Sáng Kiến Kinh Nghiệm Đổi Mới Phương Pháp Soạn Giảng Môn Ngữ Văn Trung Học Cơ Sở Theo Hướng Tích Hợp - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP SOẠN GIẢNG MÔN NGỮ VĂN
TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
1. Phần mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài:
Văn học là nhân học, học văn chính là học cách làm người. Văn học hướng
con người tới cái đẹp, cái đẹp về nhân cách . Từ ngàn đời nay văn học luôn là chìa
khóa tâm hồn,văn học là nơi cho ta những khát vọng đích thực của con người .
Không những thế văn còn có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát
triển tư duy của con người . Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội ,có tầm
quan trọng trong việc giáo dục quan điểm ,tư tưởng ,tình cảm cho học sinh. Đồng
thời cũng là môn học thuộc nhóm công cụ ,môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ
với các môn học khác.Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác
và ngược lại ,các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn .Điều đó đặt ra yêu
cầu tăng cường tính thực hành ,giảm lí thuyết ,gắn học với hành ,gắn kiến thức với
thực tiễn hết sức phong phú ,sinh động của cuộc sống .
Dạy học văn để làm gì ? Câu hỏi tưởng như đơn giản ấy đã dày vò bao thế
hệ thầy cô giáo. Phải thừa nhận rằng nhiều người rất yêu văn học nhưng không
phải ai trong số đó cũng làm nghề dạy văn bởi người thầy dạy văn thiên chức lớn
hơn nghề nghiệp.
Vậy mà hiện nay,nhiều học sinh lại rất ngại học văn, điều đó có nghĩa rằng
nhân học đang bị mai một dần. Tâm hồn các em không được nuôi dưỡng, khô khan
dần theo năm tháng thời gian và điều gì sẽ xảy ra? Các em sống vô cảm, thờ ơ,
lạnh lùng với thế giới xung quanh, mất đi những cảm xúc, những rung động và
những khát khao tốt đẹp ở đời…Phải chăng có một phần do thầy cô giáo dạy văn
học chưa phát huy hết các chức năng, sức mạnh tiềm tàng của nó.
Công việc dạy văn phải định hướng được những rung động thẩm mĩ của học
sinh vì không phải đối tượng học sinh nào cũng yêu thích môn học này.Nhưng về
phương diện nào đó lại cần kích thích những “ điểm ỳ”, “ điểm trơ” và thậm chí cả
những “điểm chết” trong tâm linh những công dân trẻ để hình thành một cái vốn
có nào đó, để bùng cháy một cái gì đó mà chỉ có đặc trưng bộ môn này mới làm

cho rằng đó là sự tóm tắt lại nội dung sách giáo khoa, thẩm chí chép lại sách giáo
khoa cũng được, một số giáo viên khác lại photo hoặc chép lại bài soạn đã có sẳn
để lên lớp. Nhưng chúng ta đều biết rằng giáo án chính là một trong những “ sản
phẩm tri thức” của người thầy được chắt lọc qua nhiều công đoạn mà “ sản phẩm
tri thức” ấy nó đánh giá tay nghề trình độ cũng như năng lực sư phạm của người
thầy.
Vì vậy, chúng ta phải tích cực đổi mới phương pháp soạn giảng bám sát chuẩn
kiến thức kỷ năng và sát đối tượng, tích hợp thực tế vào quá trình giảng dạy để
khơi gợi lại hứng thú học văn của học sinh, hình thành cho các em phương pháp
học văn có hiệu quả nhất.
Căn cứ vào thực tế khi chưa vận dụng đề tài qua những lớp tôi trực tiếp giảng
dạy kết quả khảo sát việc tiếp thu kiến thức sau một tiết dạy tại lớp như sau:
Lớp
Số
Giỏi
Khá
Tb
Yếu
TB Trở lên
SL %
SL %
SL %
SL %
SL %
91
35
2
5,7
12 34,3 16 45,7
5

Địa phương thuộc vùng kinh tế còn khó khăn, hầu hết phụ huynh đều đi làm
ăn xa, ít có thời gian quan tâm kèm cặp con em mình. Bản thân các em còn phải
phụ giúp gia đình ngoài giờ lên lớp, không có thời gian học.
Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trí như
xem ti vi, chơi game . . . ngày càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học bị
lôi cuốn, sao nhãng việc học tập.
2.3. Các giải pháp:
Làm thế nào để nâng cao được chất lượng thiết kế bài giảng theo yêu cầu
đổi mới là câu hỏi luôn trăn trở đối với nghề làm thầy. Soạn một bài giảng có chất
lượng không phải là dễ, đặc biệt là đối với môn Ngữ Văn, một môn học được coi là
“ khó soạn, khó dạy”. Bởi chúng ta hiểu rằng thiết kế giờ dạy không chỉ đơn giản
là thay đổi hình thức giờ dạy mà về bản chất nó là sự thay đổi làm nên hiệu quả
của giờ dạy.
Để có thực hiện tốt chương trình THCS, ngoài việc nghiên cứu kỷ chương
trình và sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, trong quá trình soạn giảng giáo viên
cần lên kế hoạch soạn giảng cụ thể cho từng phần, từng mục. Cần có các dự thảo
về phương pháp, biện pháp dạy học, liên hệ kiến thức vào phần nào cho phù hợp.
Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, xác định và phân loại đối tượng học
sinh phù hợp với từng hoạt động học tập. Luôn có ý thức khơi gợi hứng thú học tập
ở học sinh. Phải nắm rõ quan điểm dạy học tích hợp, xác định rõ vai trò của giáo
viên và học sinh trong giờ học.
Giáo viên đóng vài trò chủ đạo tổ chức hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến
thức bằng các phương pháp dạy học cụ thể.

3


Học sinh đóng vai trò tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức trên cơ sở hướng
dẫn của giáo viên. Muốn giải quyết tốt các vấn đề này, theo tôi trong quá trình soạn
giảng một tiết Ngữ văn cần đổi mới các khâu sau:

- Những động từ như nắm được, hiểu lực trí tuệ vừa sức nghĩa là bên cạnh mục
được vẫn còn quá chung chung, chưa tiêu chung còn phải tính đến mục tiêu
cho thấy rõ mức độ.
riêng cho các nhóm học sinh đặc biệt.
-Mục tiêu phải định rõ mức độ hoàn thành
công việc của học sinh, làm căn cứ để
đánh giá chất lượng, hiệu quả thực hiện
bài học. Vì vậy mỗi “ đầu ra” của bài học
nên được diễn đạt bằng một động từ hành
động có thể quan sát, đánh giá được.
- Về mục tiêu kiến thức có thể dùng các
động từ: định nghĩa, giải thích, mô tả lại,
so sánh, chứng minh…Về mục tiêu kỹ
năng có thể dùng các động từ: thu nhập,
đo đạc, liệt kê, phân loại, nhận dạng…

2.3.2. Đổi mới cách soạn:
4


Soạn bài theo phương pháp thụ động

Soạn bài theo phương pháp tích cực

- Giáo viên dự kiến chủ yếu là những
hoạt động trên lớp của chính mình, có
hình dung chút ít về những hành động
hưởng ứng của học sinh.

- Những dự kiến của giáo viên phải tập

và kinh nghiệm của mình để cố làm cho
học sinh hiểu và nhớ nội dung quy định
trong sách giáo khoa .

2.3.3. Đổi mới khâu kỷ thuật
Để phát triển các phương pháp tích cực,trong khâu soạn bài cần coi trọng
chuẩn bị các câu hỏi.
Tránh đặt câu hỏi ở chỗ dễ hỏi mà phải đặt câu hỏi ở chỗ cần hỏi, câu hỏi có
yêu cầu cao về nhận thức.
Tránh tùy tiện đặt câu hỏi tức thì tại lớp mà cần phải chuẩn bị trước câu hỏi
đặc biệt câu hỏi có yêu cầu cao về nhận thức.
Cần có một số câu hỏi then chốt nhằm vào những mục đích nhận thức xác
định, đặc biệt ở các phần trọng tâm, trên các cơ sở đó khi lên lớp sẽ phát triển thêm
những câu hỏi phụ tùy thuộc vào diễn biến của tiết học.
Đặc biệt toàn bài phải có hệ thống câu hỏi phù hợp với từng đối tượng học
sinh
Để tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, giáo viên cần sử dung các
phiếu học tập.
Mỗi phiếu học tập giao cho học sinh một vài nhiệm vụ nhận thức cụ thể nhằm
dẫn dắt tới một kiến thức, tập dượt một kĩ năng, rèn luyện một thao tác tư duy hoặc
thăm dò thái độ của học sinh trước một vấn đề.

5


Qua công tác làm việc độc lập với các phiếu học tập học sinh được phát triển
các kỹ năng tư duy ( quan sát, so sánh,phân tích, quy nạp, khái quát hóa, suy
luận,đề xuất giả thuyết…)
Cốt lõi của giáo án đổi mới là phần thiết kế các hoạt động giúp học sinh tự lực
chiếm lĩnh nội dung bài học.Hình thức trình bày giáo án( mấy cột, mấy bước…) có

SGK còn có thể đã được trình bày trong các tài liệu khác. Kinh nghiệm của các GV
lâu năm cho thấy: trước hết nên đọc kĩ nội dung bài học và hướng dẫn tìm hiểu bài
trong SGK để hiểu, đánh giá đúng nội dung bài học rồi mới chọn đọc thêm tư liệu
để hiểu sâu, hiểu rộng nội dung bài học. Mỗi GV không chỉ có kĩ năng tìm đúng,
tìm trúng tư liệu cần đọc mà cần có kĩ năng định hướng cách chọn, đọc tư liệu cho
HS. GV nên chọn những tư liệu đã qua thẩm định, được đông đảo các nhà chuyên
môn và GV tin cậy. Việc đọc SGK, tài liệu phục vụ cho việc soạn giáo án có thể
6


chia thành 3 cấp độ sau: đọc lướt để tìm nội dung chính xác định những kiến thức,
kĩ năng cơ bản, trọng tâm mức độ yêu cầu và phạm vi cần đạt; đọc để tìm những
thông tin quan tâm: các mạch, sự bố cục, trình bày các mạch kiến thức kĩ năng và
dụng ý của tác giả; đọc để phát hiện và phân tích, đánh giá các chi tiết trong từng
mạch kiến thức, kĩ năng.
Thực ra khâu khó nhất trong đọc SGK và các tư liệu là đúc kết được phạm vi,
mức độ kiến thức kĩ năng của từng bài học sao cho phù hợp với năng lực của HS
và điều kiện dạy học. Trong thực tế dạy học, nhiều khi chúng ta thường đi chưa tới
hoặc đi quá những yêu cầu cần đạt về kiến thức kĩ năng. Nếu nắm vững nội dung
bài học, GV sẽ phác họa những nội dung và trình tự nội dung của bài giảng phù
hợp, thậm chí có thể cải tiến cách trình bày các mạch kiến thức kĩ năngcủa SGK,
xây dựng một hệ thống câu hỏi, bài tập giúp HS nhận thức, khám phá, vận dụng
các kiến thức kĩ năng trong bài một cách thích hợp.
Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS, gồm: xác
định những kiến thức kĩ năng mà HS đã có và cần có; dự kiến những khó khăn,
những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết.
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, GV
không những phải nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểu HS để lựa chọn
PPDH, phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và đánh giá cho phù
hợp. Như vậy, trước khi soạn giáo án cho giờ học mới, GV phải lường trước các

và hoạt động học tập của HS.
Trong thực tế, có nhiều GV khi soạn bài thường chỉ đọc SGK, sách GV và bắt
tay ngay vào hoạt động thiết kế giáo án; thậm chí, có GV chỉ căn cứ vào những gợi
ý của sách GV để thiết kế giáo án bỏ qua các khâu xác định mục tiêu bài học, xác
định khả năng đáp ứng nhiệm vụ học tập của HS, nghên cứu nội dung dạy học, lựa
chọn các PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh
giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. Cách làm như
vậy không thể giúp GV có được một giáo án tốt và có những điều kiện để thực
hiện một giờ dạy học tốt. Về nguyên tắc, cần phải thực hiện qua các bước 1, 2, 3, 4
trên đây rồi hãy bắt tay vào soạn giáo án cụ thể.
2.4.2. Tiến hành soạn
Qua tham khảo kinh nghiệm của nhiều giáo viên và các tài liệu liên quan đến
đổi mới PHDH theo kinh nghiệm tích lũy bản thân thì kế hoach bài học
(KHBH) nên soạn theo cấu trúc:
Ngày soạn:
Ngày dạy:
Tiết chương trình TÊN BÀI DẠY
A. Mục tiêu:
1. Kiến thức
2. Kỹ năng:
3. Thái độ:
B. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
1. Chuẩn bị của giáo viên
2. Chuẩn bị của học sinh
C. Tiến trình bài dạy:
Trong mục này giáo viên phải tạo dựng, thiết kế, viết ra được các hoạt động nhằm
thể hiện được các nội dung chủ yếu sau đây.
1. Kiểm tra bài cũ và đặt vấn đề chuyển tiếp vào bài mới.
2. Dạy học bài mới.
3. Cũng cố và luyện tập bài học

2. Chuẩn bị của trò:
Trò phải chuẩn bị đồ dùng học tập theo yêu cầu bài học (đồ dùng này đã được
giáo viên dặn từ tiết trước)
(Lưu ý: Đồ dùng dạy học, đồ dùng học tập phải được chuẩn bị và thực hiện
thử nghiệm đầy đủ trước khi thực hiện tiết dạy, chu đáo về mọi mặt, tránh sai sót,
sự cố không đáng có - Một tiết dạy sinh động, theo phương pháp mới là tiết dạy có
sử dụng đồ dùng dạy học thích hợp và biểu diễn đồ dùng dạy học thành thạo).
C. Lên lớp
1. ổn định lớp – Kiểm tra bài cũ: ( 3 - 5 phút)
Giáo viên ổn định lớp, kiểm tra sỉ số học sinh.
Kiểm tra bài cũ: Có thể kiểm tra bài cũ hoặc việc chuẩn bị bài của học sinh
hay việc chuẩn bị đồ dùng học tập của các em.
(Kiểm tra bài cũ , giáo viên phải chuẩn bị câu hỏi - bao gồm cả câu hỏi chính
và câu hỏi phụ, đồng thời phải có các phương án trả lời - Sau khi học sinh trả lời,
giáo viên phải nhận xét, tổng kết, cho điểm)
2. Đặt vấn đề vào bài:
Một bài soạn chu đáo là một bài soạn có nội dung đặt vấn đề và lời giới
thiệu vào bài. Lời giới thiệu cần ngắn gọn và phải tạo được tâm thế cho tiết học
nhằm gây hứng thú học tập, thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức cũ và kiến thức
mới. Giáo viên có thể tiến hành hoạt động này bằng nhiều cách khác nhau như kể
9


một câu chuyện, trình bày sinh động một trích đoạn của bài học mới, đưa ra một
thông tin hấp dẫn, một số tranh ảnh, giáo cụ trực quan, đặt một số câu hỏi có tình
huống cần giải quyết dựa trên vốn kinh nghiệm của học sinh có liên quan đến một
phần nội dung nào đó của bài học mới nhằm thu hút sự quan tâm của học sinh với
bài học.
3. Bài mới: ( khoảng 25 phút)
Có nhiều cách, nhưng theo tôi người soạn có thể chia giáo án thành 2 cột

Thực chất đọc sáng tạo là phương pháp huy động tổng lực các biện pháp,
các nghệ thuật hỗ trợ cho hoạt động trung tâm là “đọc” để làm sao đạt được
ngưỡng “vang nhạc sáng hình”.
Phương pháp gợi tìm
10


Phương pháp này chủ yếu cho người học đi tìm để tự chiếm lĩnh lấy tri thức
của mình. Sự chiếm lĩnh và phân tích tác phẩm gắn chặt với việc giải quyết các vấn
đề nghệ thuật đạo đức xã hội hoặc triết học do nhà văn đặt ra trong tác phẩm. Giáo
viên phải giúp học sinh nhận ra những điều đó, tìm thấy con đường chiếm lĩnh
chúng trong tác phẩm văn học. Học sinh phải suy luận phân tích rồi biểu hiện ra
bằng ngôn ngữ nói hoặc viết. Chủ yếu hoạt động của phương pháp này ở dạng đàm
thoại hoặc bài tập độc lập theo các câu hỏi của thầy:
Xây dựng một hệ thống câu hỏi có lôgic chặt chẽ, dẫn học sinh một cánh
liên tục từ quan sát đến phân tích hiện tượng, từ những kết luận bộ phận đến khái
quát toàn thể, tạo nên cuộc tranh luận gợi tìm.
Xây dựng hệ thống bài tập về văn bản tác phẩm nghệ thuật về bài phê bình,
về tư liệu tham khảo cho công việc của người học ở dạng lớp, nhóm, tổ, cá nhân,
bài tập khác nhau để nói hoặc viết.
Đặt vấn đề do thầy giáo hoặc học sinh làm theo đề xuất của thầy và tiến
hành tổ chức tranh luận.
Phương pháp gợi tìm giúp người học lĩnh hội dung lượng vừa phải và đặc
biệt phát triển đầu óc phê phán của các em, dạy cho học sinh tự mình tìm lấy tri
thức hoàn thiện các kỹ năng từ phân tích đến phê bình.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp giúp học sinh tìm ra đối tượng
khảo sát ít nhiều sự mới mẻ mà trước đó chưa biết. Nó phát triển kỹ năng tự phân
tích tác phẩm, tự đánh giá thành tựu về nội dung và nghệ thuật ở người học sinh.
Câu hỏi của phương pháp này phải mang tính chất nghiên cứu, nghĩa là sau khi học

Đối với môn Ngữ văn ngoài bốn phương pháp đã nêu giáo viên có thể vận dụng
sáng tạo các phương pháp khác. Nhưng dù sử dụng phương pháp nào thì cũng phải
hướng tới việc lấy học sinh sinh làm trung tâm nghĩa là học sinh được chủ động
tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức còn thầy chỉ đóng vai trò định hướng dẫn dắt .
Ngoài lựa chọn phương pháp, người soạn phải chú ý cách thức tổ chức cho
học sinh học tập
Dạy học Văn thực chất là dạy học sinh hoạt động theo đặc trưng của môn
học, học sinh được cuốn hút vào những hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và
chỉ đạo, thông qua đó, học sinh tự khám phá những điều mình chưa biết chứ không
phải tiếp thu những tri thức đã sắp đặt sẵn. Nét nổi bật của đổi mới phương pháp
dạy học Ngữ văn là hoạt động của học sinh chiếm tỉ trọng cao so với hoạt động của
giáo viên về thời gian cũng như cường độ làm việc. Khi soạn bài những dự kiến
của giáo viên phải tập trung chủ yếu vào các hoạt động của học sinh, trên cơ sở đó,
giáo viên hình dung sẽ phải tổ chức các hoạt động của học sinh như nhế nào, phải
suy nghĩ công phu về các khả năng diễn biến của các hoạt động, lường trước những
khó khăn học sinh sẽ gặp phải, dự kiến thời gian cho từng hoạt động cũng như
chuẩn bị sẵn những giải pháp điều chỉnh để không bị “cháy” giáo án.
(Có nhiều cách thức tổ chức dạy học để lựa chọn: Hoạt động nhóm, tư duy
độc lập, tổ chức trò chơi, … Do vậy người thầy phải cân nhắc để làm sao cho tiết
học vừa sinh động vừa đảm bảo tính khoa học tránh để thời gian chết lãng phí).
ở phần phương pháp và phần tổ chức cho học sinh học tập người soạn phải
chú ý tới hệ thống câu hỏi: Câu hỏi phải rõ ràng, ngắn gọn đúng trọng tâm. Tránh
số câu hỏi quá nhiều, không hỏi những gì vụn vặt, quá đơn giản hoặc đi quá xa
kiến thức trọng tâm bài học. Trong mỗi câu hỏi, nên phân hoá thành nhiều mức độ
yêu cầu để có thể kiểm tra đánh giá được nhiều đối tượng học sinh. Mục đích làm
sao tạo được không khí đặc trưng của bộ môn, phân môn để học sinh chiếm lĩnh
kiến thức một cách nhanh và hiệu quả nhất.
Đồng hành với phương pháp và cách thức tổ chức học tập là việc sử dụng
phương tiện dạy học của thầy và đồ dùng học tập của trò ở từng mục của đơn vị
kiến thức. Như chúng ta đã biết giá trị lớn nhất của phương tiện dạy học nằm ở sự

chuẩn bị cho bài học tiếp theo nhưng phải phù hợp với thời lượng tiết học.
5. Hướng dẫn học ở nhà (5 phút )
Giáo viên dặn dò học sinh làm bài tập, học bài cũ ở nhà; gợi ý cách học, cách
giải một số bài tập, ...
Dặn học sinh chuẩn bị bài mới, chuẩn bị đồ dùng học tập cho tiết sau.
D. Rút kinh nghiệm sau tiết dạy
Đây là mục thực sự có ý nghĩa sau mỗi tiết dạy. Mục này giáo viên sẽ ghi
những điều cần phải rút kinh nghiệm sau khi đã hoàn thành tiết dạy như: Về việc
phân bố thời gian, cách thức tổ chức cho học sinh học tập, phương pháp truyền
đạt, ... cần phải có điều chỉnh gì không? từ đó mà điều chỉnh cho tiết dạy sau, lần
soạn sau.
2.5. Kết quả đạt được.
- Soạn một giáo án Ngữ văn theo yêu cầu đổi mới hiện nay với mục đích để
làm sao phát huy được tính tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh dưới sự tổ
chức hướng dẫn của giáo viên: Học sinh tự giác chủ động tìm tòi, phát hiện, giải
quyết nhiệm vụ nhận thức và có ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức
kỹ năng đã thu nhận được đó là mục tiêu chung cho môn Ngữ văn cũng như các
13


môn học khác. Để đạt được mục tiêu đó thì ai cũng biết phải bắt đầu từ khâu thiết
kế bài học. Với kinh nghiệm của bản thân, tôi đã thực sự hài lòng khi giảng những
giờ Ngữ văn áp dụng soạn theo phương pháp mới, học sinh đã thực sự hứng thú mê
say với môn học mang tính hình tượng này. Tôi cảm nhận được điều đó nhờ những
dấu hiệu tích cực học tập của học sinh:
Học sinh khao khát, tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ
sung các câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu
ra.
Học sinh hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề giáo viên
trình bày chưa đủ, rõ.

15
42,9
2
5,7
33
94,3
91
35
6
18,2
14
42,4
13
39,4
0
0
33
100
92
33
11
16,2
27
39,7
28
41,2
2
2,9
66
97,1

rằng trong những năm học tới phòng giáo dục sẽ có nhiều hoạt động thiết thực
để chúng tôi tiếp tục được học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của
mình.
Xin chân thành cảm ơn!

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status