cập đến
quan niệm về thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật
trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng.
Trong bài viết “Đọc lại truyện Giông tố”, Nguyễn Tuân đã nhận xét về
tác phẩm Giông tố như sau: “...Tiểu thuyết Giông tố gồm nhiều thứ người:
thôn quê, thành thị và cả những nhân vật từ quê ra tỉnh . Có người là thôn nữ
bị bán làm lẽ thứ mười hai cho nhà giàu, có người là thư ký, có người là du
thủ du thực, có người là gái tân thời, có người là đốc học, có người làm cách
mạng. Nhưng trội lên hết để người đọc suy nghĩ, để người đọc nhớ lại mà đặt
thành vấn đề thì có hai nhân vật Thị Mịch và Nghị Hách...”. [13, tr 381]
Các công trình nghiên cứu trên có đề cập đến một số hình tượng nhân vật
của Vũ Trọng Phụng nói chung và nhân vật “Âu hóa” nói riêng trong một số
tiểu thuyết tuy nhiên chưa có cái nhìn hệ thống về nhân vật “Âu hóa” trong
sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
- Tiểu thuyết Lấy nhau vì tình (Vũ Trọng Phụng, Lấy nhau vì tình (1999),
NXB Văn nghệ).
- Tiểu thuyết Giông tố (Vũ Trọng Phụng, Giông tố (2014), NXB Văn học, Hà Nội).
- Phóng sự Lục xì ( Vũ Trọng Phụng, Vũ Trọng Phụng toàn tập (2004, 1),
NXB Văn học, Hà Nội).
Và một số tác phẩm của Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan...
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành nhân vật “Âu hóa”.
- Đặc điểm hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
- Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật “Âu hóa” của Vũ Trọng Phụng.
10
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành nhân vật “Âu hóa”
4.1.1. Vài nét về nhà văn Vũ Trọng Phụng và đóng góp của ông trong
nền văn học Việt Nam
4.1.1.1.Cuộc đời
Vũ Trọng Phụng sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912 trong một gia đình nghèo,
ở Hà Nội. Ông thân sinh là Vũ Văn Lân nguyên sống ở làng Hảo (tức thị trấn Bần
Yên Nhân, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên), làm thợ điện tại xưởng ôtô Ch.
Boillot Hà Nội. Mẹ là bà Phạm Thị Khách, người làng Vẽ, phủ Hoài Đức, tỉnh
Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội). Bà sớm góa chồng khi còn rất trẻ chỉ
mới hai mươi tư tuổi nhưng bà đã ở vậy tần tảo sớm hôm nuôi mẹ chồng và con
thơ bằng nghề khâu vá thuê. Bà giành hết tâm huyết của đời mình cho tương lai
của con. Điều này đã để lại trong tâm hồn Vũ Trọng Phụng một niềm tin tưởng
bất diệt vào sự cao quý tốt đẹp của con người.
Vũ Trọng Phụng lớn lên trong tình thương ấm áp của người mẹ và được
đến trường như bao đứa trẻ cùng trang lứa. Năm 1921, lên chín tuổi bắt đầu
tiện. Đời sống xã hội đương thời ấy đã cung cấp cho ông nhiều mẫu hình
nhân vật, gây ra trong ông cái ý thức mạnh bạo, sự cần thiết phải bày tỏ thái
độ trước một thực trạng xã hội vô nghĩa lý. Cũng như ý thức về thân phận và
cảnh tình nghèo khó cơ cực của bản thân.
Khoảng thời gian từ 1930 - 1939, Vũ Trọng Phụng cộng tác với rất nhiều
tờ báo: Ngọ báo, Nhật tân, Tiến hóa, Nông công thương, Tiểu thuyết thứ bảy,
… và viết đủ các thể loại : truyện ngắn, truyện dài, phóng sự, tiểu thuyết, trào
phúng… Ngoài ra, ông còn dịch các tác phẩm của văn hào người Pháp Victo
Huygô và Thiên Hư, Vũ Trọng Phụng là hai bút danh mà nhà văn thường
dùng.
Vũ Trọng Phụng đặc biệt thành công và nổi danh ở hai thể loại phóng sự
và tiểu thuyết. Ông được mệnh danh là: “Ông vua phóng sự đất Bắc”. Trong
khoảng thời gian này, Vũ Trọng Phụng đã nổi danh như cồn nhờ những tác
phẩm của ông được đăng báo như: Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm
thầy cơm cô…
12
Đầu năm 1938, Vũ Trọng Phụng lập gia đình với cô Vũ Mỹ Nương, con
một gia đình buôn bán nghèo ở xã Nhân Mục, thôn Giáp Nhất (nay thuộc
phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội). Cuối năm sinh con gái đầu
lòng đặt tên là Vũ Mỹ Hằng.
Vũ Trọng Phụng là con người bình dị, phải chăng và giàu lòng tự trọng
và trước hết ông còn là một con người nề nếp, khuôn phép. Trong cuộc sống
riêng, ông chỉ mong kiếm tiền giúp mẹ và giành giụm tiền để cưới vợ có con
nối dõi. Dù ông viết rất nhiều trong khoảng thời gian chưa đầy mười năm,
gần hai mươi tác phẩm và nhiều bài báo nhưng cái nghèo cứ bám riết gia
đình ông. Do phải làm việc quá sức lại trong cảnh thiếu thốn, căn bệnh lao
ngày một thêm trầm trọng và làm ông kiệt sức. Ông mất ngày 13 tháng 10
tượng được dư luận quan tâm có thể kể đến những phóng sự như Cạm bẫy
người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936)...và một số
tiểu thuyết đánh dấu tài năng nghệ thuật của nhà văn như Giông tố (1936), Số
đỏ (1936), Lấy nhau vì tình (1937)...
Ngoài ra nhà văn còn liên tục cho ra đời một số lượng lớn các truyện
ngắn, truyện dài, truyện vừa với những cái tên như Bà lão lòa (1931), Bộ
răng vàng, Hồ sê líu hồ líu sê sàng (1936), Tự do, Lấy vợ xấu (1937)... Kịch
của Vũ Trọng Phụng cũng được dư luận chú ý như các vở: Không một tiếng
vang, Lễ tết (1934); Cái chết bí mật của người trúng số độc đắc (1938).
Bên cạnh việc sáng tác các tác phẩm văn chương, ông còn tham gia viết
các tạp văn, tiểu luận phê bình như: Thư ngỏ cho ông Thái Phỉ, chủ báo “Tin
văn” về bài “Văn chương dâm uế”; Chung quanh thiên phóng sự “Lục xì”;
Để đáp lời báo “Ngày nay”: dâm hay không dâm; Thay lời tựa tiểu thuyết
“Làm đĩ”; “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố.
Tác phẩm của ông là tấm gương phản ánh chân thực bức tranh cuộc sống.
Nó có giá trị như một nhân chứng, vật chứng của thời đại, là bản cáo trạng đối
với chế độ thực dân nửa phong kiến, là lời kêu gọi thống thiết phẩm giá, tự do,
một cuộc sống xứng đáng không chỉ cho một thời mà còn cho mọi thời.
4.1.2. Bối cảnh lịch sử - xã hội
Vũ Trọng Phụng bắt đầu sự nghiệp văn chương trong giai đoạn rối ren
nhất của lịch sử khi những biến cố lớn liên tiếp, dồn dập tác động đến đất
nước ta với tác phẩm đầu tay là truyện ngắn Chống nạng lên đường (1930).
14
Trong giai đoạn này lịch sử thế giới cũng như trong nước có những biến
động mạnh mẽ; trải qua hàng loạt những sự kiện có tầm ảnh hưởng đến tình
hình chung của thế giới như cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 và thảm họa
phát xít và những năm tháng bồng bột trước chiến tranh thế giới thứ hai. Nước
phong kiến lúc bấy giờ. Sự xuất hiện của những tầng lớp mới kéo theo sự
canh tân về phong hóa và thẩm mĩ, những cái cũ chưa được loại bỏ thì đã
phải tiếp nhận những cái mới không hợp thời tạo nên một giai đoạn lịch sử xã hội lố lăng mà kèm theo đó là sự lố lăng cả một thế hệ con người. Sự xuất
hiện của các phong trào cải cách xã hội mang tính chất cải lương vào những
năm 1936-1939, thực tế không làm thay đổi bộ mặt xã hội ngay được nhưng
cũng chỉ “khuấy đảo” bề mặt nổi của xã hội, đa phần các phong trào này đều
chịu sự thất bại hoặc không cũng chịu sự lợi dụng của thực dân Pháp. Xã hội
Việt Nam giai đoạn này còn chịu sự ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng của xã
hội Đông Dương trong những năm 1940-1945 thế nên xã hội vốn đã rối nay
còn rối hơn, những con người sống trong cái xã hội này mà yên ổn được thì
đó là một điều không tưởng.
Cũng trong giai đoạn này sự phát triển của các phong trào yêu nước có thêm
những bước tiến mới đó là các phong trào yêu nước trong thập niên 20 mang
màu sắc tư bản đồng thời phong trào cộng sản giai đoạn này phát triển mạnh và
rộng rãi. Những năm 1936-1939, phong trào cộng sản có sự đột khởi trong
chương trình hành động được xem là giai đoạn hòa hoãn và hợp tác. Sự phát
triển mạnh mẽ của chế độ phát xít độc tài kéo theo sự trỗi dậy của những đảng
phái quốc gia với khuynh hướng thân Nhật, đứng trước nguy cơ bị xâm lược của
phát xít phong trào cộng sản trong những năm 1930-1945 có sự phát triển lớn
mạnh phù hợp với quy luật đấu tranh cũng như diễn biến lịch sử - xã hội.
Bối cảnh lịch sử - xã hội đầy biến động phần nào đã tác động đến lối
sống, cách suy nghĩ, tư duy của con người: họ không còn được sống đơn
giản, cuộc sống của họ giữa thời buổi nhiễu nhương bắt buộc phải vây quanh
giá trị của đồng tiền, chính nó đã trở thành thước đo cho nhân cách và giá trị
của con người. Cũng trong giai đoạn này “làn sóng Âu hóa” - một cách đồng
hóa văn hóa của thực dân Pháp áp dụng vào các nước thuộc địa đang lan tràn
khắp mọi nơi mà đặc biệt là khu vực thành thị chính vì vậy đã làm sản sinh ra
những con người “nửa ta nửa Tây”, họ được xem là “con lai” của cái xã hội
nửa thực dân nửa phong kiến thối nát lúc này.
16
về mặt đạo đức, lối sống hay cách đối nhân xử thế đồng thời sự thay đổi đó
17
cũng báo hiệu cho sự chuyển biến của dòng lịch sử, của một xã hội rộng lớn.
4.1.4. Tiểu kết
Có thể nhận định rằng kiểu nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ
Trọng Phụng là những con người sống trong thời kì lịch sử - xã hội rối ren;
họ có lối ăn mặc theo phong cách châu Âu mà nổi bật nhất là nước Pháp
đồng thời ở họ những giá trị văn hóa truyền thống bị lu mờ. Tuy nhiên,
không thể nói “Âu hóa” là việc làm sai mà ở đây đó là việc làm chưa hợp
thời, hợp cảnh vì vậy chúng ta cần phải khai thác ở những khía cạnh khác
nhau để làm rõ đồng thời khám phá được những nét đặc sắc về nghệ thuật
miêu tả nhân vật của tác giả - Vũ Trọng Phụng.
18
4.2. Hệ thống hình tượng nhân vật “Âu hóa” trong sáng tác của Vũ
Trọng Phụng
4.2.1. Người tiểu tư sản “Âu hóa”
Tầng lớp tiểu tư sản hình thành khi xã hội Việt Nam chuyển từ phong
kiến sang nửa thực dân nửa phong kiến thế nên kiểu dạng nhân vật này hầu
như không xuất hiện trong các sáng tác văn học thế kỷ XIX. Sang đầu thế kỷ
XX, nhân vật tiểu tư sản đã xuất hiện trong các sáng tác của Hoàng Ngọc
Phách (nhân vật Đạm Thủy - Tố Tâm), Hồ Biểu Chánh (nhân vật Hiển Vinh Chút phận linh đinh)...nhưng nhìn chung cũng chỉ là phác họa những nét đơn
giản, chưa được tô điểm đậm nét và chưa trở thành một hình tượng văn học
thực sự. Đến giai đoạn xã hội rối ren 1930-1945, hình tượng nhân vật tiểu tư
sản đã trở nên phổ biến và quen thuộc trong hầu hết các sáng tác của các tác
giả tiêu biểu. Cuộc sống đời thường đầy mâu thuẫn của người tiểu tư sản trở
điểm qua một số tác phẩm như: Số đỏ, Giông tố, Lấy vợ xấu, Một đồng bạc...
Trong Số đỏ ta có thể nhận thấy hàng loạt những nhà tri thức tiểu tư sản
được cho đi du học nước ngoài để mang “văn minh” về phục vụ cho nước
nhà như Văn Minh chồng, cậu Tú Tân... Nhưng thực chất thứ “văn minh” mà
họ mang về chỉ là những thứ thượng lưu mang tính chất bịp bợm đến mức hủ
lậu như Văn Minh chồng tuyên truyền cho tiệm may Âu hóa với những trang
phục cách tân táo bạo đi trước cả thời đại, khuyến khích cho sự hở hang,
khoe da khoe thịt ở người phụ nữ. Nhắc đến những bộ trang phục tân thời thì
phải kể đến cái tên Typn (Típ-phờ-nờ) là “nhà mỹ thuật” được ca tụng với
tay nghề phó may đã thay đổi cuộc đời của những cô gái tân thời, mang lại
hạnh phúc cho biết bao gia đình cũng như các bà vợ không còn được trẻ
trung gì nữa. Thế nhưng thật nực cười khi chồng là một nhà cải cách văn
minh, hô hào “Âu hóa” lại cấm vợ mình rằng “Câm đi, đồ ngu! Khi người ta
cổ động đàn bà thì phải biết là cũng có năm bảy thứ đàn bà! Khi người ta
nói phụ nữ... là nói vợ con, chị em người khác, chứ không phải vợ con, chị
em của ta! Mợ đã hiểu chưa? Người khác thì được, mà mợ, mợ là vợ tôi, thì
mợ không thể tân thời như người khác được!” [20, tr245]. Hay như cậu Tú Tân
học hành chả ra cái tích sự gì chỉ được cái hay khoe mẽ đỉnh điểm là khoe cái
sự chụp hình đẹp trong đám tang ông cụ cố Tổ mà không hề có lấy một giọt
nước mắt thương tiếc cho sự ra đi của người thân trong gia đình đã phản ánh
20
cái sự vô cảm đáng sợ ở một con người được coi là có học thức. Còn có ngài
Phán Mọc Sừng bị vợ cắm cho mấy cái sừng lại không hề bực tức ngược lại
hắn ta còn muốn cảm ơn “cái sừng hươu vô hình” trên đầu đã giúp hắn có
thêm mấy đồng bạc. Cảnh tượng hắn khóc đến oặt người đi trong đám tang
ông cụ cố Tổ để nhân cơ hội mà đưa cho Xuân Tóc Đỏ tiền ơn huệ thì thật cái
sự vô liêm sĩ của hắn đã lên đến đỉnh điểm.
Ở cái xã hội lố lăng ấy xuất hiện Xuân Tóc Đỏ - một thứ sản phẩm hoàn
bùn tội lỗi. Hắn thông dâm với Thị Mịch tức là với vợ của cha mình và xét
theo vai vế trong nhà thì chính là thông dâm với mẹ kế, loạn luân với em gái
và dần trở thành một con người chỉ biết đến bản năng “qua một vài bận đầu,
đến những lần sau, Long mất hết vẻ thẹn, chỉ còn thấy lòng lửa dục bùng lên
như lửa bén vào rơm. Sau cùng, Long thấy việc giữ xe đạp là có thú vị lắm.
Cái mầm ham thích nhục dục ấy lại còn phát sinh ra bởi lòng căm hờn, lòng
phục thù, vì chính những lúc giữ xe đạp là những lúc Long lại tưởng tượng
ra cái quang cảnh vợ chưa cưới của chàng bị cưỡng bức một cách xấu xa.
Lòng căm hờn xưa nay vẫn mạnh hơn ái tình. Dục tình cũng lại mạnh hơn ái
tình.”[21, tr141]. Nhưng khốn thay “bố hiếp vợ của con, con thông dâm vợ
của bố...rồi thì anh em ruột...anh em ruột...” [21, tr325] Long đến uất ức với
cái sự thật đáng sợ đó để rồi phải ăn chơi trác táng cho quên sự đời, để rồi
phải cắt cổ tay trên giường gái giang hồ để hết đời.
Bên cạnh Long thì còn có Tú Anh - giám đốc Đại Việt học hiệu là một
con người tri thức nhưng lại nhu nhược, hiền lành “lại hơi có vẻ đàn bà” đối
ngược hẳn với người cha Nghị Hách (cha?) tàn ác. Cái sự hiền lành đến mức
thái quá của Tú Anh chẳng những không giúp đỡ được người khác ngược lại
còn hại họ mặc dù chủ ý của Tú Anh không như vậy, Tú Anh nằng nặc bắt
cha mình là Nghị Hách cưới cô Mịch để vớt lại tiết hạnh cho cô gái quê
nhưng ngờ đâu lại chia uyên rẽ thúy cuộc tình giữa Long và Mịch. Lúc sau,
ngài Tú Anh lại tạo cơ hội cho Long gặp hai cô em gái ngây thơ của mình để
dẫn đến cớ sự anh em loạn luân. Thật đáng buồn cho cái lòng tốt của nhà tiểu
tư sản Tú Anh.
Nếu không nhắc đến Nghị Hách thì quả là thiếu sót khi phân tích tiểu
thuyết này, là nhân vật phản diện đầy mưu mô và thủ đoạn vượt xa Xuân Tóc
Đỏ, ở Xuân Tóc Đỏ chỉ đơn thuần là sự ma lanh, láu cá thì Nghị Hách là sự
22
lõi đời, thâm độc khó dò. Ở Nghị Hách tồn tại hai trường phái một là cũ kỹ
khá rõ nét.
23
Chẳng hạn như người hàng xóm của nhân vật tôi trong truyện ngắn Một
đồng bạc hiện lên hình ảnh là “một người học thức trung lưu, đạo đức trung
lưu, tài sản trung lưu, đạo đức trung lưu, tài sản trung lưu; nghĩa là, nói tóm
lại, là một người chẳng đủ làm cho ai sợ nhưng cũng chẳng để cho ai khinh
được” [20, tr109]. Trong cái xã hội mà “Lối đánh giá con người vào thời buổi
bây giờ chỉ là lục lọi đến số tiền lương tháng nhiều hay ít, chứ có phải kể đến
học thức, nhân phẩm gì đâu!” [20, tr109] thì với đồng lương còm của anh thư
kí nhà buôn thì cực chẳng đã mới đi vay một đồng bạc thật thảm thương.
Nhưng trong cái sự nghèo túng kiểu trung lưu đấy thì những con người đó lại
sống với nhau bằng cái sự sĩ diện chạy vạy từng đồng không phải để lo cái ăn
cái uống mà lo cái sự sợ người ta coi khinh coi rẻ. Những người hàng xóm
mới tốt với nhau làm sao trong cái nghèo cái đói họ còn sức để chưng diện
cho bằng bạn bằng bè, còn sức để thết đãi nhau những buổi đi lễ chùa Hương,
những buổi nghỉ mát ở Sầm Sơn. Nhưng đó là khi còn là hàng xóm của nhau
đến khi không còn là hàng xóm nữa thì chỉ một đồng bạc thôi cũng khiến
nhân vật tôi phải đắn đó suy nghĩ lựa chọn câu chữ để không phải lụy về sau
này cũng vì đồng bạc mà chị Kí Bích phải rào trước đón sau nói năng nhỏ
nhẹ còn nhân vật tôi thì lại thấy phiền phức mặc dù khi còn của ăn của để họ
đã sống rất chân tình như anh em ruột thịt. Điều này khiến ta thấy rằng tình
người giữa thời buổi đó thật thiếu thốn quá đỗi.
Đấy là chuyện giữa những người hàng xóm với nhau nhưng vẫn còn
những chuyện trong nhà với nhau như chuyện của danh họa Khôi Kì (Hồ sê
líu hồ sê sàng) sống với một bà vợ suốt ngày chỉ biết nằm ườn ra mùa đông
cũng như mùa hạ và hai cô con gái quá tuổi lấy chồng rồi vẫn chưa có người
rước về làm vợ. Cuộc sống của danh họa phải chịu nhiều sự tréo ngoe khi
suốt ngày phải nai lưng ra làm để phục vụ cho những nhu cầu hết sức rởm
không buồn lâu bởi anh còn hai hào để giết cái buồn bằng thuốc phiện như
bao kẻ khổ sở khác ở trên đời.
Hầu hết các nhân vật tiểu tư sản của Vũ Trọng Phụng không có được cái
sự dằn vặt nội tâm sâu sắc như của Nam Cao hay chỉ là dằn vặt trong phút
chốc, trong một khoảnh khắc tâm trạng như các sáng tác của Thạch Lam bởi
vì với Vũ Trọng Phụng các nhân vật của ông là con người thiên về hành động
chứ không phải thiên về lí tính. Cũng bởi vậy nên những nhân vật của ông
25