Chủ đề tự chọn nâng cao - Pdf 40

H c Th - Trng ph thụng DTNT Yờn lp - Giỏo ỏn t chn NG VN 9- ch nõng cao- Nm hc2007-2008
******************************************************************************
Thi gian: 4 tiờt
Ngy dy:
Tng s hc sinh:
CH
CCH TIP CN MT BI CA DAO
A. Mục tiêu
- HS nm c cỏch tip cn ni dung v ngh thut mt bi ca dao trong chng
trỡnh.
- Vn dng vo vic phõn tớch, bỡnh ging bi ca dao ú trong chng trỡnh vn
hc.
- Giỏo dc tỡnh cm trõn trng t ho nn vn hc dõn gian.
B. Thời lợng
- Tng s tit : 5 tit
+ Tit 1: Ni dung kin thc c bn.
+ Tit 2,3, 4,5: Bi tp thc hnh ( GV cn c vo thc t phõn phi thi
gian cho phự hp vi ni dung)
C. Tài liệu tham khảo
1. Lch s vn hc vit nam
2. Sách nâng cao ngữ văn THCS.
D. Tổ chức thực hiện.
I. NI DUNG KIN THC
Ca dao l nhng sỏng tỏc tr tỡnh dõn gian truyn ming vi nhng c trng riờng
khỏc vi nhng tỏc phm tr tỡnh ca vn hc vit nờn khi tip cn ca dao chỳng ta phi
cú cỏch thc tip cn riờng.
1. Tinh thn tip cn
Khi tip cn mụt bi ca dao cn c bit lu ý ti tớnh dõn gian ca cỏc yu t ngh
thut trong ca dao. Trc ht l ngụn ng, ngụn ng ca ca dao l th ngụn ng mc mc,
bỡnh d. ai t xng hụ va xỏc nh li va phim ch to cho ca dao tớnh cht kớn ỏo, t
nh (nh i t mỡnh, ta, cụ y, anh y). Khỏc vi ngụn ng th bỏc hc, ngụn ng ca

gái anh ta yêu đã đi lấy chồng.
Cấu trúc “ngày đi – ngày về” cứ lặp đi lặp lại để đối chiếu, so sánh sự biến đổi của
cảnh vật và con người qua thời gian. Trúc chưa mọc măng ngày xưa giờ đã cao bằng ngọn
tre. Lúa chưa chia vè giờ đã chín khắp cánh đồng. Âu đó cũng là quy luật tất yếu của tự
nhiên. Cảnh vật qua thời gian đều biến đổi, khác xưa, và đăc biệt là biến đổi theo chiều
hướng tốt đẹp hơn. Trước sự đổi thay ấy, con người cũng thay đổi. Người con gái chưa
chồng ngày nào bây giờ thành phụ nữ có chồng và có một đàn con. Đó cũng là quy luật,
quy luật của cuộc đời, bởi “đến duyên em thì em phải lấy chồng”, cũng như hoa đến thì
phải nở, đò đầy phải sang sông. Dẫu nhận thức được sự thay đổi ấy là thuận theo quy luật
nhưng chàng trai vẫn nuối tiếc. Sự muộn màng làm cho con người phải đau mãi như chàng
trai trong “Trèo lên cây bưởi hái hoa” hay chàng trai trong bài ca dao “Anh đến giàn hoa
thì hoa kia đã nở…”
Điều đặc biệt ở bài ca dao này là tâm trạng của nhân vật trữ tình không được miêu
tả trực tiếp mà ẩn giấu trong sự miêu tả khách quan, vui trước sư đổi thay của cảnh vật
quê hương bao nhiêu thì lại xót xa khi người mình yêu đã lấy chồng bấy nhiêu. Một dị bản
khác của câu cuối: “Ngày về em đã con dắt, con díu, con bồng, con mang”, hiện thực càng
được tô đậm và nỗi đau của con người như càng đau đớn hơn.
Bài ca dao giản dị, dễ hiểu như lời ăn tiếng nói hàng ngày của người nông dân (chửa –
chưa) để nói về một nỗi buồn đời thường, nỗi buồn của sự lỡ dở trong tình duyên.
2. Phân tích bài ca dao
“Con cò mà đi ăn đêm…”:
“Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”.
BÀI LÀM
Cánh cò trong ca dao sao đẹp thế! Màu xanh của lúa điểm trắng cánh cò sớm sớm
chiều chiều. “Con cò bay lả bay la – Bay từ cửa phủ bay ra cánh dồng…” Con cò là người

Ba từ “ông”, hai từ “tôi” được điệp lại như nốt nhấn bi thảm của bài ca. Cò mong
“ông” cứu vớt, đoái thương. “Tôi có lòng nào…” là lời phân trần: cò đi ăn đêm… nhưng
cò không phải là kẻ bất lương, mà cò hiền lành, lương thiện.
Con cò trong bài ca dao là hình ảnh ẩn dụ, là biểu tượng về người nông dân “hai
sương một nắng”. Đó là những con người hiền lành, chất phác cần cù, lam lũ, chịu thương
chịu khó trong cuộc đời. Bất hạnh của con cò “lộn cổ xuống ao” cũng là những bất hạnh,
hoạn nạn của nhà nông đứng trước mọi thế lực thống trị và áp bưc trong xã hội. Sưu cao
thuế nặng. Ách thống trị nặng nề của bọn vua quan. Nạn áp bức, bòn rút của bọn địa chủ,
cường hào. “Phần thuế quan Tây, phần trả nợ” - Nửa công đưa ở, nửa thuê bò” (Nguyễn
Khuyến). Trải qua hàng ngàn năm, người nông dân Việt Nam đã đổ mồ hôi vất vả làm ra
củ khoai, hạt gạo nuôi sống nhân dân, nhưng cuộc đời của họ có khác gì thân phận con cò
trong bài ca dao nay. Tiếng kêu thương của con cò đã vọng vào cuộc đời theo thời gian
năm tháng. Bài ca dao đã gieo vào lòng chúng ta sự xót thương, đồng cảm với bao nạn
nhân trong xã hội, nhất là đối với số phận người nông dân Việt Nam đêm trước cách mạng
Tháng Tám.
Bài ca dao càng trở nên sâu sắc và thấm thía khi chúng ta đọc đến hai câu cuối:
“Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”.
Gặp tai họa chưa chắc đã thoát hiểm: tính mạng nghìn cân treo sợi tóc. Trước cái
chết cầm chắc trong tay, thế mà cò chỉ nghĩ đến bầy con thơ, thương bầy con nhỏ tội
3
Hà Đức Thụ - Trường phổ thông DTNT Yên lập - Giáo án tự chọn NGỮ VĂN 9- chủ đề nâng cao- Năm học2007-2008
******************************************************************************
nghiệp. Cò giàu tình thương yêu, giàu đức hy sinh và vị tha. Cò cam chịu số phận. Những
phẩm chất ấy của cò cũng là những đức tính của nhà nông quê ta.
Cái đặc sắc của bài ca dao là ngoài tình cảm nhân đạo còn hàm chứa tư tưởng rất
đẹp. Đã có câu tục ngữ nêu lên cách ứng xử “đói cho sạch, rách cho thơm”. Đã có bài ca
dao ca ngợi một tâm thế thanh cao “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bun”. Đã có một thế
đứng cao đẹp như dáng trúc trước hoạn nạn: “Trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng”. Ở đây
cũng vậy, qua thân phận con cò, nhà thơ dân gian đã nêu lên một triết lý nhân sinh tuyệt

Đât nước có từ ngày đó…”
(Nguyễn Khoa Điềm)
Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh vừa qua, anh bộ đội cụ Hồ là người nông
dân mặc áo lính. Cần cù, dũng cảm, yêu nước, chất phác… là phẩm chất cao quý của nhà
nông quê ta… Học bài ca dao “Con cò mà đi ăn đêm” ta thêm thương yêu kính phục họ.
Bài học thà chết trong còn hơn sống đục mà nhà thưo dân gian gửi cho đến nay vẫn còn có
nhiều ý nghĩa đối với thế hệ trẻ chúng ta.
4
Hà Đức Thụ - Trường phổ thông DTNT Yên lập - Giáo án tự chọn NGỮ VĂN 9- chủ đề nâng cao- Năm học2007-2008
******************************************************************************
3. Phân tích bài ca dao
“Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”.
BÀI LÀM
Hình ảnh quê hương đât nước được nói đến nhiều trong ca dao dân ca. Có con
“đường vô xứ Nghệ quanh quanh – Non xanh nước biếc như trnah họa đồ”. Nơi ải BẮc xa
xôi là “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa – Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”, Huế đẹp
mộng mơ có “Núi Truồi ai đắp mà cao – Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?...”. Và có
cảnh sáng sớm mùa thu trên Hồ Tây, nơi kinh thành Thăng Long “ngàn năm văn vật”:
“Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”.
Bài ca dao mang màu sắc một bài thơ cổ điển, đẹp như một bức tranh thuỷ mặc.
Cảnh vật Hồ Tây được miêu tả thật nên thơ: hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm
thanh hài hòa, sống động. Những khóm trúc ven hồ, cành lá um tùm rậm rạp, đeo nặng
sương mai “la đà” sát mặt nước, sát mặt đất, rung rinh, đu đưa trước làn gió nhẹ. Từ láy
tượng hình “la đà” - một nét vẽ thoáng và gợi cảm, đầy ấn tượng:


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status