nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng việt (trên tư liệu thuật ngữ toán cơ tin học, vật lí) - Pdf 40

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề......................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 5
4. Phương pháp nghiên cứu......................................................................... 6
5. Đối tượng và tư liệu nghiên cứu.............................................................. 7
6. Đóng góp của luận án.............................................................................. 7
7. Bố cục của luận án .................................................................................. 8
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ........................................................................... 9

1.1. Khái niệm thuật ngữ............................................................................. 9
1.2. Thuật ngữ trong văn bản .....................................................................12
1.3. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp khoa học.........................................19
1.4. Phương châm xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt........................21
1.5. Về hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên và tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ......27
1.6. Phương thức cấu tạo thuật ngữ ............................................................34
1.7. Tiểu kết chương 1 ...............................................................................37
Chương 2. PHƯƠNG THỨC VÀ MÔ HÌNH CẤU TẠO THUẬT NGỮ
KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở BẬC TỪ ............................................................39

2.1. Quan niệm từ - từ điển và các kiểu loại cấu trúc từ tiếng Việt .............39
2.1.1. Quan niệm từ - từ điển ..................................................................39
2.1.2. Các kiểu loại cấu trúc từ tiếng Việt ...............................................40
2.2. Thành tố cấu tạo thuật ngữ ở cấp độ từ................................................42
2.2.1. Thành tố cơ sở ..............................................................................43
2.2.2. Thành tố trực tiếp..........................................................................43
2.3. Quan niệm mô hình cấu tạo từ và phạm vi khảo sát ............................44
2.3.1. Quan niệm mô hình cấu tạo từ ......................................................44
2.3.2. Phạm vi khảo sát...........................................................................45



1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Về mặt ngôn ngữ và văn tự, trước đây, trong suốt 1000 năm Bắc
thuộc và tiếp sau gần 1000 năm độc lập, tiếng Việt tồn tại trong vị thế song ngữ
bất bình đẳng [113]. Kể từ cách mạng tháng Tám năm 1945, địa vị của tiếng
Việt nói chung, chữ quốc ngữ nói riêng mới thực sự thay đổi, tiếng Việt đã trở
thành ngôn ngữ quốc gia thống nhất. Vị thế của tiếng Việt thay đổi nên chức
năng xã hội của tiếng Việt càng ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều
sâu. Tiếng Việt không chỉ được dùng rộng rãi trong giao tiếp toàn xã hội, trong
các văn bản pháp quy nhà nước, mà còn là công cụ được dùng để dạy học trong
các cấp học, trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học khác nhau. Cùng với sự
phát triển của xã hội, tiếng Việt cũng phát triển mạnh mẽ, toàn diện. Như một
đòi hỏi khách quan và cũng là tất yếu của sự phát triển ngôn ngữ, một hệ thuật
ngữ khoa học tiếng Việt ra đời để đáp ứng nhu cầu giáo dục đào tạo và nghiên
cứu khoa học. Cũng vì thế, thuật ngữ là một trong những lĩnh vực trở thành đối
tượng nghiên cứu cần yếu của Việt ngữ học.
1.2. Từ những năm đầu thế kỉ XX, đặc biệt là từ những năm 40 về sau,
việc biên soạn thuật ngữ tiếng Việt có những bước phát triển. Năm 1942 cuốn
Danh từ khoa học của tác giả Hoàng Xuân Hãn ra đời, là mốc đánh dấu hệ
thuật ngữ khoa học tự nhiên (KHTN) và công nghệ Việt Nam hình thành, bước
phát triển đầu tiên của thuật ngữ khoa học tiếng Việt. Tiếp theo, sau 1945, hàng
loạt thuật ngữ Hóa học, Sinh học lần lượt được xuất bản; nội dung khoa học
được nâng lên một bước và phát triển theo định hướng: chính xác, hệ thống,
quốc tế và dân tộc. Đến nay, cùng với sự phát triển sâu rộng của các ngành
khoa học, hệ thống thuật ngữ tiếng Việt, nhất là hệ thống thuật ngữ các ngành
KHTN đã phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ không chỉ về từng thuật ngữ đơn lẻ



3
dựng cho mình các cơ sở xây dựng nên những hệ thống thuật ngữ chuyên
ngành khác nhau, vì thế chúng có những đặc thù riêng.
Để hình dung một cách rõ hơn về nội dung của khái niệm “thuật ngữ
khoa học”, trước hết chúng ta hãy đến với quan niệm của các nhà khoa học Âu Mĩ, nơi có nền khoa học - kĩ thuật - công nghệ phát triển sớm, nhanh và mạnh.
Nói đến thuật ngữ học trước hết không thể không nhắc tới các nhà thuật
ngữ học như: E. Wuster (Đức), J.C. Boulanger (Anh), R.W. Brown (Mĩ)
[146], W.E. Flood (Mĩ) [148], J.C. Segen (Mĩ) [150]. Ngoài việc định nghĩa
thuật ngữ, nêu bản chất khái niệm và chức năng của chúng, các nhà nghiên
cứu này còn có xu hướng tìm cách xác định các tiêu chuẩn cụ thể cần phải có
của thuật ngữ.
Cùng với những tên tuổi của các nhà thuật ngữ học Âu - Mĩ là các nhà
thuật ngữ học nổi tiếng của Xô viết như: D.S. Lotte (Д.C. Лотте), N.P. Kuz'kin
(Н.П. Кузькин), A.I. Moiseev (А.И. Моисеев), V.V. Vinogradov (В.В.
Виноградов), A.A. Reformatskij (А.А. Реформатский), V.P. Đanilenko (В.П.
Даниленко), A.S. Gerd (А.С. Герд),... đã đi sâu vào phân tích bản chất, chức
năng, khái niệm của thuật ngữ và đã tìm định nghĩa cho thuật ngữ khoa học.
Riêng nghiên cứu về cấu tạo của thuật ngữ, năm 1939 tác giả G.O. Vinokur
(Г.О. Винокур) đã có bài “Về một số hiện tượng cấu tạo từ trong hệ thuật ngữ
kĩ thuật Nga” [135].
Ở Việt Nam, thuật ngữ khoa học xuất hiện muộn hơn so với các nước
phương Tây. Vào những năm đầu thế kỉ XX, một số thuật ngữ khoa học xã
hội đã được các tác giả Đông Kinh Nghĩa Thục giới thiệu. Từ những năm
1917 trở đi, việc xây dựng, hình thành thuật ngữ đã có những biểu hiện từ tự
phát đến tự giác, trên tạp chí Nam Phong (1917 - 1934) đã có ý kiến bàn bạc
về việc biên soạn từ điển, đặt danh từ khoa học. Chẳng hạn như bài viết của
Nguyễn Ứng “Về sự dịch tiếng hóa học”, Nguyễn Triệu Luật bàn về “Danh từ


5
[143]; Thuật ngữ quân sự tiếng Việt (đặc điểm và cấu trúc) [42]; Thuật ngữ
Việt Nam đầu thế kỉ XX trong quan hệ với văn hóa và phát triển [111]; Đặc
điểm của thuật ngữ tiếng Việt [83], [84]; Về đặc điểm mô hình cấu tạo và việc
chuẩn hóa thuật ngữ xây dựng là cụm từ trong tiếng Việt [128]. Cùng với các
bài viết, công trình trên là các đề tài cấp bộ, cấp học viện đã được bảo vệ,
hàng loạt bài viết của các tác giả về thuật ngữ đã được giới thiệu, phản ánh
kết quả nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt.
Kể từ năm 1991 đến năm 2013 đã có nhiều luận án tiến sĩ nghiên cứu
về thuật ngữ được bảo vệ, như luận án của Vũ Quang Hào [41], Nguyễn Thị
Bích Hà [35], Nguyễn Thị Kim Thanh [105], Vương Thị Thu Minh [80], Mai
Thị Loan, Vũ Thị Thu Huyền [48].
Như vậy, vấn đề thuật ngữ nói chung và việc nghiên cứu các phương
thức và mô hình cấu tạo của thuật ngữ nói riêng đã ít nhiều được các tác giả
trong và ngoài nước nghiên cứu. Tuy nhiên, việc chúng tôi đi vào Nghiên cứu
các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt (trên tư
liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học, Vật lí) cho đến nay đây vẫn còn là lĩnh
vực chưa có tác giả nào đi vào khảo sát chuyên sâu và toàn cảnh nhóm ngành
khoa học này. Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu với
mong muốn góp một phần công sức vào lĩnh vực phát triển và chuẩn hóa
thuật ngữ nói chung và hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Luận án nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ KHTN
tiếng Việt mà cụ thể là hệ thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học, Vật lí nhằm rút ra
các đặc điểm cơ bản về cấu tạo của hệ thuật ngữ này. Trên cơ sở đó, luận án
sẽ đưa ra một bức tranh tổng quát về các phương thức và mô hình cấu tạo;
đề xuất một số ý kiến đối với việc phát triển và chuẩn hóa hệ thuật ngữ này
trong tiếng Việt.



7
- Phương pháp so sánh đối chiếu được dùng khi phân tích những đặc
điểm riêng của từng tiểu loại. Các tiểu loại khảo sát có mối liên hệ với nhau;
qua so sánh rút ra những nhận xét chung và riêng cho từng tiểu loại.
- Thủ pháp thống kê phân loại được sử dụng để xác định số lượng từng
loại thuật ngữ xét theo mô hình cấu tạo. Các kết quả thống kê sẽ được tổng hợp
thể hiện dưới hình thức các bảng biểu, đồ thị nhằm giúp hình dung rõ hơn nét
đặc trưng cơ bản về cấu tạo của hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên trong tiếng Việt.
5. Đối tượng và tư liệu nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên
tiếng Việt. Xét theo bậc cấu tạo và các phương diện cụ thể của thuật ngữ, luận
án sẽ nghiên cứu:
- Phương thức và mô hình cấu tạo thuật ngữ khoa học tự nhiên ở bậc từ
- Phương thức và mô hình cấu tạo thuật ngữ khoa học tự nhiên ở bậc ngữ
5.2. Tư liệu nghiên cứu
Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều từ điển KHTN song ngữ được xuất bản.
Trong số những cuốn từ điển KHTN được xuất bản gần đây, chúng tôi đã chọn
các từ điển sau làm tư liệu nghiên cứu: Từ điển Anh - Việt khoa học tự nhiên,
tập 1, Toán - Cơ - Tin học và tập 2, Vật lí/ Nguyễn Văn Mậu (chủ biên), Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 2008.
Đây là những từ điển được biên soạn bởi những nhà khoa học có uy tín
hàng đầu ở Việt Nam, những từ điển này được biên soạn vào dịp kỉ niệm 50 năm
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (1956 - 2006).
6. Đóng góp của luận án
6.1. Ý nghĩa lí luận
- Việc nghiên cứu về hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt của luận án góp
phần tổng hợp, nhìn nhận toàn cảnh các vấn đề về thuật ngữ KHTN nói riêng
và thuật ngữ ở Việt Nam nói chung.

1.1. Khái niệm thuật ngữ
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề thuật ngữ luôn
được các nhà ngôn ngữ học cũng như các nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa, khái niệm thuật
ngữ được mọi người thừa nhận. Sở dĩ có nhiều cách định nghĩa khác nhau là
do cách nhìn. Có tác giả cho rằng thuật ngữ xác định khái niệm, nhưng cũng
có tác giả cho rằng thuật ngữ không chỉ xác định khái niệm mà còn biểu hiện
khái niệm. Về bản chất của thuật ngữ, D.S. Lotte (Д.C. Лотте), thì cho rằng
thuật ngữ là từ đặc biệt, còn G.O. Vinokur (Г.О.Винокур) cho rằng thuật
ngữ không phải từ đặc biệt, mà chỉ là từ với chức năng đặc biệt, và tuyên bố
rằng, bất cứ từ nào cũng được cấu tạo để có vai trò là một thuật ngữ.
O.S. Akhmanova (O.C. Axмaнова) định nghĩa: “Thuật ngữ là từ hoặc
cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kĩ thuật,
v.v.) được sáng tạo ra (được tiếp nhận, được vay mượn, v.v.) để biểu hiện
chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn”
[dẫn theo 124, tr.3]. Đại Bách khoa toàn thư Xô viết (1976) định nghĩa:
“thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ chỉ ra một cách chính xác khái niệm
và quan hệ của nó với những khái niệm khác trong giới hạn của phạm vi
chuyên ngành. Thuật ngữ là cái biểu thị vốn đã chuyên biệt hóa, hạn định
hóa về sự vật, hiện tượng, thuộc tính và quan hệ của chúng đặc trưng cho
phạm vi chuyên môn đó” [dẫn theo 35, tr.11].
Đanilenko (В.П. Даниленко) cho rằng: “Thuật ngữ dù là từ (ghép
hoặc đơn) hay cụm từ đều là một kí hiệu tương ứng với một khái niệm”, và
“Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng
với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân” [dẫn theo 35, tr.11].


10
A.S. Gerd (А.С. Герд) định nghĩa: “Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng
- ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt

ngành vật lí, ngành hóa học, toán học, thương mại, ngoại giao, v.v… Đặc tính
của những từ này là phải gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ
tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kĩ thuật nhất định” [15, tr.167].
Định nghĩa trên đã nhấn mạnh không chỉ đến mặt “biểu thị khái niệm
khoa học” mà còn “chỉ tên một sự vật, hiện tượng khoa học, kĩ thuật” trong
thuật ngữ khoa học.
Sau này trong cuốn Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (1981), Đỗ Hữu
Châu đã đưa ra định nghĩa bao quát nhưng khái quát hơn về thuật ngữ khoa
học, kĩ thuật như sau: “Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật bao gồm các đơn vị từ
vựng được dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm…
trong những ngành kĩ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa học tự
nhiên hay xã hội” [16, tr.237]. Ông đối lập thuật ngữ với từ thông thường.
Theo ông: “Khác với từ thông thường, thuật ngữ có ý nghĩa biểu vật trùng
hoàn toàn với sự vật, hiện tượng... có thực trong thực tế, đối tượng của ngành
kĩ thuật và ngành khoa học tương ứng. Ý nghĩa biểu niệm của chúng cũng là
những khái niệm về các sự vật, hiện tượng này đúng như chúng tồn tại trong
tư duy (dĩ nhiên theo cách hiểu của ngành kĩ thuật và ngành khoa học tương
ứng). Về mặt nội dung, ở các thuật ngữ không xảy ra sự chia cắt thực thể
khách quan theo cách riêng của ngôn ngữ. Mỗi thuật ngữ như là một “cái
nhãn” dán vào đối tượng này (cùng với khái niệm về chúng) tạo nên chính nội
dung của nó. Tính hệ thống về mặt ngữ nghĩa của thuật ngữ là do tính hệ
thống của bản thân đối tượng và khái niệm trong ngành khoa học và kĩ thuật
đó quyết định” [16, tr.238].
Năm 1983, Hoàng Văn Hành đã đưa ra định nghĩa nhấn mạnh hơn đến
tính hệ thống của thuật ngữ. Trong định nghĩa này, Hoàng Văn Hành đã chỉ rõ
thêm tính xác định của khái niệm mà thuật ngữ biểu thị trong hệ thống những


12
khái niệm của một ngành khoa học nhất định: “Thuật ngữ là từ ngữ dùng để

không thể thiếu và đóng một vai trò quan trọng trong các văn bản, đặc biệt là
văn bản khoa học chuyên ngành.
Thuật ngữ không chỉ xuất hiện trong các văn bản khoa học, kĩ thuật mà
còn có cả ở các văn bản thông thường. Trong các văn bản thuộc lĩnh vực
KHTN, thuật ngữ được sử dụng với một số lượng lớn. Ví dụ: đạo hàm, tích
phân, vi phân, đoạn thẳng,... (Toán học); điểm tựa, trọng lực, lực, phát
quang, phóng xạ, điện trở, quán tính, cơ học, dao động,... (Vật lí); kiềm,
muối, phân tử, kim loại, lưu huỳnh, hỗn hợp, nguyên tử,... (Hóa học); mô, tế
bào, thụ phấn,... (Sinh học). Đây là những thuật ngữ của ngôn ngữ tự nhiên
chứa đựng các khái niệm của các chuyên ngành khoa học, và là công cụ để tư
duy khoa học. Các khái niệm khoa học này là kết quả của quá trình trừu tượng
và khái quát hóa của con người. Vì thế, các thuật ngữ biểu hiện chúng cũng
mang tính trừu tượng, khái quát cao.
Thuật ngữ thuộc về lớp từ vựng khoa học chuyên ngành, không giống từ
ngữ thông thường được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Do đó, khi sử dụng
thuật ngữ, cần phải dùng đúng với khái niệm khoa học. Ví dụ, trong ngôn ngữ
hàng ngày, muối được dùng với nghĩa “tinh thể trắng, vị mặn thường tách từ
nước biển, dùng để ăn”. Khi muối được dùng trong lĩnh vực Hóa học, thì muối
có nghĩa là “Hợp chất do acid tác dụng với base sinh ra” [137, tr.650].
Các ngành khoa học hiện đại phát triển nhanh, có xu hướng đa ngành,
liên ngành. Vì vậy, xuất hiện tình trạng một thuật ngữ được dùng trong
nhiều ngành khoa học khác nhau, như virus, chuột trong Sinh học và Tin
học; chu kì trong Toán học, Vật lí, Hóa học,... Tuy nhiên, mỗi ngành khoa
học có hàm nội dung khái niệm xác định, hiện tượng đồng âm này không vi
phạm nguyên tắc: một thuật ngữ phải là một khái niệm xác định, chính xác,
thuần lí.


14
Trong các văn bản thuộc lĩnh vực KHTN, hệ thống thuật ngữ của các

thuật ngữ chỉ vật chất trừu tượng trong văn bản chuyên ngành được sử dụng
với ý nghĩa khái quát, đảm bảo tính ngắn gọn và chính xác.
Để nắm vững thuật ngữ chuyên ngành, ngoài việc am hiểu khoa học,
người tạo lập văn bản còn cần phải thông thạo ngoại ngữ của từng lĩnh vực
chuyên môn. Chẳng hạn, trong lĩnh vực Tin học, nếu không có sự hiểu biết
về tiếng Anh chuyên ngành, người tra cứu thông tin sẽ gặp rất nhiều khó
khăn. Nhưng nếu có trình độ chuyên môn tốt, chỉ cần một cái "nhấp chuột"
là cả một thế giới thông tin rộng lớn sẽ được mở ra trước mắt người đọc.
Trong văn bản chuyên ngành, thuật ngữ là danh từ được sử dụng nhiều nhất.
Bởi đa phần thuật ngữ trong văn bản chuyên ngành là thuật ngữ định danh
khái niệm. Trong số những thuật ngữ là danh từ còn có những thuật ngữ là
danh từ trừu tượng như: thời gian, nhiệt độ, hiện tượng, số lượng, thuộc tính,
tần số, trạng thái,...
Văn bản chuyên ngành khoa học mang đặc trưng lí trí, logic cả trong nội
dung khoa học, cả ở phương tiện ngôn ngữ. Bởi vì, để gợi mở trí tuệ và thuyết
phục bằng lí tính, lời trình bày, cách suy luận phải biểu hiện bằng năng lực tổng
hợp của trí tuệ, phải tuân theo quy tắc chặt chẽ của tư duy logic hình thức đến
tư duy logic biện chứng.
Trong lĩnh vực KHTN, việc chứng minh tính đúng đắn về nội dung khoa
học cũng có sự khác nhau: “Nếu để chứng minh các quan điểm của mình, nhà
tự nhiên học luôn tìm đến thực nghiệm, thì nhà toán học chứng minh các kết
quả của mình chỉ bằng các lập luận logic. Trong toán học, không điều gì được
công nhận là chân lí khi chưa được chứng minh logic, cả trong trường hợp một
số thí nghiệm đặc biệt xác nhận điều ấy đúng” [90, tr.10].
Trong quá trình nhìn nhận và khám phá sự vật, “Các nhà khoa học cũng
xuất phát từ giác quan như cái nhìn thông thường, nhưng nhà khoa học khác


16
người thường ở điểm anh ta tìm ra được những quan hệ bất biến, giải quyết

Dấu

Nghĩa của dấu

Người đưa vào

Năm đưa vào



Vô hạn

Oalixơ (J Wallis)

1655

e

Cơ số logarit tự nhiên

Ơle ( L. Euler)

1736

Tỉ số giữa chu vi và

Jôn (W. Jones) và Ơle

1706


Phép cộng, phép trừ

Vitman

1489

x

Phép nhân

Aotret (vW. Oughtret)

1631

.

Phép nhân

Laibnit (G. W. Leibniz)

1698

:

Phép chia

Laibnit

1684


1893

sin, cos

Các hàm lượng giác

Ơle

1748

Ơle

1753

Vi phân

Laibnit

1675

Tích phân

Labnit

1675

Đạo hàm

Labnit



Đạo hàm riêng

Lơgiăng (A. M. Legendre)

1786



Tổng

Ơle

1755


18
Tích

Gauxơ

y (x)

Hàm số

Becnuli (Bernouli), Ơle

=

Bằng


Được chứa trong

Sruêđo (E. Schroder)

1890



Chứa



Thuộc

Pêanơ

1895



1812
1718, 1734

[http:// dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn].
Nếu trong Toán học, các kí hiệu thường được dùng để chỉ các số, các
hình, các quan hệ, thì trong Hóa học, các kí hiệu thường được sử dụng là
những kí hiệu biểu diễn các nguyên tố Hóa học (và các nguyên tử). Các kí
hiệu này được thể hiện bằng chữ cái đầu hoặc kèm theo một chữ cái thứ hai
trong tên gọi latin của chúng (chữ cái đầu phải viết hoa), ví dụ: C là kí hiệu

nó có nội dung phong phú hơn tiếng nói của các kí hiệu, công thức nhân tạo.
Trong Toán học, tất cả các mệnh đề đều được diễn tả bằng kí hiệu và các kí
hiệu này đều có thể diễn tả bằng tiếng nói thông thường. Nhưng ngược lại thì
không đúng, mọi mệnh đề được diễn tả bằng tiếng nói thông thường, tiếng nói
tự nhiên, không phải lúc nào cũng được diễn tả bằng các kí hiệu nhân tạo, ngôn
ngữ tự nhiên bao trùm ngôn ngữ nhân tạo, hệ thống kí hiệu nhân tạo.
1.3. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp khoa học
Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ. Thuật ngữ luôn
luôn biểu thị khái niệm được xác định trong một ngành khoa học và lệ thuộc
vào hệ thống khái niệm của ngành khoa học đó. Nó bao gồm những từ và ngữ
cố định, là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc
các lĩnh vực chuyên môn. Ví dụ các thuật ngữ: đạo hàm, tích phân, vi phân,...
trong Toán học; điểm tựa, trọng lực, lực,... trong Vật lí; muối, nước, đơn chất,
hỗn hợp,... trong Hóa học; bào ngư, thụ phấn,... trong Sinh học.
Danh pháp (danh từ khoa học) là tên gọi cụ thể của các đối tượng được
dùng trong từng ngành khoa học, nó không gắn trực tiếp với các khái niệm
của khoa học này mà chỉ gọi tên sự vật trong khoa học đó mà thôi. Ví dụ,
trong Hóa học, nước, muối là thuật ngữ, còn H2O, NaCl,... là danh pháp. Như
vậy, về mặt chức năng, danh pháp giống với các tên riêng, còn thuật ngữ gắn
liền với hệ thống các khái niệm. Về bản chất, thuật ngữ nhấn mạnh đến chức
năng định nghĩa, còn danh pháp chức năng gọi tên mới là quan trọng.


20
Trong bài viết Thế nào là hệ thuật ngữ, tác giả A.A. Reformatskij
(А.А. Реформатский) đã viết “Hệ thuật ngữ trước hết có mối liên quan với
hệ khái niệm của một môn khoa học nào đó, còn danh pháp chỉ nhãn hiệu hóa
đối tượng của khoa học thôi. Vì vậy, danh pháp có thể coi là thể liên tục của
các chữ cái (vitamin A, vitamin B…), hay là thể liên tục của các con số
(MAC-5, MAC-8) và của mọi thứ dấu hiệu có tính cách ước lệ, tùy tiện khác.

quan nhất định với hệ thuật ngữ mà nó phục vụ, và muốn hay không, danh
pháp cũng làm cho người đọc, người nghe liên tưởng tới những khái niệm về
các sự vật, hiện tượng được biểu đạt nội dung qua hệ thuật ngữ.
1.4. Phương châm xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt
Trước hết, cần xác định rằng, để có một hệ thuật ngữ khoa học, không
đơn giản chỉ là việc dịch thuật ngữ nước ngoài ra tiếng Việt như nhiều người
lầm tưởng, mà đây là vấn đề “cải biến sáng tạo” có sự đối chiếu với hệ thống
thuật ngữ nước ngoài. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, trước khi đi vào xây dựng
một hệ thuật ngữ, cần phải xác định các phương châm cần có của thuật ngữ.
Như phần trên chúng tôi đã đề cập, việc đưa ra các phương châm trong
việc xây dựng thuật ngữ tiếng Việt vẫn còn có sự chưa thống nhất giữa các nhà
khoa học. Tại hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học do Ủy ban
khoa học nhà nước tổ chức năm 1964 ở Hà Nội, nhiều đại biểu đã nhất trí với
các tiêu chuẩn của thuật ngữ mà bản báo cáo chính đã đưa ra: 1) Tính khoa học
(chính xác, hệ thống và ngắn gọn); 2) Tính dân tộc; 3) Tính đại chúng [69].
Tuy nhiên, mức độ nhất trí ở điểm này, điểm kia còn có sự khác nhau.
Năm 1977, trong bài viết Thống nhất về tiêu chuẩn của thuật ngữ khoa
học, đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, số 1, Lưu Vân Lăng cho rằng: “thuật ngữ
tiếng Việt phải: 1) Chính xác; 2) Có hệ thống; 3) Có tính bản ngữ (dân tộc);
4) Ngắn gọn, cô đọng; 5) Dễ dùng. Trong đó, ba tiêu chuẩn đầu là 3 yêu cầu
cơ bản mà tính chính xác là quan trọng nhất” [68].


22
Đến năm 1979, trong Tham luận về chuẩn hóa thuật ngữ, đăng trên tạp
chí Ngôn ngữ, số 3+4, một lần nữa, các học giả lại đưa ra những quan điểm
khác nhau về tiêu chuẩn của thuật ngữ.
Tác giả Như Ý cho rằng, những yêu cầu cơ bản của thuật ngữ là: “1)
Tính định danh; 2) Tính chính xác; 3) Tính hệ thống; 4) Tính bản ngữ” [142].
Hồng Dân cũng đồng ý về tính định danh của thuật ngữ, theo ông tính


50

Người đưa ra

1. Mỗi ý phải có một danh từ để gọi
2. Danh từ ấy phải dùng riêng về ý ấy
3. Mỗi ý đừng có nhiều danh từ
4. Danh từ phải làm cho dễ nhớ đến ý
5. Danh từ trong các môn phải thành
một toàn thể duy nhất và liên lạc
6. Danh từ phải gọn
7. Danh từ phải có âm hưởng Việt Nam
8. Danh từ phải đặt theo lối đặt các tiếng
thường và phải có tính chất quốc gia.

2.

1. Tính khoa học (chính xác, hệ thống)
2. Tính dân tộc và đại chúng
3. Tính ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ


23
3.

1. Chính xác; 2. Có hệ thống;
3. Có tính bản ngữ (dân tộc);
4. Ngắn gọn, cô đọng;


Vũ Quang Hào

1991

41

Hà Quang Năng

2008

81

Nguyễn Đức Tồn

2010

124

5. Dễ dùng
4.

1. Tính định danh; 2. Tính chính xác;
3. Tính hệ thống; 4. Tính bản ngữ”

5.

1. Ổn định về cấu tạo; 2. Ngắn gọn;
3. Có sức sản sinh

6.

hệ thống.
Một số tiêu chuẩn của các tác giả nêu trên cho thấy sự thiếu thống nhất
về số lượng và tính chất của các tiêu chuẩn. Chúng tôi nghĩ rằng, đã là thuật
ngữ thì phải mang tính khoa học, vì thế tất yếu phải có tính chính xác và tính
hệ thống, vì tính khoa học đã bao hàm trong nó tính chính xác, hệ thống. Song



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status