Sinh học trong việc giảng dạy các nguyên lý và các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật - Pdf 40

MỤC LỤC

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, thế giới đang có những bước chuyển mình mạnh
mẽ, cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra như vũ bão, cùng với sự bùng nổ
của công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế … Đang có tác
động to lớn tói sự phát triển của nền kinh tế tất cả các nước trên thế giới.
Ngày nay, trong sự phát triển nền kinh tế của đất nước không thể không
thể có sự vắng bóng của yếu tố khoa học - công nghệ. Bởi lẽ, khoa học - công
nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trong quá trình sản xuất, nhờ vào
việc ứng dụng những thành tựu, phát minh khoa học mà hiệu quả lao động ngày
càng cao, năng xuất lao động ngày càng tăng. Do đó, để thúc đẩy nền kinh tế đất
nước phát triển vượt bậc, thì mỗi quốc gia cần phải quan tâm, đầu tư phát triển
khoa học đúng mức.
Vậy, khoa học là một hệ thống những tri thức phản ánh những quy luật
vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó bao gồm rất nhiều
những bộ môn khoa học cụ thể, giữa chúng lại có mối quan hệ tác động qua lại
lẫn nhau, bổ trợ cho nhau không tách rời nhau. Trong đó, mối quan hệ giữa triết
học và sinh học là một sự tiêu biểu cho những mối quan hệ kiểu như vậy.
Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế
giới, về vị trí vai trò của con người trong thế giới ấy. Triết học ra đời từ thực
tiễn, do nhu cầu của thực tiễn. Chức năng cơ bản nhất của nó là cung cấp thế
giới quan và phương pháp luận chung nhất cho hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn cho con người.
Sinh học là một bộ môn khoa học về sự sống, về những quy luật hình
thành, vận động và phát triển của sự sống diễn ra trong sinh vật, là sự giải đáp
những vấn đề cụ thể về sự trao đổi năng lượng giữa cơ thể động vật và thực vật

nói”. Mỗi lần có một phát minh vạch thời đại, ngay cả trong lĩnh vực khoa học
tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật không tránh khỏi thay đổi nhận thức của nó”.
Lịch sử triết học nhân loại đã cho thấy, triết học duy vật biện chứng ra
đời không chỉ dựa trên những cơ sở kinh tế xã hội và cơ sở lý luận, thì nó còn
dựa trên ba phát minh khoa học lớn, có tính vạch thời đại. Trong đó, có hai phát
2


minh thuộc về sinh học đó là: Học thuyết tiến hóa của Đác Uyn, thuyết tế bào
của Svan và Slayden cùng với định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
của Rô béc Maye và Len xơ.
Mặt khác, nghiên cứu triết học trong sinh học giúp cho các nhà sinh học
nhận thức và biết vận dụng mọt cách đúng đắn sang tạo thế giới quan duy vật
biện chứng đúng đắn và phương pháp luận khoa học triết học vào quá trình
nghiên cứu sinh học.Giúp cho các nhà sinh học có thể tiến xa hơn,đi sâu hơn và
đạt được thành tựu lớn hơn trong lĩnh vực nghiên cứu của mình.
Không chỉ trong nghiên cứu mà trong lĩnh vực giảng dạy triết học Mác Lê nin. Thì việc vận dụng các tri thức sinh học trong giảng dạy triết học nói
chung và trong các nguyên lý và các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy
vật cũng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết. Bởi lẽ, các tri thức,
các nguyên lý, quy luật triết học thường khó và trìu tượng ,nên người học sẽ rất
khó khăn trong việc tiếp thu và lĩnh hội.
Việc nghiên cứu và vận dụng tri thức sinh học vào trong giảng dạy triết
học sẽ làm mềm hóa tri thức triết học và làm cho bài giảng sinh động hơn ,gắn
liền với thực tiễn hơn, do vậy sẽ thu hút được người học và làm cho giờ học hiệu
quả hơn.
Đặc biệt, việc vận dụng những tri thức sinh học trong giảng dạy các
nguyên lý các quy luật cơ bản của phép biện chứng ,còn trang bị cho người học
những tri thức vừa rộng hơn vừa sâu hơn và toàn diện hơn về thế giới để từ đó
nâng cao hiệu quả trong hoạt động học tập và nghiên cứu và hoạt động thực tiễn
của mình.

thực của sinh học, Ăng ghen đã chứng minh rằng: Quá trình hình thành sự sống
và loài người là quá trình phát triển biện chứng của tự nhiên. Tác phẩm đã cung
cấp những luận điểm quan trọng, những quan niệm duy vật biện chứng về quá
trình phát triển biện chứng của thế giới tự nhiên sinh vật.
Một trong những công trình khoa học tiêu biểu phải kể tới cuốn: “Quan
niệm biện chứng về sự phát triển trong sinh học hiện đại”, được dịch từ nguyên
bản tiến Nga, xuất bản năm 1980. Đã trình bày một cách hệ thống những quan
niệm biện chứng về các vấn đề của sinh học hiện đại với những đóng góp tích
4


cực như: quan niệm giới hữu cơ như một hệ vật chất toàn vẹn tự thân phát triển,
quan niệm về tính quy luật trong sự phát triển của giới hữu cơ,quan niệm về
mâu thuẫn là nguồn gốc sự phát triển của giới hữu cơ.
Đặc biệt, giáo trình Triết học trong khoa học tự nhiên của tác giả Nguyễn
Như Hải đã trình bày một cách khái quát về ý nghĩa triết học trong các vấn đề
về sự sống, trong học thuyết tiến hóa và trong vấn đề về sinh thái học xã hội và
sinh quyển.
Trong cuốn giáo trình “ Tiến hóa”, xuất bản 2009 của Nguyễn Xuân Viết.
Tác giả đã trình bày một cách khá biện chúng và đầy đủ về quá trình tiến hóa lâu
dài của giới sinh vật từ những đơn vị tiến hóa cơ sở là quần thể đến sự tiến hóa
cấp độ trên loài, nguồn gốc phát sinh sự sống trên trái đất và nguồn gốc xuất
hiện loài người… Qua sự phân tích khoa học và bằng chứng sinh học sát thực
mà giáo trình nêu ra đã chứng tỏ rằng: Quá trình phát triển của thế giới sinh vật
tự nhiên là một quá trình tiến hoá lâu dài, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn..
Gần đây nhất, trong cuốn “ Môi trường và con người sinh thái học nhân
văn” xuất bản năm 2011 của các tác giả Vũ Quang Mạnh và Hoàng Duy Chúc
viết đã trình bày một cách khá sinh động và phong phú những vấn đề mà sinh
học hiện đại ngày nay đang đặt ra. Đặc biệt là vấn đề về môi trường, về sinh

Cơ bản của phép biện chứng duy vật.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó có sử dụng một số phương
pháp cụ thể như: Phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích, so
sánh, tổng hợp và phương pháp logic kết hợp với lịch sử.

6


6. Đóng góp của đề tài
• Đóng góp về mặt lý luận
Góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận triết học
Mác - Lê nin và tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa triết học với các khoa học
tự nhiên, cụ thể là sinh học.
• Đóng góp về mặt thực tiễn
Từ việc chỉ ra các yếu tố triết học trong sinh học để vận dụng những tri
thức đó vào thực tiễn học tập và giảng dạy các nguyên lý và quy luật cơ bản của
các phép biện chứng duy vật. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng bài giảng và
hiệu quả của việc học tập, lĩnh hội những tri thức của triết học Mác - Lê nin.
7.Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo ra: Đề tài
gồm 2 chương và 6 tiết.
Chương 1: Mối quan hệ giữa sinh học và triết học
1.1 Khái quát chung về triết học và sinh học
1.2 Mối quan hệ giữa triết học và sinh học
1.3 Yếu tố triết học trong sinh học
Chương 2: Vai trò của sinh học trong giảng dạy các quy luật cơ bản
của phép biện chứng duy vật
2.1 Những khó khăn trong giảng dạy bộ môn triết học Mác - Lê nin

Sinh học bao hàm nhiều ngành khoa học khác nhau được xây dựng trên
những nguyên lý riêng. Có bốn nguyên lý tạo thành nền tảng cho sinh học hiện
đại đó: Lý thuyết tiến hóa tế bào; tiến hóa; di truyền và cân bằng nội tại.
Sự ra đời của sinh học bắt đầu từ thế kỷ XIX, khi các nhà khoa học tìm
thấy các đặc điểm chung cơ bản giữa các loài.
Ngày nay, sinh học đã trở thành môn học chuẩn và bắt buộc trong các
trường học các cấp và cao đẳng, đại học trên khắp thế giới và rất nhiều bài báo
được công bố hàng năm ở trên khắp các tạp trí chuyên ngành về y học và sinh học.


Lịch sử hình thành và phát triển của sinh học

Có thể nói rằng cho đến nay, việc phân chia lịch sử ra đời và phát triển
của sinh học vẫn chưa đi đến một sự thống nhất chung. Bởi lẽ xoay quanh vấn
đề này vẫn còn tồn tại rất nhiều những quan điểm khác nhau. Cơ sở để phân chia
sinh học chủ yếu dựa vào sự phát triển của sinh học ở Châu Âu. Song, có thể
phân kỳ lịch sử của sinh học theo bốn thời kỳ khác nhau cụ thể là:
Thời kỳ thứ nhất: Từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XV
Ở thời kỳ này thì về cơ bản Sinh học vẫn chưa có đối tượng nghiên cứu
8


riêng. Những nhà triết học đồng thời cũng là những nhà khoa học - sinh học mới
chỉ có những phỏng đoán về sự sống, nguồn gốc của giới sinh vật. Chẳng hạn
một số quan điểm về sự sống đầu tiên đã xuất hiện, thời Trung Quốc cổ đại sự
kết hợp của hai thực khí Âm và Dương tạo ra ngũ hành, trên cơ sở ngũ hành đó
tạo ra vạn vật và sự sống, Thời Hi Lạp cổ đại nhà triết học Anaximen cho rằng
dưới tác động của ánh sáng vào nước đã làm nảy sinh các động vật ở dưới nước,
rồi đến các động vật trên cạn.
Từ thế kỷ XIV và XV: Ở phương Đông sinh học vẫn phát triển. Trái lại ở


Vị trí của sinh học trong khoa học

So với hầu hết các ngành khoa học khác, đặc biệt là các khoa học tự
nhiên. Thì sinh học ra đời muộn hơn rất nhiều. nó chính thức trở thành một
ngành khoa học độc lập bắt đầu từ thế kỷ XIX.
Sự xuất hiện của sinh học có vai trò quan trọng trong sự phát triển của
khoa học và trong lịch sử phát triển nhận thức con người
Nó giúp con người hiểu rõ được những quy luật hình thành, vận động và
phát triển và phát triển sự sống diễn ra trong sinh vật đồng thời lý giải được
những vấn đề cụ thể về sự trao đổi năng lượng giữa những cơ thể động vật và
thực vật với môi trường. quá đó con người có thể tìm rs được quy luật hình
thành và phát triển của các động vật và thực vật, để từ đó ứng dụng vào trong
hoạt động lao động xản suất thực tiễn, phục vụ cho cuộc sống của con người.
Trong suốt lịch sử phát triển của sinh học, ở mỗi thời kỳ phát triển thì sinh
học lại có những mức độ tác động khác nhau tới các ngành khoa học khác. Ở
những thời kỳ đầu thì sự tác động của sinh học còn chưa sâu sắc. Song, càng về
sau thì sự tác động đó càng mạnh mẽ và rõ nét hơn.
Hiện nay, Sinh học càng ngày càng chiếm các vị trí quan trọng trong khoa
học và có mối quan hệ chặt chẽ với tất cả các khoa học khác, những thành tựu
mà sinh học đạt được đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ trong sự phát triển kinh
tế - xã hội cũng như trong bước đầu nghiên cứu về cấu trúc của con người.
● Những đặc điểm cơ bản về sinh giới.
Khái niệm giới sinh vật: Giới là đơn vị phân loại lớn nhất bao gồm
10


những sinh vật có chung những đặc điểm nhất định.
Việc phân chia sinh vật thành các giới tùy vào đặc điểm nhất định của
từng thời kỳ:

cấu tạo đi từ đơn giản đến phức tạp, có sự phân hóa và chuyên hóa cao dần, giữ
các giới ngày càng hoàn thiện về phương thức dinh dưỡng. Trong đó, con người
là sản phẩm tiến hóa cao nhất và hoàn thiện nhất của giới tự nhiên.
1.1.2 Triết học
• Khái niệm triết học
Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế
giới, về vị trí , vai trò của con người trong thế giới ấy.
Triết học ra đời là dựa trên yêu cầu đòi hỏi của hoạt động lý luận và hoạt
động thực tiễn.
● Cơ sở hình thành của triết học Mác
Triết học Mác - Lê nin ra đời vào những năm bốn mươi của thế kỷ XIX,
là một trong ba bộ phận cấu thành nên chủ nghĩa Mác - Lê nin. Nó có hai chức
năng cơ bản đó là cung cấp thế giới quan và phương pháp luận chung nhất cho
nhận thức khoa học và cho hoạt động thực tiễn.
Ngoài cơ sở về kinh tế xã hội và cơ sở lý luận, thì sự ra đời của triết
học Mác - Lê nin còn được chuẩn bị bởi sự phát triển và thành tựu của khoa
học tự nhiên nửa đầu thế kỷ XIX. Ba phát minh khoa học lớn có tính chất
vạch thời đại đó là:
Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng do nhà vật lý học người
Đức Rôbéc Maye vào năm 1842 - 1845, đã chứng minh một cách khoa học về
mối quan hệ không tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn của
các hình thức vận động của vật chất trong giới tự nhiên.
Học thuyết tiến hóa của Đác Uyn, đã đem lại cơ sở khoa học về sự phát
sinh, phát triển đa dạng về tính di truyền, biến dị và mối liên hệ hữu cơ giữa các
loài động vật và thực vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên.
Học thuyết về cấu tạo tế ào thực vật và động vật do các nhà khoa học
người Đức M. Slayden và T. Savanxo xây dựng vào những năm 30 của thế kỳ
XIX, là một căn cứ khoa học quan trọng để chứng minh sự thống nhất về mặt
12


13


thực. Những cặp phạm trù này còn được gọi là những quy luật không cơ bản.
Như vậy, triết học Mác - Lê nin nói chung và phép biện chứng duy vật nói
riêng là hệ thống những tri thức lý luận chung nhất về tự nhiên, xã hội và tư
duy. Nó có mối liên hệ chặt chẽ và vai trò to lớn đối với tất cả các khoa học
khác. Bởi lẽ nó có chức năng quan trọng là cung cấp thế giới quan và phương
pháp luận khoa học , đúng đắn cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
của con người.
Hiện nay, triết học Mác - Lê nin vẫn là sự phát triển đỉnh cao trong lịch sử
tư tưởng của nhân loại và chưa xuất hiện được một học thuyết triết học nào có
thể vượt lên trên nó.
1.2

Mối quan hệ giữa triết học và sinh học

Nếu như sinh học là một môn khoa học về sự sống, về những quy luật
hình thành và phát triển của sự sống diễn ra trong sinh vật, là sự giải đáp những
vấn đề cụ thể về sự trao đổi năng lượng giữa cơ thể động vật và thực vật với môi
trường thì:
Triết học là một hệ thống những tri thức lý luận chung nhất về tự nhiên,
xã hội và tư duy, về vai trò, vị trí của con người trong thế giới ấy.
Sinh học là một nhánh của các môn khoa học tự nhiên. Nó có mối quan hệ
chặt chẽ với tất cả các môn khoa học khác và đương nhiên triết học không nằm
ngoài mối quan hệ đó.
Giữa sinh học và triết học có mối quan hệ chặt chẽ tác động biện chứng
qua lại với nhau không thể tách rời.Mối quan hệ tác động hai chiều đó được thể
hiện ở vai trò của triết học đối với sinh học và ngược lai.
- Vai trò của triết học đối với sinh học

tộc…Vì vậy, mối quan hệ giữa triết học và sinh học cũng như tất cả các ngành
khoa học khác ngày càng mật thiết và khăng khít hơn nữa.Để cùng chung tay
hướng vào giải quyết những vấn đề cấp bách của toàn cầu hiện nay.

15


1.3

Yếu tố triết học trong sinh học

Triết học và sinh học là hai môn khoa học độc lập, có đối tượng nghiên
cứu riêng của mình.Tuy nhiên giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng
tác động qua lại với nhau. Trong mối quan hệ ấy thì triết học cung cấp thế giới
quan, phương pháp luận khoa học , đúng đắn cho sinh học
Ngược lại, sinh học cung cấp tài liệu, tư liệu, bằng chứng sinh học xác
thực, để từ cơ sở hiện thực đó,triết học khái quát lên hệ thống những nguyên lý,
quy luật triết học của mình.
Việc đi tìm các yếu tố triết học trong các lĩnh vực mà sinh học nghiên
cứu, chính là quá trình tìm ra ý nghĩa triết học trong các vấn đề sinh học đó. Đây
là một việc là cần thiết, bởi lẽ qua đó có thể nhận thấy được mối liên hệ ,gắn bó
mật thiết giữa triết học và sinh học. Mục đích là nhằm hướng vào giải quyết các
hiện tượng, các vấn đề phức tạp mà sinh học và triết học đang đặt ra trong thời
đại ngày nay.
Ngày nay, thế giới sinh học vô cùng phong phú và đa dạng. Song, các lĩnh
vực mà sinh học nghiên cứu đều ít nhiều mang yếu tố triết học và ý nghĩa triết
học nhất định. Tiêu biểu và rõ nét hơn cả là trong các lĩnh vực như: Vấn đề về
sự sống và tiến hóa; vấn đề sinh thái học nhân văn…
1.3.1 Vấn đề sự sống và yếu tố triết học của nó
1.3.1.1 Vấn đề về sự sống

hình thức vận động của vật chất, giữa sự sống và không sống có sự khác biệt về
chất.Nếu giới vô cơ hoạt động theo quy luật cơ, lý, hóa học thì sự sống hoạt
động theo các quy luật của sinh học. Trong tác phẩm “ Chống Đuyrinh “. Ăng
ghen đã đưa ra định nghĩa: “ Sự sống là phương thức tồn tại của những thể
Abumin mà yếu tố quan trọng là sự trao đổi chất thường xuyên với thế giới tự
nhiên bên ngoài xung quamh nó. Khi sự trao đổi chất đó chấm dứt thì sự sống
cũng chấm dứt và chất abumin ấy bắt đầu bị phân hóa”. Các thể abumin đó,
trước đây được khoa học xác định là một loại Protein đơn giản, nhưng gần đây
người ta xác định được rằng, cơ sở của sự sống là loại protein phức tạp gồm
17


lipoprotein và clomopeotit. Khi các protein này đứng riêng rẽ nó thuần túy là
những hợp chất hóa học không có sự sống. Nó chỉ trở thành sự sống khi nằm
trong nguyên sinh chất của tế bào.
Ngày nay, Sự sống còn được hiểu là một quá trình diễn ra từ lúc sinh vật
được tạo thành ( sinh ra ) cho đến lúc nó phân dã ( hay chết đi). Ngoài ra, sự
sống có thể hiểu được là một điều kiện cho phép một hệ thống ( thực thể) nào
đó được sinh ra, tồn tại với những đặc tính sống và phải chết đi tại một thời
điểm xác định.
Thay vì đi tìm một định nghĩa hoàn hảo về sự sống. Người ta nêu ra ba
đặc tính cơ bản của sinh vật:
+ Được cấu tạo từ tế bào
+ Có a xít nucleic là vật liệu di truyền
+ Có khả năng thực hiện các phản ứng trao đổi chất và năng lượng.
● Cơ sở vật chất của sự sống
Dấu hiệu đầu tiên là khả năng trao đổi chất và năng lượng, nhờ có mà
dẫn tới sự thường xuyên đổi mới thành phần hóa học của tổ chức là đặc thù
của sự sống.
Những dấu hiệu khác của sự sống là sinh trưởng, cảm ứng, vận động,

thuyết phục L. Paxtơ đã khẳng định rằng kể cả những vi sinh có những cáu tạo
rất đơn giản cũng không thể cấu tạo từ chất vô cơ.
Thuyết sự sống vĩnh cửu khẳng định rằng: Sinh vật chỉ có thể phát sinh từ
sinh vật và sự sống trên trái đất được chuyển từ các hành tinh khác tới dưới dạng
những ” hạt sống ”.
Quan niệm duy vật biện chứng cho rằng: Sự sống trên trái đất đã được
hình thành từ chính trên trái đất và là kết quả của sự vận động lâu dài của vật
chất, phát triển đến một trình độ nhất định. Ăng ghen quan niệm: Sự sống
không tồn tại vĩnh cửu, cũng không tự sinh bất ngờ mà nó xuất hiện trong quá
trình tiến hóa của vật chất ở khắp nơi và bất cứ lúc nào có những điều kiện
cần thiết. Ăng ghen đã tuyên đoán “ Sự sống nhất định sẽ hình thành theo
phương thức hóa học ”.
Cho đến nay, hầu hết các nhà sinh học nói chung và các nhà tiến hóa nói
19


riêng đều cho rằng: Sự sống trên trái đất đã được tiến hóa từ chính trên trái đất
được lý giải về cơ bản như sau:
Các phân tử hữu cơ đầu tiên chủ yếu xuất hiện từ các vật chất vô cơ đầu
tiên có mặt trên trái đất. quá trình tiến hóa đã hình thành các hợp chất hữu co
đơn giản, rồi đến các hợp chất hữu cơ phức tạp các đại phân tử và các hệ đại
phân tử.
Sự tương tác và chọn lọc các hệ đại phân tử, đặc biệt sự chọn lọc hệ đại
phân tử protein và a xít nucleic đã dẫn tới sự xuất hiên sự sống đầu tiên. Quá
trình tiến hóa từ giản đơn đến phức tạp trải qua các giai đoạn tiến hóa hóa
học,tiến hóa tiền sinh học rồi đến tiến hóa sinh học, để từ đó hình thành nên các
giới sinh vật phát triển đa dạng phong phú như ngày nay.
● Giới động vật và giới thực vật
Sinh giới ngày nay vô cùng phong phú và đa dạng , trong đó động vật và
thực vật được coi là những nhóm sinh vật chính và chủ yếu trong hệ thống phân

Chúng có những đặc điểm chung cơ bản đó là: Có khả năng di chuyển, có hệ
thần kinh và giác quan,sống nhờ dị dưỡng.
Động vật không chỉ có vai trò quan trọng trong thiên nhiên mà còn cả với
đời sống con người như cung cấp nguyên liệu, thực phẩm, lấy lông, lấy da, làm
thí nghiệm khoa học, làm thuốc, hỗ trợ cho con người lao động, giải trí và bảo
vệ an ninh...
Thế giới đông vật xung quanh chúng ta vô cùng phong phú và đa dạng.
Chúng đa dạng về số loài , kích thước cơ thể, lối sống và môi trường sống. Hiện
nay con người có thể biết khoảng 1,5 triệu loài từ loài có kích thước hiển vi đến
loài có kích thước to lớn.
● Sự phân biệt giữa động vật và thực vật
Động vật và thực vật là hai nhóm sinh vật chủ yếu và quan trọng nó vô
cùng phong phú và đa dạng. Song giữa chúng cũng cần có sự phân biệt ranh giới
rõ ràng.
Động vật phân biệt với thực vật ở chỗ: Tế bào động vật không c ó thành
phần xenlulozo, động vật sử dụng chất hữu cơ có sẵn, động vật có khả năng di
chuyển, động vật có hệ thần kinh, giác quan...
21


Ngày nay, động vật và thực vật vẫn đóng vai trò quan trọng trong giới
sinh vật và tự nhiên và từ đó hình thành nên nhiều ngành khoa học rất khác nhau
nghiên cứu về chúng.
1.3.1.2 Yếu tố triết học trong vấn đề về sự sống
Qua quá trình tìm hiểu và lý giải về nguồn gốc và bản chất của sự sống.
Chúng ta có thể nhận thấy rõ yếu tố triết học trong vấn đề về sự sống. Điều ấy
được thể hiện ở chỗ:
Sự sống trên trái đất được hình thành từ chính trên trái đất và là kết quả
vận động lâu dài của vật chất phát triển đến một trình độ nhất định.
Bản chất của sự sống là một hình thái vận động của vật chất, nó được hình

trường sâu sắc như hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên, nước biển dâng cao, an
toàn lương thực và năng lượng… Đây cũng là yêu cầu cấp thiết mà con người trí
tuệ sống trong xã hội nhân văn cần phải giải quyết. Tiếp tục phát triển hay tiêu
vong, xã hội nhân văn đang đứng trước giai đoạn phát triển của trí tuệ quyển.
Lúc này, xã hội loài người đang thực hiện bước chuyển hóa thay đổi về chất,
tiến đến sự tự nhận thức. Trí tuệ quyển chỉ trở thành hiện thực khi con người trở
thành yếu tố xây dựng và sống hài hòa theo quy luật của tự nhiên. Giờ đây con
người đang có xu hướng trở lại sống hài hòa với giới tự nhiên trong hệ sinh thái
nhân văn.
Đây cũng là những vấn đề thể hiện yếu tố triết học rõ nét và có tính thời
đại của sinh thái học nhân văn.
1.3.2.1 Sinh thái học nhân văn
1.3.2.1.1 Sinh thái học
● Khái niệm sinh thái học
Thuật ngữ sinh thái học ( Ecology ) có nguồn gốc từ chữ Hi Lạp, gồm hai
phần là “ Oikos ” chỉ nơi sống và “ Logos ” là học thuyết.
Như vậy, sinh thái học là học thuyết về nơi sinh sống của sinh vật. Nếu
hiểu theo nghĩa hẹp thì Sinh thái học là khoa học về nơi ở. Còn nếu phát triển
rộng hơn thì đây là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật có thể là một
nhóm hay nhiều nhóm sinh vật với môi trường xung quanh.
● Đối tượng của sinh thái học
23


Sinh thái học là một khoa học trẻ. Ban đầu nó chỉ là một số nghiên cứu cơ
bản về các cá thể sinh vật hoặc là quần thể và quần xã tự nhiên. Từ những năm
năm 50 của thế kỷ XX đến nay, nó đã trở thành một lực lượng sản xuất và góp
phần đáng kể để đưa năng xuất, chất lượng, sản lượng cây trồng và vật nuôi lên
ngày càng cao.
Khoa học sinh thái đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề gắn liền với thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status