Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Từ Nhiều Nghĩa Ở Lớp 5 - Pdf 40

1. Phần mở đầu:
1.1 Lý do chọn sáng kiến:
Trong các môn học ở tiểu học, môn Tiếng Việt là môn học có nhiệm vụ cung cấp
cho học sinh những tri thức về hệ thống Tiếng Việt (cấu tạo từ, cấu trúc ngữ pháp,
quy tắc hoạt động của ngôn ngữ). Ngôn ngữ Tiếng Việt rất phong phú và đa dạng đặc
biệt là hệ thống vốn từ. Bước vào năm học lớp 5 là lớp cuối cùng của bậc tiểu học,
học sinh được tìm hiểu nhiều kiến thức về các lớp từ trong đó có kiến thức về từ nhiều
nghĩa. Theo sách giáo khoa Tiếng Việt 5 (trang 67 - Tập 1): “Từ nhiều nghĩa là từ có
một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển. Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ
cũng có mối liên hệ với nhau”. Như vậy khái niệm nghĩa gốc - nghĩa chuyển của một
từ nhiều nghĩa được hiểu như sau:
- Nghĩa gốc: Là nghĩa cơ bản, là nền tảng cho sự phát triển nghĩa của từ. Trong từ
điển nghĩa gốc được nói đến đầu tiên.
- Nghĩa chuyển: Là loại nghĩa được hình thành từ nghĩa gốc, có mối quan hệ mật thiết
với nghĩa gốc. Trong từ điển, nghĩa chuyển được nói đến sau nghĩa gốc.
Ví dụ : Đối với từ “răng” nghĩa gốc của nó là phần xương cứng, màu trắng, mọc trên
hàm, dùng để cắn, giữ và nhai thức ăn. Các cách hiểu khác về từ “răng” ngoài cách
hiểu nêu trên được xem là nghĩa chuyển (ví dụ: răng lược, răng cưa, răng cào). Điểm
giống của từ “răng” ở cả nghĩa gốc và nghĩa chuyển là: đều chỉ vật nhọn, sắc, sắp xếp
đều nhau thành hàng.
Qua ví dụ trên ta thấy việc nhận dạng từ nhiều nghĩa đối với học sinh là tương
đối khó. Đối với lớp mình chủ nhiệm, tôi nhận thấy rằng khi tìm hiểu về từ nhiều
nghĩa học sinh đôi khi còn nhầm lẫn giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển, ngoài ra một số
em còn nhầm lẫn giữa các lớp từ: từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm. Học
sinh còn lúng túng trong quá trình vận dụng đặt câu có từ nhiều nghĩa, vốn hiểu biết
của các em về từ nhiều nghĩa còn hạn chế, sử dụng từ nhiều nghĩa trong viết văn chưa
phong phú, chưa đa dạng. Đối với học simh lớp 5, chúng ta không thể yêu cầu học
sinh nắm vững các thành phần ý nghĩa của từ, cách thức chuyển nghĩa của từ song yêu
1



trình học tập. Trăn trở với nghề nghiệp, nhiều giáo viên cũng như tôi đã luôn tìm tòi
các biện pháp phù hợp giúp học sinh nắm chắc kiến thức về từ nhiều nghĩa để từ đó
các em có thể làm được các bài tập về từ nhiều nghĩa một cách dễ dàng và thành thạo.
Tuy nhiên việc tìm hiểu về từ nhiều nghĩa ở học sinh đôi khi còn mang nặng tính hình
thức, chưa thật tập trung vào để hiểu về dạng từ. Một phần khác do học sinh còn máy
móc theo khuôn mẫu của giáo viên đã định ra chứ không có sự tìm tòi tài liệu chi tiết.
4


2.2 Các giải pháp dạy từ nhiều nghĩa ở lớp 5:
Là người thầy giáo, cô giáo trực tiếp đứng lớp giảng dạy hơn ai hết phải hiểu rằng
việc nâng cao chất lượng giáo dục là vấn đề được quan tâm hàng đầu, luôn là mục tiêu
phấn đấu của mỗi cấp học, bậc học. Đặc biệt lớp 5 là lớp cuối cấp, đòi hỏi học sinh
phải nắm vững các kiến thức cơ bản của phân môn Luyện từ và câu trong đó có kiến
thức về từ nhiều nghĩa. Các bài tập về từ nhiều nghĩa trong sách giáo khoa Tiếng Việt
5 được chia thành các dạng như sau:
1/ Tìm nghĩa của từ.
2/ So sánh các nghĩa của từ: giống nhau và khác nhau.
3/ Tìm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của một số từ thông qua một só câu cụ thể.
4/ Tìm một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của từ.
5/ Đặt câu để phân biệt được các nghĩa của từ nhiều nghĩa.
6/ Phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm, từ đồng nghĩa.
Để học sinh nắm chắc các dạng bài tập nêu trên giáo viên cần:
1. Nắm vững kiến thức về từ nhiều nghĩa:
Phương pháp dạy học mới không cho phép giáo viên cung cấp kiến thức cho học
sinh theo kiểu truyền thụ một chiều song lại yêu cầu giáo viên phải nắm vững kiến
thức sâu sắc để hướng dẫn cho học sinh. Đối với các tiết Luyện từ và câu về từ nhiều
nghĩa vốn kiến thức của giáo viên rất quan trọng. Muốn có điều này giáo viên phải bồi
dưỡng, nghiên cứu kĩ tài liệu, đặc biệt phải nắm rõ các nghĩa của từ một cách chính
xác.


giao thông.
d) Sự di chuyển nhanh bằng chân.

Từ “chạy”
(1) Bé chạy lon ton trên sân.
(2) Tàu chạy băng băng trên đường ray.

Các nghĩa khác nhau
d) Sự di chuyển nhanh bằng chân.
c) Sự di chuyển nhanh của phương tiện

(3) Đồng hồ chạy đúng giờ.
(4) Dân làng khẩn trương chạy lũ

giao thông.
a) Hoạt động của máy móc.
b) Khẩn trương tránh những điều không

may xảy đến.
3. Cần sử dụng các phương pháp dạy học mới:
Để dạy tốt các tiết học về từ nhiều nghĩa giáo viên cần đưa các phương pháp dạy
học mới như phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề,
phương pháp trò chơi.
- Phương pháp thảo luận nhóm: Nhằm giúp học sinh tham gia tính cực chủ động vào
quá trình học tập, học sinh có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hay để cùng giải quyết
một vấn đề khó khăn nào đó.
- Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: Nhằm mục đích đưa học sinh vào tình huống
có vấn đề, từ đó kích thích sự hứng thú học tập của học sinh vào việc giải quyết vấn
đề đưa ra.

- Nhận xét 1: mũi của em bé, mũi của con mèo, mũi của con chó.
- Nhận xét 2: học sinh tìm thêm được từ chứa tiếng mới: mũi thuyền, mũi dao.
Qua hai nhận xét học sinh hiểu được mũi của chiếc thuyền, mũi cái dao không
ngửi được như mũi người hay mũi động vật nhưng vẫn gọi là mũi vì chúng cùng chỉ
bộ phận có đầu nhọn nhô ra phía trước. Giáo viên yêu cầu học sinh tìm thêm các từ
chứa tiếng mũi có nghĩa (ví dụ: mũi súng, mũi đất). Tiếp theo yêu cầu học sinh nhận
xét được từ mũi qua nhận xét 1 và nhận xét 2 có 2 nghĩa: nghĩa ở nhận xét 1 là nghĩa
gốc. Nghĩa ở nhận xét 2 là nghĩa chuyển. Hai nghĩa này có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau.
7


Sau khi học sinh nắm vững nhận xét 1 và nhận xét 2 cần đặt câu hỏi vấn đáp để
giúp học sinh nhớ khái niệm từ nhiều nghĩa. Yêu cầu học sinh lấy ví dụ về từ nhiều
nghĩa. Giáo viên cùng học sinh phân tích từ vừa tìm được. Nếu học sinh còn lúng
túng, giáo viên có thể lấy ví dụ về từ nhiều nghĩa trong các kết hợp từ khác nhau.
Ví dụ: Từ “chân”
- Câu 1: Em bị đau chân.
- Câu 2: Cái chân giường đã bị gãy.
- Câu 3: Ở chân núi phía xa, bầu trời như thấp dần.
Đối với ví dụ này giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét được từ chân trong câu 1
có nghĩa là phận cuối cùng của cơ thể người hoặc động vật dùng để đi, đứng. Từ chân
trong câu thứ 2 có nghĩa là bộ phận cuối cùng của đồ dùng, có tác dụng đỡ bộ phận
khác. Từ chân trong câu thứ 3 có nghĩa là phần cuối cùng của một vật, tiếp giáp và
bám chặt với mặt nền. Từ đó có thể rút ra kết luận, “chân” trong chân giường, “chân”
trong “chân núi” là nghĩa chuyển của từ “chân” trong chân người.
*Với bài tập có dạng tìm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ trong các câu văn.
Giáo viên nên cho học sinh thảo luận, phát biểu ý kiến của mình sau khi học
sinh đã rút ra được kết quả đúng. Giáo viên nên yêu cầu học sinh tìm thêm một số câu
hay từ chứa tiếng đó mang nghĩa chuyển.

ở cột A ứng với nghĩa ở cột B giáo viên nên tổ chức các trò chơi học tập như trò chơi:
“Nhà giải nghĩa giỏi”, “ Ai nhanh hơn”, “Ai giỏi hơn”. Đồng thời sau khi học sinh
chơi phải yêu cầu học sinh nêu lí do vì sao em làm như vậy.
Đối với các bài tập yêu cầu học sinh đặt câu để phân biệt từ nhiều nghĩa là động
từ hay tính từ, giáo viên nên hướng dẫn học sinh tìm từ ứng với từng nghĩa rồi đặt câu
với những từ vừa tìm được. Nên khuyến khích học sinh tìm được nhiều từ, có khi đó
là những từ có nghĩa khác như thế học sinh sẽ nắm vững nghĩa hơn sau khi được giải
thích từ giáo viên .
Ví dụ: Từ “đứng”
- Nghĩa 1: ở tư thế chân thẳng, chân đặt trên mặt nền.
- Nghĩa 2: ngừng chuyển động.
Học sinh đặt câu:

- Nghĩa 1: Cả lớp cùng đứng nghiêm trang để làm lễ chào cờ.
- Nghĩa 2: + Trời đứng gió.
9


+ Đồng hồ đã đứng tim.
Song song với biện pháp trên đối với dạng bài tập này để giúp học sinh phân
biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển, giáo viên nên sử dụng một số câu hỏi để giúp học
sinh hình dung ra nghĩa ban đầu của nó.
Ví dụ:
? Nhắc đến “cao” ta có suy nghĩ thế nào? (chiều cao lớn hơn mức bình thường)
? Từ “nặng” gợi cho ta điều gì? (trọng lượng lớn hơn mức bình thường)
? Từ “ngọt” gợi cho ta cảm giác gì? (vị ngọt của đường, mật)
Học sinh sẽ dể dàng nhận ra nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ trong dạng bài tập
này và cũng nhờ thế mà học sinh dễ dàng đặt câu theo yêu cầu bài tập.
c. Dạng bài tập yêu cầu phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa
- Đây là một dạng bài tập khó đối với học sinh vì học sinh rất khó khăn trong việc gọi

Nghĩa của từ “vạt” trong các câu trên cụ thể như sau:
Câu 1: mảnh đất trồng trọt trải dài trên đồi, núi.
Câu 2: đẽo xiên thân cây.
Câu 3: thân của cái áo.
Giáo viên giải thích: từ “vạt” ở câu 1 với từ “vạt” ở câu 3 thể hiện hai nghĩa khác
nhau của một từ nhiều nghĩa. Chúng đồng âm với từ “vạt” ở câu 2.
*Sau mỗi tiết luyện tập để củng cố kiến thức cho học sinh, giáo viên có thể đưa ra
thêm một số dạng bài tập mới. Mục đích của các bài tập này là củng cố, mở rộng kiến
thức từ nhiều nghĩa.
Dạng bài tập 1: Tìm từ đồng nghĩa có tể thay thế từ nhiều nghĩa trong các câu văn.
Ví dụ : Tìm từ có thể thay thế từ ăn trong câu sau:
- Cháu mời ông ăn cơm. (dùng bữa)
- Chiếc xe máy này ăn xăng lắm. (tốn, hao)
- Tàu vào bến ăn than. (tiếp nhận)
- Mẹ tôi là người làm công ăn lương. (hưởng)
- Minh bị ăn đòn vì làm bể bình hoa cổ của ông nội. (chịu)
- Da bé Hoa bị ăn nắng nên rất đen. (bắt)
- Lọ keo dán này đã hết hạn sử dụng nên dán không ăn. (dính)
- Rễ cây đa ăn sâu vào lòng đất. (cắm)
Dạng bài tập 2: Cho từ trong các kết hợp từ, tìm nghĩa của nó tương ứng.
Ví dụ: Trong câu sau: “Tiếng đàn của anh ấy nghe rất ngọt”. Dòng nào dưới đây nêu
đúng nét nghĩa của từ ngọt? Chọn câu trả lời đúng:
- Có vị ngọt như vị của đường, mật.
- (Lời nói) nhẹ nhàng, dễ nghe.
- (Âm thanh) nghe êm tai.
Dạng bài tập 3: Cho nghĩa của từ trong kết hợp từ, câu văn. Tìm câu có từ dùng với
nghĩa đó.
11




Mức 2

Mức 3

Đầu năm

9 - 34,6%

11 - 42,3%

6 - 23,1%
12


Cuối học kì I
4 - 15,4%
13 - 50,0%
9 - 34,6 %
Cuối HKII
2 - 7,7%
10 - 38,5%
14 - 53,8%
Qua kết quả trên ta thấy nếu giáo viên khéo léo trong việc sử dụng các biện pháp
dạy học mới, kích thích được hứng thú học tập của học sinh thì kết quả học tập của
các em sẽ tốt hơn. Từ đó nâng cao kết quả dạy học môn Tiếng Việt nói chung và chất
lượng giáo dục tiểu học nói riêng.
Nhìn vào kết quả khảo sát và số liệu ghi chép tôi rất phấn khởi thấy các giờ học về
từ nhiều nghĩa diễn ra sôi nổi, hào hứng, các em say mê, yêu thích giờ học. Kỹ năng
làm các dạng bài tập về từ nhiều nghĩa được nâng cao rõ rệt. Có nhiều em khi bắt đầu

Áp dụng đối với tất cả đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5 trong toàn tỉnh.
3.2 Những kiến nghị, đề xuất :
Lãnh đạo nhà trường thường xuyên thăm lớp dự giờ để rút kinh nghiệm cho
giáo viên. Nên tạo điều kiện phát huy những năng lực, sự sáng tạo trong giảng dạy
của từng giáo viên nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
Nên tổ chức các chuyên đề về từ nhiều nghĩa để giáo viên được học hỏi kinh
nghệm lẫn nhau, cùng nhau tìm phương pháp, hình thức dạy học phù hợp nhất.
Đối với bản thân tôi dạy học từ nhiều nghĩa ở tiểu học là một vấn đề rất khó và
phức tạp. Việc nắm vững các kiến thức về từ nhiều nghĩa góp phần quan trọng nâng
cao kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh để từ đó học sinh có thể giao tiếp tốt
trong môi trường học tập hàng ngày.
Trên đây là bản sáng kiến kinh nghiệm của tôi trong những năm công tác, giảng
dạy. Bước đầu bản thân tôi nhận thấy có những thành công song so với yêu cầu giáo
dục hiện nay vẫn còn nhiều khiếm khuyết, kính mong các đồng nghiệp góp ý bổ sung
để cùng nhau thực hiện tốt việc rèn luyện kỹ năng học từ nhiều nghĩa ở lớp 5 cho học
sinh.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

14


MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TỪ NHIỀU
NGHĨA Ở LỚP 5

Quảng Bình, tháng 3 năm 2016

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status