Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu - Pdf 40

The Project Adaptation to climate change through the promotion of biodiversity in Bac Lieu province

DỰ ÁN

TRONG MÔN GDCD TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - TỈNH BẠC LIÊU


Môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống con người và sự phát triển của xã hội loài người.
Việc bảo vệ môi trường hiện đang là một trong những vấn đề quan tâm mang tính toàn cầu của nhân loại.
Ở nước ta, môi trường và bảo vệ môi trường được Đảng và Nhà nước quan tâm. Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17 thánh 10 năm 2001 phê duyệt Đề án “Đưa các nội dung
môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”. Bởi lẽ, nhà trường không chỉ là nơi triển khai nội dung giáo
dục bảo vệ môi trường cho một lượng học sinh và cán bộ, giáo viên rất đông đảo mà còn là một khâu có
ý nghĩa rất quan trọng trong việc truyền tải những thông tin về giáo dục bảo vệ môi trường cho các thành
viên khác trong xã hội.
Việc giáo dục bảo vệ môi trường qua các môn học ở các trường phổ thông là quá trình hình thành, phát
triển cho học sinh nhận thức và có thói quen quan tâm đến môi trường, nhất là môi trường nơi các em đang
sinh sống. Thông qua đó, hình thành cho các em thái độ, ý thức đúng đắn và các kĩ năng cần thiết để có
những hành động hài hòa với môi trường trong đời sống hằng ngày, giúp các em có đủ năng lực hoạt động
một cách độc lập hoặc phối hợp với các cá nhân khác hay tập thể để tìm ra giải pháp cho các vấn đề môi
trường hiện tại và ngăn chặn những vấn đề môi trường có thể xảy ra trong tương lai, tạo điều kiện cho sự
phát triển bền vững của đất nước.
Giáo dục bảo vệ môi trường là một hợp phần trong nội dung hoạt động của Dự án GIZ - “Thích ứng với biến
đổi khí hậu thông qua thúc đẩy đa dạng sinh học tỉnh Bạc Liêu”. Được sự hỗ trợ của Dự án, nhóm tác giả các điều phối viên của Dự án đã tiến hành biên soạn bộ tài liệu tham khảo “Giáo dục bảo vệ môi trường
trong các môn học Địa lí, Sinh học, Giáo dục công dân - tỉnh Bạc Liêu” theo hướng tích hợp nội dung
giáo dục bảo vệ môi trường gắn liền với thực tiễn ở địa phương, dùng cho các trường phổ thông trong tỉnh.
Nội dung của bộ tài liệu đề cập tới những kiến thức và kĩ năng cơ bản về môi trường, tình hình môi trường
Việt Nam và môi trường tỉnh Bạc Liêu, các địa chỉ và nội dung tích hợp sát với nội dung của Dự án, có tính
chất định hướng phương thức thực hiện với các hình thức và phương pháp tích hợp hiệu quả.
Cấu trúc của tài liệu bao gồm các phần nội dung chính sau:
Phần thứ nhất: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên
và vật chất nhân tạo bao quanh con
người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản
xuất, sự tồn tại, phát triển của con người
và sinh vật” (Điều 3, Luật Bảo vệ môi
trường năm 2005).
Môi trường sống của con người theo
nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên
và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản
xuất của con người như tài nguyên thiên
nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng,
cảnh quan, quan hệ xã hội. Theo nghĩa
hẹp thì môi trường sống của con người
chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố
xã hội trực tiếp liên quan đến chất lượng
cuộc sống của con người như diện tích
nhà ở, nước sạch, điều kiện vui chơi, giải
trí, chất lượng bữa ăn.
Môi trường sống của con người được
phân thành: Môi trường tự nhiên và môi
trường xã hội.
• Môi trường tự nhiên bao gồm các thành
phần của tự nhiên như địa hình, địa chất,
đất trồng, khí hậu, nước, sinh vật,…
• Môi trường xã hội là tổng thể các
mối quan hệ giữa con người với con
người, định hướng hoạt động của
con người theo khuôn khổ nhất định,
tạo thuận lợi cho sự phát triển, làm
cho cuộc sống của con người khác

Chức năng này đòi hỏi phải có khoảng
không gian thích hợp cho mỗi người,
được tính bằng m2 hay ha đất đai để ở,
sinh hoạt và sản xuất của con người.

b) Môi trường là nơi chứa đựng các
nguồn tài nguyên cần thiết cho đời
sống và sản xuất của con người
Để tồn tại và phát triển, con người đã tác
động vào các hệ thống tự nhiên để tạo
ra của cải vật chất, năng lượng cần thiết
cho hoạt động sinh sống, sản xuất. Thiên
nhiên là nơi cung cấp nguồn tài nguyên,
các nguồn vật chất cần thiết phục vụ cho
đời sống con người.
Các nguồn tài nguyên này bao gồm:
• Rừng tự nhiên: Tạo độ phì nhiêu cho
đất, bảo tồn đa dạng sinh học, cung
cấp gỗ củi, dược liệu và duy trì sự cân
bằng sinh thái,…
• Nguồn nước: Cung cấp nước cho sinh
hoạt, sản xuất, thủy hải sản, năng
lượng, giao thông đường thủy và là
cảnh quan cho du lịch,…
• Động vật và thực vật: Cung cấp lương
thực, thực phẩm và các nguồn gen
quý hiếm,…
• Khí hậu: Gồm không khí, nhiệt độ,
ánh sáng mặt trời, gó, mưa,… không
thể thiếu được trong sự sống của con

các chu trình vật chất của Nitơ, Cacbon, hấp thụ các chất dư thừa,…
• Biến đổi sinh học: Vai trò của vi sinh vật
trong quá trình này là rất quan trọng,
chúng phân giải, tổng hợp và làm biến
đổi chất của các thành phần tự nhiên.
d) Môi trường là nơi lưu trữ và cung
cấp thông tin cho con người
• Cung cấp thông tin về lịch sử địa chất,
lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh
vật, lịch sử xuất hiện và phát triển của
loài người: các hiện vật, di chỉ được
con người phát hiện, giúp giải thích
được nhiều bí ẩn diễn ra triong quá
khứ. Khi kết nối giữa những sự kiện
của hiện tại với quá khứ, con người sẽ
dự đoán được những sự kiện xảy ra
trước đây và trong tương lai.
• Cung cấp các chỉ thị mang tính chất tín
hiệu để báo động sớm các hiểm họa
đối với con người và các sinh vật sống
trên Trái Đất. Nhiều sinh vật do phản
ứng sinh lý của cơ thể với những biến
đổi của điều kiện tự nhiên đã thông
báo sớm cho chúng ta những sự cố
như bão, động đất, núi lửa,…
• Môi trường còn lưu trữ và cung cấp
cho con người sự đa dạng nguồn vốn
gen sinh vật; các hệ sinh thái tự nhiên
và nhân tạo, cảnh quan thiên nhiên …


dùng cho các ngành công nghiệp.
b) Thủy quyển
Khoảng 71% diện tích bề mặt Trái Đất
được bao phủ bởi nước, tương đương
với 361 triệu km2. Nước rất cần cho tất
cả các sinh vật sống trên Trái Đất và là
môi trường sống của nhiều loài sinh vật.
Nước tồn tại ở 3 thể: rắn (băng, tuyết),
lỏng và hơi nước.
Theo tính toán, tổng lượng nước là
1386.106km3. Nhưng nước ngọt rất ít,
chỉ chiếm 2,5%, mà hầu hết lại tồn tại ở
thể rắn (băng, tuyết chiếm 2,24%); lượng
nước ngọt mà con người có thể sử dụng
được lại còn ít ỏi, chỉ chiếm 0,26% tổng
lượng nước.
Dân số tăng nhanh cùng với quá trình

6

công nghiệp hóa, đô thị hóa, thâm canh
nông nghiệp và các thói quen tiêu thụ
nước quá mức đang gây ra sự khủng
hoảng nước trên phạm vi toàn cầu. Gần
20% dân số thế giới không được dùng
nước sạch và 50% thiếu các hệ thống
vệ sinh an toàn. Sự suy giảm nước ngọt
ngày càng lan rộng hơn và gây ra nhiều
vấn đề nghiêm trọng, đó là nạn thiếu
nước sinh hoạt xảy ra ở khắp mọi nơi

một lá chắn của khí quyển, bảo vệ cho
Trái Đất khỏi những ảnh hưởng độc hại
của tia tử ngoại từ Mặt Trời chiếu xuống.
Trong tầng bình lưu luôn tồn tại quá trình
hình thành và phân hủy khí ôzôn. Hoạt
động công nghiệp và sinh hoạt của con

người thải ra nhiều loại khí có khả năng
phân hủy ôzôn làm cho có chỗ lớp ôzôn
bị mỏng đến mức chiều dày chỉ còn vài
cm, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của
con người và các loài sinh vật khác.
Không khí đóng vai trò quan trọng trong
đời sống con người và thế giới sinh vật.
Các thành phần chính của không khí bao
gồm nitơ, ôxy, hơi nước và một số loại
khí trơ cũng tham gia vào mọi quá trình
xảy ra trên Trái Đất. Hiện nay tình trạng ô
nhiễm không khí đang thật sự gây hại cho
sự sống trên bề mặt Trái Đất.
d) Sinh quyển
Sinh quyển là một hệ thống tự nhiên
động, rất phức tạp. Nó bao gồm động,
thực vật, các hệ sinh thái. Sự sống trên
bề mặt Trái Đất được phát triển chính là
nhờ vào tổng hợp các mối quan hệ tương
hỗ giữa các sinh vật với môi trường, tạo
thành dòng liên tục trong quá trình trao
đổi vật chất và năng lượng mà chúng
ta thường gọi là các chu trình sinh địa

1. Về đất đai
Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên
331.314 km2 (theo Wikipedia. org, 2008).
Phần đất liền là 31,2 triệu ha (chiếm
94,5% diện tích tự nhiên), xếp hàng thứ
58 trong tổng số 200 nước trên thế giới.
Nhưng vì số dân đông (năm 2006 là
84.156.000 người) nên diện tích đất bình
quân đầu người thuộc loại rất thấp, xếp
thứ 159/200 quốc gia và bằng 1/6 mức
bình quân của thế giới. Mặc dù diện tích
trên đầu người thấp nhưng diện tích đất
chưa sử dụng vẫn còn lớn, tính đến năm
2006 là khoảng 5,28 triệu ha, trong đó 5
triệu ha là đất đồi núi bị thoái hóa nặng.
Diện tích đất canh tác trên đầu người có
xu hướng giảm. Chất lượng đất không
ngừng bị giảm do xói mòn, rửa trôi. Đất
nghèo kiệt dinh dưỡng do các quá trình,
thoái hóa hóa học đất, khô hạn, sa mạc
hóa, mặn hóa, phèn hóa, lầy hóa, ngập
úng, ô nhiễm do chất thải, do sử dụng
phân hóa học và do chất độc hóa học.
Hậu quả nghiêm trọng của thoái hóa
đất là mất khả năng sản xuất của đất,
dẫn đến cạn kiệt tài nguyên động, thực
vật và giảm đất nông nghiệp trên đầu
người, ảnh hưởng đến sự phát triển
kinh tế - xã hội.




2. Môi trường rừng
Sự đa dạng về địa hình, sự phân hóa khí
hậu tạo cho nước ta có nhiều loại rừng:

rừng lá rộng thường xanh, rừng nửa
rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá
vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng
tràm, rừng ngập mặn,…

Bảng 2. Diễn biến diện tích rừng qua các năm
Năm

1945

1976

1980

1985

1990

1995

2002

2005


0,745

1,050

1,9195

2,334

Rừng tự nhiên
(triệu ha)

14,300

11,076

10,186

9,3083

8,4307

8,2525

9,865

10,283

Độ che phủ (%)

43,0

0,14

0,15

(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tính đến tháng 12 năm 2005).

Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của
nước ta. Rừng có vai trò điều hòa khí hậu,
bảo vệ đất, giữ nước ngầm và là nơi lưu
giữ các nguồn gen quý giá. Tuy nhiên,
độ che phủ rừng của Việt Nam trong

thời gian dài có xu hướng giảm. Những
năm gần đây, các hoạt động trồng rừng
được coi trọng, diện tích rừng có được
tăng lên nhưng chất lượng rừng vẫn
tiếp tục giảm sút.

3. Về nước
Việt Nam có lượng mưa lớn, hệ thống
sông hồ dày đặc nên tài nguyên nước
mặt khá phong phú. Tổng lượng nước
trung bình hàng năm là 880 tỉ m3. Tuy
vậy, do nằm ở cuối hạ lưu các con sông
Mê Công, sông Mã, sông Cả và sông
Hồng nên lượng nước được hình thành
trong lãnh thổ Việt Nam chỉ khoảng
325 tỉ m3 trên năm. Điều đó dẫn tới khả
năng thiếu nước, đặc biệt là trong mùa
khô khi các quốc gia thượng nguồn sử

Hình 1. Rừng Cúc Phương ở tỉnh Ninh Bình (nguồn: Internet)

8

Nguyên nhân chính dẫn tới ô nhiễm môi
trường nước là do nước thải công nghiệp,
nước thải sinh hoạt chưa được xử lý đã
xả trực tiếp vào nguồn nước mặt. Việc sử
dụng hóa chất trong sản xuất công, nông

Hình 2. Nước thải xả xuống sông Thị Vải
(nguồn: dantri.com.vn).

nghiệp cũng đang làm cho nguồn nước
ngầm bị ô nhiễm.
4. Về không khí
Ở vùng núi và nông thôn nước ta, nhìn
chung, môi trường không khí còn chưa
bị ô mhiễm (trừ một số làng nghề và các
khu vực gần khu công nghiệp, đường
giao thông).
Kết quả quan trắc cho thấy, hầu hết các
đô thị Việt Nam đều bị ô nhiễm bụi. Nhiều
đô thị bị ô nhiễm bụi trầm trọng tới mức
báo động. Nồng độ bụi ở các khu dân cư
bên cạnh các nhà máy, xí nghiệp hoặc
gần các đường giao thông lớn đều vượt
trị số tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 3
lần. Trường hợp cá biệt, gần nhà máy
gạch và bia ở Thị xã Lào Cai vượt 5 lần.

của Việt Nam.

Thực vật: Tổng kết các công bố về hệ
thực vật Việt Nam, đã ghi nhận có 13.894
loài thực vật, trong đó 2.400 loài thực vật
bậc thấp, 11.494 loài thực vật bậc cao,
14 loài cỏ biển, 151 loài rong biển (Bộ Tài
nguyên và Môi trường, 2010). Hệ thực
vật Việt Nam không có họ đặc hữu và chỉ
có khoảng 3% số chi là đặc hữu.
Động vật ở cạn: Hiện nay đã xác định
được 307 loài giun tròn (Nematoda) trên
cạn, 161 loài giun sán ký sinh ở gia súc,
200 loài giun đất (Oligochaeta), gần
800 loài động vật khác, 150 loài ve giáp
(Acartia), 113 loài bọ nhảy (Collembola),
trên 7.750 loài côn trùng (lnsecta), 260
loài bò sát (Reptilia), 162 loài ếch nhái
(Amphibia), 840 loài chim (Aves), 312
loài và phân loài thú trên cạn (Mammalia).

Sinh vật biển: Đến nay, đã phát hiện
được trên 11.000 loài sinh vật sống trong
vùng biển Việt Nam. Trong đó, có 6.300
loài động vật đáy; 2458 loài cá với trên
100 loài cá kinh tế; 653 loài rong biển;
657 loài động vật nổi; 537 loài thực vật
nổi; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài
tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển;
25 loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài


263

Bò sát

74

30

Thân mềm

0

3

Cá nước ngọt

214

37

Cá biển

10

131

Thực vật

27

Việt Nam có số loài được ưu tiên cao
nhất với 131 loài.
Theo lUCN, ở Việt Nam, số loài bị đe
dọa toàn cầu không chỉ tăng về số
lượng, mà còn tăng về mức độ đe dọa.
Trong Danh sách đỏ của lUCN năm
1996 liệt kê 25 loài động vật của Việt
Nam ở mức nguy cấp (EN) thì đến năm
2004, con số này đã tăng lên đến 46
loài, và đến năm 2010 là 47. Trong
số những loài mới bị xếp hạng này có
những loài như Bò rừng, Sói đỏ, Voọc
vá chân nâu và Voọc vá chân đen.

Các loài sinh vật hoang dã được đưa vào
Sách Đỏ Việt Nam 2007 cũng tăng về
mức độ đe dọa và số loài bị đe dọa. Tổng
số loài bị đe dọa (3 mức: rất nguy cấp,
nguy cấp và sắp nguy cấp) được liệt kê
trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 là 418 loài
động vật và 464 loài thực vật, tăng hơn
so với Sách Đỏ Việt Nam 1992 - 1996.
Đối với động vật, trong Sách Đỏ Việt Nam
1992 -1996, về mức độ bị đe dọa của
các loài chỉ mới dừng lại ở hạng nguy
cấp, thì năm 2007 đã có tới 9 loài được
xem là đã tuyệt chủng và tuyệt chủng
ngoài tự nhiên. Đó là: tê giác hai sừng,
bò xám, heo vòi, cầy rái cá, cá chép gốc,
cá chình Nhật, cá lợ thân thấp, cá sấu

thoái về đa dạng loài ở các hệ sinh thái rạn
san hô và thảm cỏ biển. Trong rạn san hô,
độ phong phú của các loài sinh vật có giá
trị kinh tế như cá, động vật không xương
sống, thân mềm, và giáp xác… giảm tại
hầu hết các điểm giám sát, đặc biệt nhóm
cá có kích thước lớn.

Đáng lưu ý, theo lUCN, trong khi một số loài
động vật đã được coi tuyệt chủng ngoài tự
nhiên lãnh thổ Việt Nam, thì vẫn còn tồn tại
ở một số quốc gia lân cận. Điều này thể hiện
rõ những biến động lớn về đa dạng sinh học
ở Việt Nam so với những vùng lãnh thổ khác
trong thời gian vừa qua.

Tình trạng suy thoái về đa dạng loài cũng
đang diễn ra ở hệ sinh thái thảm cỏ biển.
Kết quả giám sát của Viện Hải Dương học
tại 9 điểm ở Phú Quốc vào tháng 10/2009
cho thấy: Các loại cá có giá trị kinh tế thì
hết sức nghèo nàn, như cá Dìa, mật độ
1,7 con/250m2. Các loài cá có giá trị thấp

11


xuất hiện phổ biến trên thảm cỏ biển,
nhiều nhất là các loài thuộc họ cá Đổng
với mật độ 20 con/250m2. Hai nguồn lợi

khoảng hơn 26% số dân của cả nước
nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu tấn
chất thải mỗi năm (tương ứng với 50%
tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của
cả nước).



Bảng 4. Lượng chất thải phát sinh năm 2003 và năm 2008
Loại CTR

Đơn vị tính

Năm 2003

Năm 2008

CTR đô thị

tấn/năm

6.400.000

12.802.000

CTR công nghiệp

tấn/năm

2.638.400


15.459.900

27.868.000

Phát sinh CTR sinh hoạt trung bình
tại khu vực đô thị

kg/người/ngày

0,8

1,45

Phát sinh CTR sinh hoạt trung bình
tại khu vực nông thôn

kg/người/ngày

0,3

0,4

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010).

• Chất thải công nghiệp: Lượng chất thải
công nghiệp phát sinh chiếm khoảng
20% tổng lượng chất thải. Gần một
nửa lượng chất thải công nghiệp của cả
nước phát sinh ở khu vực Đông Nam

lượng chất thải sinh hoạt sẽ tăng 60%,
chất thải công nghiệp tăng 50%, chất thải
nguy hại tăng 3 lần (Báo cáo diễn biến
môi trường Việt Nam, năm 2004. Bộ Tài
nguyên và Môi trường).
Hiệu quả thu gom chất thải còn thấp, ở
các các khu đô thị, nhất là tại các thành
phố lớn thì việc thu gom chất thải đã
hoảng từ 70 - 75% nhưng ở nông thôn
thu gom thì việc thu gom chất thải mới
chỉ đạt 20%.

Việc xử lý chất thải chưa đảm bảo kỹ
thuật gây nên hiện tượng ô nhiễm, ảnh
hưởng đến môi trường sống của cư dân,
đặc biệt là chất thải độc hại ở các bệnh
viện, các khu công nghiệp.
7. Về vệ sinh môi trường, vệ sinh an
toàn thực phẩm, cung cấp nước sạch
ở đô thị và nông thôn
Hiện nay mới có 60 - 70% dân cư đô thị,
dưới 40% dân ở nông thôn được cấp
nước sạch và chỉ có 28 - 30% hộ gia đình
ở nông thôn có hố xí hợp vệ sinh.
Nhiều vụ ngộ độc thực phẩm đã xảy ra,
vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang
cần được quan tâm của toàn xã hội.

13


khoảng 0,2 - 0,35%) chủ yếu là do quá
trình bối đắp phù sa diễn ra mạnh hơn
quá trình sạt lở.
Khu vực Gò Cát - Đông Hải đến giáp ranh
huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng được
bồi đắp nhiều nhất. Bờ biển Bạc Liêu trải
dài 56 km, nhờ phù sa của sông Cửu
Long nên hàng năm vùng bãi bồi ven
biển tỉnh Bạc Liêu lấn ra biển khoảng 75
- 80m, diện tích bãi bồi tính trong phạm vi
từ bờ trở ra 2km lên đến 12.337ha (Báo
cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bạc Liêu
giai đoạn 2006 - 2010).
b. Địa hình
Tỉnh Bạc Liêu nằm trong vùng đất mới
của Đồng Bằng Sông Cửu Long, nằm ở

14

rìa vùng đồng bằng châu thổ. Địa hình
tương đối bằng phẳng và thuần nhất, độ
cao trung bình từ 0,3 - 0,5 m. Địa hình
có xu hướng thấp dần từ bờ biển vào nội
đồng, từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Độ
dốc trung bình của địa hình khoảng từ 1 1,5 cm/km, chia thành hai khu vực rõ rệt:
• Khu vực phía Nam quốc lộ 1A có địa hình
với những giồng cát biển không liên tục,
cao trung bình từ 0,4 - 0,8m, với hướng
nghiêng thấp dần vào nội địa.
• Khu vực phía Bắc quốc lộ 1A là vùng

Do nằm ở vĩ độ thấp nên ít chịu ảnh
hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới;
không chịu ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt
từ hệ thống Sông Cửu Long.
Năm 2010, lượng mưa trung bình cả

Hình 4. Bản đồ tỉnh Bạc Liêu.

15


năm là 2.409,5 mm, tăng hơn so với
năm 2009 là 2.150,8 mm và năm 2006
là 1.971,6 mm. Lượng mưa trung bình
các tháng trong năm dao động từ 11,4
- 1.331,1 mm, tháng có lượng mưa cao

nhất là tháng 7 và tháng có lượng mưa
thấp nhất là tháng 12. Cụ thể như sau:
Nhìn chung, khí hậu Bạc Liêu khá thuận
lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là
trồng lúa nước và nuôi trồng thủy sản .

Từ kết quả cho thấy nhiệt độ không khí
có xu hướng gia tăng và đây cũng là một
trong những nguyên nhân của sự biến
đổi khí hậu.

*Độ ẩm


-

0,6

-

-

-

-

24,3

23,1

0,9

3,5

2,6

II

0,5

17,9

-


0,4

17,4

0,3

0,2

-

IV

182,0

84,6

17,5

39,8

5,5

-

65,2

83,5

39,5


280,7

301,3

217,8

258,7

356,6

251,9

466,4

278,7

237,6

220,9

300,5

VII

240,4

228,5

195,9


155,1

468,3

584,4

223,7

263,6

477,3

IX

136,1

376,2

181,7

351,1

308,8

138,2

386,4

224,4


XI

227,2

154,6

306,3

182,6

21,6

163,1

17,1

466,5

184,2

49,0

759,6

XII

75,2

18,2



1992,3

2354,8

2871,6

2017,5

2150,8

2409,5

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bạc Liêu các năm 2000 - 2010.

*Nhiệt độ

Trong năm 2010, nhiệt độ trung bình cả
năm là 27,6oC, tăng hơn so với năm 2009
là 0,5oC và so với năm 2000 là 0,90C.

16

Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm
dao động từ 25,8 - 30,3 oC, tháng có nhiệt
độ cao nhất là tháng 5 và tháng có nhiệt
độ thấp nhất là tháng 1 (bảng 3).

Hình 5. Biểu diễn lượng mưa trung bình các tháng trong các năm 2000 – 2010



25,1

25,1

25,7

25,0

25,7

25,7

25,1

24,2

25,8

II

26,0

26,0

25,7

26,4

25,5


27,0

28,0

28,3

IV

27,7

28,6

28,9

29,0

29,1

28,2

28,5

28,8

28,2

28,9

29,4


27,8

28,3

27,4

28,2

27,7

28,1

27,7

28,2

28,7

VII

27,0

27,5

28,0

27,0

27,2


26,9

27,9

27,6

IX

26,8

26,8

27,0

26,9

27,1

27,2

26,9

27,3

26,7

26,8

27,5


26,9

26,9

27,4

27,0

27,6

26,2

26,1

26,8

26,6

XII

26,0

25,8

26,9

25,0

25,4


26,8

27,1

27,6

tháng

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bạc Liêu các năm 2000 - 2010.

17


Hình 6. Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong các năm 2000 - 2010

là 88% và tháng 4 và 12 có độ ẩm thấp
nhất là 76%. Nhìn chung, độ ẩm không
khí trung bình các tháng trong các năm
2000 - 2010 tương đối ổn định và không
có sự biến động lớn phù hợp với khí hậu
vùng nhiệt đới.

d. Chế độ thủy văn
Bạc Liêu có hệ thống kênh rạch chằng
chịt với hai trục kênh chính là Bạc Liêu Cà Mau và Quản Lộ - Phụng Hiệp. Chế
độ thủy văn của hệ thống kênh rạch trên

Bảng 7. Độ ẩm không khí trung bình các tháng trong các năm (Đơn vị: %)
Năm

80

80

81

83

82

82

85

82

II

82

83

78

79

81

80


80

76

IV

85

84

78

77

76

76

80

78

79

81

76

V


84

84

82

86

86

85

85

83

VII

88

87

85

88

86

86


86

86

IX

89

90

86

88

87

87

88

87

88

89

86

X


87

85

87

84

86

89

85

87

XII

86

84

84

85

82

88


85

82

tháng

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bạc Liêu các năm 2000 – 2010

18

địa bàn chịu ảnh hưởng giao thoa của
thủy triều biển Đông và biển Tây.
• Thủy triều biển Đông ảnh hưởng trực
tiếp đến vùng Nam Quốc lộ 1A là chế
độ bán nhật triều không đều, biên độ
triều lớn, chênh lệch đỉnh triều lớn 30
- 40 cm. Trong một tháng có 2 lần triều
cường, tốc độ truyền triều 15 km/giờ.
• Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của
chế độ thủy văn sông Hậu nên khá
phức tạp. Khu vực Bắc quốc lộ 1A
chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều
biển Tây qua sông Cái Lớn tỉnh Kiên
Giang. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng
không rõ, biên độ triều biển Tây nhỏ
so với biển Đông nên khả năng tiêu
thoát nước kém.
Do khí hậu cận xích đạo gió mùa nên
lượng mưa phân hoá theo mùa đã gây ra
hạn hán và ngập úng cục bộ ở một số thời

thuộc thành phố Bạc Liêu, khu vực này
đã được xây dựng kè và đê biển nên
tốc độ sạt lở không đáng kể. Bên cạnh
đó một số vùng cạnh các sông trong
vùng do dòng chảy xoáy xiết tạo hàm
ếch nên gây ra hiện tượng sạt lở như
kênh Bạc Liêu – Cà Mau, nhưng tốc độ
sạt lở không lớn.
Đất đai của tỉnh Bạc Liêu phần lớn được
hình thành chủ yếu do quá trình bồi tích
của sóng biển và thủy triều, gồm các
nhóm đất chính như sau:

Hình 8. Sạt lở ven biển Bạc Liêu (Ảnh Lâm Văn Khanh, 2011).

19


• Nhóm đất cát: Diện tích khoảng 8.367,77
ha (chiếm 3,24% diện tích tự nhiên),
phân bố dọc theo bờ biển thành phố
Bạc Liêu và huyện Hòa Bình, khu vực
Giồng Nhãn và Giồng Giữa thuộc xã
Hiệp Thành, Thuận Hòa của thành phố
Bạc Liêu và xã Vĩnh Hậu thuộc huyện
Hoà Bình.
• Nhóm đất mặn: Diện tích khoảng 99.276,92
ha chiếm 38,44% diện tích tự nhiên toàn
tỉnh, bao gồm: đất mặn thường xuyên dưới
rừng ngập mặn, đất mặn trung bình và đất

vùng thích nghi, phù hợp với nuôi trồng
thủy sản, làm muối và phát triển rừng
ngập mặn.
Đất phèn chiếm tỉ lệ cao nhất: 51,74%
diện tích tự nhiên của tỉnh), tiếp đó là đất
mặn (chiếm 38,44%). Đất phèn là loại
đất có chứa độc tố nhôm tiềm tàng cao,
độ axit cao và thiếu lân. Loại đất này rất
nhạy cảm trước những hoạt động canh

20

tác, lượng phèn phát sinh sẽ ảnh hưởng
tới độ pH của nước trong các kênh rạch.
*Hiện trạng sử dụng đất
Đến cuối năm 2010, Bạc Liêu có diện tích
257.094 ha, trong đó diện tích đất nông
nghiệp, nuôi trồng thủy sản là 225.568,66
ha chiếm 87,74 % diện tích đất tự nhiên.
Điều này cho thấy tỉnh Bạc Liêu hiện nay
vẫn phát triển ngành nông nghiệp, thủy
sản là ngành chính trong đó thế mạnh là
phát triển nuôi trồng thủy hải sản.
Cơ cấu sử dụng đất chung của tỉnh đang
chuyển dịch theo hướng hợp lý hơn phù
hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh và
dần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã
hội. Phần lớn diện tích đất đã được khai
thác đưa vào sử dụng cho các mục đích
dân sinh, kinh tế.

sinh học hệ sinh thái rừng ngập mặn ven
biển giàu tiềm năng của tỉnh.

Bảng 8. Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bạc Liêu (Đơn: Nghìn ha)

Năm

Tổng
diện
tích

Đất
nông nghiệp
Diện
tích

Đất lâm
nghiệp có
rừng

Nuôi trồng
thuỷ sản

Đất
chuyên
dùng

Đất ở

Tỷ lệ

64,91

5,88

2,31

45,55

17,92 13,31

5,24

3,51

1,38

2001

254,2 128,60

50,59

5,88

2,31

84,08

33,08 13,31


99,00

38,87

5,39

2,12

111,74 43,87 13,58

5,33

4,00

1,57

2004

254,7

87,80

34,47

5,82

2,29

119,02 46,73 17,61


96,60

37,41

5,47

2,12

122,43 47,42 11,70

4,53

4,27

1,65

2007

258,5 104,74

40,52

4,78

1,85

118,16 45,71 10,90

4,22


4,78

1,84

124,20 47,88 10,89

4,20

4,39

1,69

2010

257,1

110,48

42,97

4,74

1,84

115,12 44,78 10,15

3,95

4,21


vô cùng quan trọng để ngọt hóa diện tích
đất nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt
của nhân dân.
Là một tỉnh đồng bằng ven biển, Bạc Liêu
có một hệ thống kênh rạch chằng chịt.
Tổng diện tích các sông, kênh rạch trong
tỉnh chiếm 6.763,7 ha, bằng 2,6% diện
tích đất toàn tỉnh, mật độ bình quân >
1,5 km kênh/km2. Nhìn chung, các sông
và kênh lớn được bắt nguồn từ hai điểm
chính: từ thành phố Cà Mau và từ sông
Hậu - Cần Thơ. Các sông hoặc kênh lớn
này sau khi từ nơi phát nguồn chảy qua
địa phận Bạc Liêu rồi đổ ra các cửa ở
biển Đông và vịnh Thái Lan. Có thể phân
thành hai nhóm: nhóm sông chính và kênh
trục; nhóm các kênh rạch chính:
• Các nhánh sông chính gồm có: sông

21


Gành Hào, sông ngã ba Cái Tàu.
• Các kênh trục gồm: kênh Cà Mau - Bạc
Liêu, kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp.
*Nguồn nước ngầm

Nguồn nước ngầm tầng nông nằm sát
mặt đất được bổ sung bằng nước mưa
và lượng nước từ kênh rạch. Mực thủy

nguồn nước ngầm. Trữ lượng nước có
khả năng đáp ứng cho nhu cầu phát triển
công nghiệp, nông nghiệp và dân sinh.
c. Tài nguyên rừng
Diện tích rừng và đất rừng khoảng 4.832
ha, chiếm 1,87% diện tích đất tự nhiên
của tỉnh, trong đó chủ yếu là rừng phòng
hộ (4.657 ha). Cây trồng chủ yếu là mắm
trắng, cây đước, cây tràm. Rừng ở Bạc
Liêu có hai loại sinh thái rừng đặc trưng
của đồng bằng sông Cửu Long là rừng
ngập mặn ven biển và rừng ngập nước
nội địa. Trong đó rừng ngập mặn có năng
suất sinh học cao, có giá trị về phòng hộ
và môi trường.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn Bạc Liêu có
hệ động, thực vật khá đa dạng về mặt
sinh học. Theo thống kê có: 64 loài thực
vật thuộc 27 họ, chủ yếu là cây Đước,
Vẹt, Mắm, Giá. Động vật trong rừng ngập
mặn có 12 loài thú, 12 loài bò sát, 8 loài
ếch nhái, 67 loài chim, 25 loài tôm và 250
loài cá nước mặn.

Hình 9. Rừng ngập mặn ven biển Bạc Liêu (Ảnh Lâm Văn Khanh, 2010).

22

d.Tài nguyên biển
Vùng biển Bạc Liêu rộng trên 40.000


e. Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản chủ yếu là muối biển, với
trữ lượng lớn đã tạo cho Bạc Liêu có thế
mạnh phát triển nghề làm muối. Ngoài ra,
các mỏ đất sét nằm rải rác trên địa bàn
tỉnh, cát biển tích tụ ven bờ vùng biển Bạc
Liêu nhưng là loại tài nguyên không tái
tạo và với trữ lượng thấp nên chưa được
cơ quan chuyên môn điều tra, thăm dò
đánh giá tiềm năng. Vì thế, việc khai thác
và sử dụng các loại tài nguyên khoáng
sản này còn rất hạn chế.

• Ngoài ra, còn có nhiều vườn chim tự
nhiên nằm rải rác ở các huyện Đông
Hải, Giá Rai và Phước Long. Vườn chim
Bạc Liêu đã và đang là một trong những
điểm du lịch sinh thái rất hấp dẫn, thu hút
du khách trong và ngoài nước.
• Vườn nhãn: Vườn nhãn Bạc Liêu nằm
song song với bờ biển, cách trung tâm
thành phố Bạc Liêu khoảng 6 km và
cách bờ biển khoảng 3 km, diện tích
trên 50 ha, chạy dài trên 11 km đi qua
hai xã Hiệp Thành và Vĩnh Trạch Đông,
nay thuộc thành phố Bạc Liêu.
Nơi đây có những gốc nhãn cổ hàng
trăm năm tuổi, thật sự là một mô hình du
lịch vườn hấp dẫn. Đến tham quan khu

số và du khách thỏa thích đi trên bãi
biển. Du khách có thể bơi xuồng len
lách trong những cánh rừng phòng hộ,
câu cá, bắt tôm… Đi giữa rừng mắm
xanh tươi, du khách sẽ được hít thở
không khí trong lành mà không phải
nơi đâu cũng có.

Ngoài ra, du khách có thể ngồi đò, xuồng,
ca nô để vừa thưởng thức cái không khí
mát mẻ của hình thức du lịch sông nướcmiệt vườn; vừa ngắm nhìn cảnh sắc trời
nước bao la, vừa trò chuyện với những
người dân thôn quê mộc mạc, chân chất
càng làm tăng thêm sự hấp dẫn cho
khách tham quan du lịch.
b. Tài nguyên du lịch nhân văn
• Đồng Nọc Nạng: Là một khu di tích lịch
sử, tọa lạc tại ấp 4, xã Phong Thạnh,
huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Khu di
tích có diện tích 3 ha với nhiều hạng
mục: Khu mộ gia đình Mười Chức, phủ
thờ - nhà trưng bày hiện vật, cụm tượng
diễn tả lại sự kiện ngày 17 tháng 02
năm 1928, (trận quyết tử đòi lại ruộng
đất của anh em Mười Chức với bọn địa
chủ, quan lại cướp đất), nhà thủy tạ….
Di tích lịch sử này đã đuợc Bộ Văn hóa –
Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử cấp
quốc gia năm 1991. Nay là tâm điểm du
lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch trong

nhân dân xã Châu Thới chiến đấu bảo
vệ đền thờ và các tư liêu về cuộc đời
hoạt động cách mạng của Hồ Chủ Tịch
được lưu giữ tại nhà trưng bày.
• Đền đã được Bộ Văn hóa Thông tin
xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc
gia năm 1998. Đây là niềm tự hào của

Hình 11. Khu di tích lịch sử Nọc Nạng (Nguồn:
Sở VH-TT&DL Bạc Liêu)

quân và dân Bạc Liêu, hàng năm vào
các ngày lễ lớn, ngày nghỉ đặc biệt
vào ngày sinh nhật Bác có rất đông du
khách và nhân dân thăm viếng. Hiện
nay, Đền thờ đã được qui hoạch mở
rộng với diện tích 45.000 m2 và nhiều
hạng mục công trình mang ý nghĩa
giáo dục truyền thống và đậm nét văn

Hình 13. Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu
(Nguồn: Sở VHTT&DL Bạc Liêu)

Hình 13. Tháp cổ Vĩnh Hưng (Nguồn: Sở VHTT&DL Bạc Liêu)

cuộc khai quật tại tháp Vĩnh Hưng, các
nhà khảo cổ học còn thu được một bộ
sưu tập hiện vật hết sức quí giá với nhiều
tượng đá, đồng, gốm, đá quí… đánh dấu
một giai đoạn tồn tại và phát triển khá dài

tạ thế vào năm 1976). Di tích được Ủy
ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là
Di tích lịch sử cấp tỉnh năm 1997.
• Lễ Ooc-om-bok và hội đua ghe ngo: Là
một lễ hội truyền thống của đồng bào
dân tộc Khmer ở Nam Bộ nói chung và
ở Bạc Liêu nói riêng. Lễ hội cúng tế, tạ
ơn thần Mặt Trăng và cầu mong được
an lành, may mắn, mưa thuận gió hòa,
mùa mang tốt tươi. Lễ hội diễn ra vào
tối 14 và ngày 15 tháng 10 âm lịch.
Nghi lễ được người dân thực hiện tại
sân nhà hoặc sân chùa.

Hình 14. Hội đua ghe ngo của đồng bào dân tộc
Khmer (Ảnh tư liệu)

25


Hội đua ghe ngo diễn ra sau ngày lễ cúng
trăng, hằng năm được tổ chức rất sôi nổi
trên sông Maspéro (Sóc Trăng). Những
năm gần đây có nhiều địa phương đến
tham gia như Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà
Mau, Kiên Giang.
Lễ hội gắn liền với môn thể thao truyền
thống này đang phát triển mạnh mẽ, trở
thành sự kiện văn hoá truyền thống lớn
ở Việt Nam.

phần phía Bắc quốc lộ 1A có điều kiện
nuôi trồng thủy sản, làm muối và phát
triển rừng ngập mặn.
Hiện nay, nguồn nước trên mặt của Bạc
Liêu đang có nguy cơ bị ô nhiễm do nuôi
trồng thủy sản quá mức và sử dụng hoá
chất trong sản xuất nông nghiệp, cùng
với sự biến đổi của khí hậu, hạn hán
ngày càng gay gắt dẫn đến tình trạng

26

xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng
hơn. Vì vậy, cần phải có biện pháp sử
dụng hợp lí các nguồn nước, hình thành
các hệ thống dự trữ, cấp thoát nước,
tránh để nước thải chưa xử lí lan ra gây
ô nhiễm môi trường nước.
Với đặc trưng về vị trí địa lí và điều kiện
tự nhiên, tỉnh Bạc Liêu đã phân chia địa
bàn tỉnh thành hai vùng sinh thái rõ rệt:
++ Vùng Bắc quốc lộ 1A - vùng sinh thái
nước ngọt - vùng sinh thái trồng lúa,
nuôi thuỷ sản nước ngọt.
++ Vùng Nam quốc lộ 1A - vùng sinh thái
ngập mặn - vùng sinh thái rừng ngập mặn
ven bờ phục vụ ngành nuôi trồng thuỷ sản
nước lợ và nước mặn, làm muối và phát
triển ngành trồng rừng ngập mặn.
++ Theo kết quả quan trắc cho thấy, chất

các chất hữu cơ cao.
Ở các vùng nông thôn, các chất thải từ

các hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm,
sử dụng phân hóa học phục vụ thâm
canh tăng vụ cũng là một trong những
nguyên nhân đáng kể gây ô nhiễm nguồn
nước trên mặt.
Coliform tại các vị trí quan trắc dao động
từ 210 - 24 x 104 MPN/100ml, vượt đến
48 lần so với QCVN 08:2008/BTNMT.
Sử dụng các nguồn nước nhiễm bẩn vi
sinh vật gây ra nhiều bệnh có thể chuyển
thành dịch trong cộng đồng, đặc biệt là ở
các vùng nông thôn.
*Tài nguyên nước dưới đất

Theo khảo sát thực tế và các tài liệu tham
khảo, tỉnh Bạc Liêu có trữ lượng nước
ngầm khá lớn. Hiện tại, tỉnh đang khai
thác và sử dụng nguồn nước ngọt chủ
yếu ở độ sâu từ 80 - 100 m. Nguồn nước
ngọt ở độ sâu này dễ bị nhiễm phèn và ô
nhiễm do nhiều tác nhân.
Nhìn chung nguồn nước ngầm hiện đang
có dấu hiệu ô nhiễm vi sinh cục bộ và tình
trạng xâm nhập mặn vào nguồn nước
ngầm tầng nông tại một số khu vực vùng
Nam quốc lộ 1A. Bên cạnh đó, do việc
khai thác và sử dụng nước ngầm không

nghiệp phát sinh, nước và rác thải sinh
hoạt của lực lượng công nhân lao động
trong nhà máy.
• Hoạt động xây dựng công trình, cơ sở
hạ tầng các công trình kinh tế - văn
hoá - xã hội trên địa bàn tỉnh bao gồm:
nước và rác thải xây dựng phát sinh do
hoạt động xây dựng và nước thải sinh
hoạt của công nhân.
• Hoạt động giao thông đường thuỷ bao
gồm: nước và rác thải giao thông vận
tải phát sinh, chất thải nguy hại như
nước cặn dầu hoặc sự cố tràn dầu.
• Chất thải trong chăn nuôi bao gồm:
phân, nước thải.
• Chất thải trong nông nghiệp - trồng trọt
bao gồm: mùi hôi thối, rác thải, lượng
phân bón dư, thuốc trừ sâu phát sinh
trong hoạt động canh tác.
• Chất thải trong nuôi trồng thuỷ sản bao
gồm: phân, nước thải, thức ăn dư thừa
phát sinh trong nuôi trồng thuỷ sản.
• Chất thải trong hoạt động khai khoáng
bao gồm: chất thải rắn và nước thải.
• Chất thải trong các hoạt động dịch vụ
bao gồm: nước, rác thải.
• Chất thải trong hoạt động y tế, chăm
sóc sức khỏe nhân dân bao gồm: rác
và nước thải y tế.
• Hoạt động môi trường – cộng đồng

môi trường nhiều nhất.
Với lượng nước thải lớn như vậy nếu
không có biện pháp thu gom xử lí triệt để

sẽ là nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm
chất lượng nước trên mặt, nước ngầm và
tác động đến các hệ sinh thái xung quanh.
Qua kết quả dự báo, khối lượng các chất
ô nhiễm trong nước thải đô thị của TP.
Bạc Liêu và các thị trấn trên địa bàn tỉnh
Bạc Liêu thải ra môi trường là khá lớn.
Nếu không được thu gom và xử lí trước khi
thải ra môi trường sẽ gây ô nhiễm nghiêm
trọng tới môi trường, làm ô nhiễm và suy
thoái tài nguyên nước mặt, nước ngầm và

Bảng 9. Lượng nước thải phát sinh tại các đô thị tỉnh Bạc Liêu vào năm 2008,
2009 và dự báo vào năm 2020
Năm

Dân số
(người)

Lưu lượng thải
(m3/ngày)

2008

225.989


góp phần gây ô nhiễm môi trường nước
nói chung và tại các khu đô thị nói riêng,
vì thế cần có các biện pháp xử lí triệt để
các nguồn ô nhiễm này.
• Nước thải công nghiệp
Theo quy hoạch phát triển ngành công
nghiệp của tỉnh đến năm 2010 sẽ tập
trung đầu tư xây dựng khu công nghiệp
với tổng diện tích khoảng 66 ha.
Đến năm 2020, các khu và cụm công
nghiệp sẽ được mở rộng quy mô sản

28

xuất, các nhà máy, xí nghiệp ngày càng
nhiều. Do vậy, nếu không có biện pháp
quản lí, xử lí hợp lí thì đây sẽ là một trong
những nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng
làm suy giảm chất lượng nước mặt của
các sông rạch trên địa bàn.
Tuy trong tương lai, tất cả các khu công
nghiệp và cụm công nghiệp đều phải
có hệ thống xử lí nước thải trước khi
xả ra môi trường, nhưng thông thường
phần lớn các doanh nghiệp chỉ nghĩ
đến lợi nhuận, nếu các cơ quan chức
năng không giám sát nghiêm ngặt thì
tình hình xả nước thải không qua xử lí
ra môi trường có thể sẽ xảy ra. Khi đó,
môi trường tỉnh Bạc Liêu phải tiếp nhận

rất lớn. Sau một thời gian, các chất này
nhất là thuốc kháng sinh đi vào cơ thể
con người làm tích tụ các chất kháng sinh
trong cơ thể con người, gây ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe của con người.
Như đã nhận định ở trên, nước thải tại

các bệnh viện lớn của tỉnh tuy đã qua
hệ thống xử lý nhưng vẫn chưa đạt tiêu
chuẩn cho phép khi thải ra môi trường.
Do đó, trong tương lai nếu như tình hình
này vẫn tiếp diễn và nước thải từ các
bệnh viện khác không được xử lí triệt
để sẽ làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi
trường do nước và rác thải y tế.
• Dự báo tải lượng nước thải từ các hoạt
động du lịch, dịch vụ
Trong năm 2009, tổng lượng khách du
lịch của tỉnh Bạc Liêu đạt 350.000 lượt du
khách và có tổng lượng nước thải ước
tính sinh ra mỗi ngày là 63.000 m3. Số
liệu này có được dựa vào tính toán với
giả thiết lưu lượng nước thải ra bình quân
đối với khách du lịch là 180 lít/ngày.người
(Nguồn: Tính toán thiết kế các công trình
xử lý nước thải, Trịnh Xuân Lai).
Theo dự đoán lượng khách sẽ tới tham
quan, du lịch trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
vào năm 2010 là 406.000 lượt người,
tăng lên 730.000 lượt người vào năm


(Nguồn: Sở Tài nguyện và Môi trường Bạc Liêu, 2010).
*Dự báo diễn biến môi trường nước
trên mặt

Như đã tính toán ở trên, trong tương lai,
các nhánh kênh rạch trên địa bàn tỉnh
Bạc Liêu sẽ phải tiếp nhận một lượng
lớn nước thải phát sinh từ quá trình phát

triển kinh tế xã hội. Đây là một trong
những nguyên nhân chính gây nên vấn
đề ô nhiễm nguồn nước của các kênh
đào, sông rạch trên địa bàn tỉnh Bạc
Liêu trong khi khả năng tự làm sạch của
nguồn nước lại có giới hạn.

29


Trong hiện tại, ngành nuôi trồng thủy
hải sản là loại hình sản xuất đang phát
triển mạnh mẽ trong tỉnh, thế nhưng các
giải pháp về xử lí nguồn nước thải, bùn
thải chưa phù hợp. Theo quy hoạch đến
năm 2010 thì ngành nuôi trồng thủy sản
là một trong những ngành mũi nhọn của
tỉnh. Vì thế, các vấn đề sử dụng không
gian nuôi, xử lí chất thải cần phải được
chính quyền địa phương quan tâm xem

dự báo trên, tỉnh cần xây dựng báo cáo
môi trường chiến lược, xây dựng các
chương trình hành động để tạo sự phát
triển bền vững. Cần tăng cường công
tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa
học kĩ thuật trong công tác bảo vệ môi
trường như: sản xuất sạch hơn, các công
nghệ xử lí nước thải và chất thải rắn, an
toàn sinh học…góp phần giảm ô nhiễm
nguồn nước mặt nói riêng và các thành
phần của môi trường nói chung.

30

*Dự báo phát triển liên quan đến môi
trường nước dưới đất

Theo dự báo đến năm 2015 thì nhu cầu
dùng nước trong sản xuất nông nghiệp
cũng như trong sinh hoạt tại các vùng
nông thôn sẽ gia tăng. Một phần là do
ảnh hưởng của thời tiết khí hậu trong khu
vực, theo dự đoán của các chuyên gia
trên thế giới cho biết nhiệt độ môi trường
sẽ ngày càng tăng. Một phần là do sự gia
tăng dân số, phát triển kinh tế kéo theo
các cơ sở sản xuất trong các vùng nông
thôn cũng gia tăng theo.
Dựa vào Quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội tỉnh Bạc Liêu trong giai

dẫn đến mực nước ngầm dễ bị suy giảm.
Trong tương lai, số lượng giếng khoan
phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất tại
các vùng nông thôn sẽ càng tăng do nhu
cầu của người dân tăng và vấn đề tụt áp

suất nước là vấn đề chắc chắn sẽ xảy ra
trong tương lai. Như thế sẽ rất nguy hiểm
vì điều này sẽ dẫn đến tình hình lớp đất
ngầm sẽ trở nên rỗng và dễ sụt lún. Khi
đó nguồn nước mặt từ các cửa biển sẽ
xâm nhập vào các mạch nước ngầm.
Bên cạnh đó, việc nuôi thủy sản tại các
ao, đầm dễ dẫn đến tình trạng đất bị
phèn hóa, nhất là tại các ao đầm nuôi
tôm. Nếu việc vệ sinh cải tạo môi trường
không thực hiện tốt sẽ làm môi trường
đất bị nhiễm phèn dẫn đến tình trạng
nguồn nước ngầm tại khu vực đó cũng
bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, theo quy hoạch
đến năm 2010, việc nuôi thủy sản sẽ
được kết hợp với nhiều hình thức sản
xuất nông nghiệp khác theo hướng có lợi
cho môi trường nên dự đoán môi trường
nước ngầm sẽ không bị ảnh hưởng nhiều
do hoạt động nuôi thủy sản.
Hiện nay, nguồn nước ngầm ở tầng gần
mặt đất trên địa bàn tỉnh đang có dấu
hiệu bị ô nhiễm vi sinh tại một số khu
vực. Các giá trị đo được cho thấy tổng

trường nước.
2. Diễn biến môi trường không khí
Môi trường không khí mang tính chất
toàn cầu chứ không riêng của một quốc
gia hay một vùng lãnh thổ nào, mức độ
tác động của ô nhiễm không khí ảnh
hưởng trên một phạm vi rộng lớn. Cho
nên, mọi quốc gia trên thế giới đã và
đang tìm cách giảm thiểu nguồn phát
thải gây ô nhiễm không khí để vấn đề ô
nhiễm không khí không còn là gánh nặng
cho đời sống nhân sinh.
Thực tế hiện nay, ô nhiễm không khí
đang là vấn đề nóng bỏng của cả thế
giới, chất lượng không khí đang có nhiều
biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến
con người và các sinh vật. Hàng năm con
người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn
than đá, dầu mỏ, khí đốt. Đồng thời cũng
thải vào môi trường một khối lượng lớn
các chất thải khác nhau như: chất thải
sinh hoạt, chất thải từ các nhà máy và xí
nghiệp làm cho hàm lượng các loại khí
độc hại tăng lên nhanh chóng.
Chất lượng không khí xung quanh trên
địa bàn tỉnh Bạc Liêu hiện chưa có dấu
hiệu ô nhiễm các chất độc hại như SO2,
NO2, CO. Tuy nhiên, chất lượng không
khí tại các cơ sở sản xuất cũng như các
làng nghề thủ công nằm bên ngoài khu

trong khu công nghiệp là: Bụi, CO, SO2,
NOx, H2S, NH3, mùi hôi thối.
Tuy một số nhà máy lớn của tỉnh đã được
quy hoạch vào các khu công nghiệp và
có đầu tư hệ thống xử lí khí thải nhưng
hiện nay vẫn chưa xử lí triệt để các khí
thải độc hại nên vẫn gây ra ô nhiễm môi
trường không khí xung quanh.
Theo quy hoạch, Bạc Liêu có khoảng 13
cụm công nghiệp - tiểu thu công nghiệp
và một số làng nghề như: đan đát, đan
mê bồ, cần xé, rổ, đan lưới, làm nước
mắm, nước tương, dệt vải, đóng ghe
xuồng,… Các cụm công nghiệp và làng
nghề thủ công cũng là các nguồn gây ô
nhiễm môi trường không khí cục bộ.
• Các bãi rác
Tỉnh Bạc Liêu có hai bãi rác lớn là bãi rác
thành phố Bạc Liêu, bãi rác huyện Vĩnh
Lợi, và một số bãi rác nhỏ khác. Một số bãi
rác này đang xây dựng chưa hoàn chỉnh
mà phải tiếp nhận lượng rác thải quá tải từ
khu công nghiệp, cụm công nghiệp và thị
trấn hoặc đã xây dựng hoàn chỉnh nhưng
chưa thực hiện đúng quy trình và kĩ thuật
chôn lấp rác nên phát sinh ra mùi hôi thối
do rác phân hủy tạo ra các khí như H2S,
CH4, NH3…gây ô nhiễm môi trường. Nếu
không có biện pháp bảo vệ môi trường
hợp lí thì đây cũng là nguồn ô nhiễm không

bụi trầm trọng đối với môi trường không
khí xung quanh: công tác đào đất, san lấp
mặt bằng, vận chuyển nguyên vật liệu xây
dựng sẽ làm phát sinh bụi do vật liệu xây
dựng rơi vãi.
Việc xây dựng đô thị, cơ sở hạ tầng còn
phát sinh khí thải do hoạt động của các máy
móc thiết bị hoạt động trên công trường:
SO2, NOx, CO, …làm ảnh hưởng đến chất
lượng không khí khu vực xung quanh.

*Ô nhiễm không khí do hoạt động sinh
hoạt và sản xuất nông nghiệp

Hoạt động của các hộ gia đình như đun
nấu bằng than, dầu, củi cũng góp phần
gây ô nhiễm không khí mặc dù không lớn
so với các nguồn khác. Các chất ô nhiễm
chính là bụi và khói muội than, CO.
Hiện nay, đời sống của người dân ngày
càng cải thiện, mức thu nhập tăng, nhiều
gia đình đã sử dụng điện hoặc bếp gas
cho việc nấu ăn hằng ngày. Tuy nhiên,
nếu không có biện pháp tốt thì lượng khí
thải gây ô nhiễm môi trường không khí
do hoạt động đun nấu từ các khu vực
dân cư đông đúc cũng đáng kể, đặc biệt
là khu dân cư nghèo có mức độ phát
thải khí ô nhiễm cao hơn hẳn những khu
khác, ước tính lớn gấp 10 lần so với các

vượt rất thấp, cùng với môi trường bị
ô nhiễm bụi và tiếng ồn nhẹ ở các trục
đường giao thông nên môi trường không
khí trong những năm 2006 - 2010 tác
động không đáng kể đến đời sống, sinh
hoạt của người dân trong tỉnh.
*Chất lượng không khí tại các huyện

Chất lượng không khí ở các khu vực
xung quanh các thị trấn ở các huyện đều
có chất lượng khá tốt, tất cả các vị trị
quan trắc đều cho thấy kết quả là chỉ số
chất lượng không khí nhỏ hơn 01.
*Chất lượng không khí tại cơ sở sản xuất

Tại hầu hết các cơ sở sản xuất, chất
lượng không khí tương đối tốt. Bên cạnh
đó, theo thống kê vào năm 2006 tại một
số nơi còn ô nhiễm H2S nhưng với nồng
độ không quá lớn, nguyên nhân của hiện
tượng này là do năm 2006 lượng vỏ đầu
tôm bán đi không nhiều gây một lượng
lớn vỏ đầu tôm của các cơ sở chế biến
để tồn đọng và phân huỷ gây ra nồng
độ H2S tăng lên vượt mức tiêu chuẩn và
đến các năm về sau thì lượng chất thải
này đã được thu mua toàn bộ, nên hiện
tượng này không còn xảy ra nữa.

*Chất lượng không khí tại các cơ sở y tế

Doanh thu dịch vụ vận tải trung bình trong
các năm qua (từ năm 2000 - 2008) vào
khoảng 37% và dự kiến đến năm 2020 là
38%/năm. Do đó, tổng áp lực khí thải giao
thông vận tải trong các vùng nông thôn
của tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 dự báo
sẽ tăng khoảng 05 lần so với năm 2005.
Do vậy, tương tự như vùng đô thị thì các
vùng nông thôn của tỉnh cũng sẽ chịu
ảnh hưởng phổ biến ô nhiễm trên diện
rộng do khí thải giao thông vận tải của cả
vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam.
Vì vậy, tỉnh Bạc Liêu sẽ định hướng thực
hiện chương trình bảo vệ môi trường
trọng điểm đến năm 2020 cho khu vực
nông thôn của tỉnh.

33


năm vào khoảng 0,9%).
Dựa trên các hệ số ô nhiễm, có thể ước
tính tổng tải lượng ô nhiễm do khí thải
sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu vào
những năm 2010 và 2020 như sau:

thuỷ hải sản cũng bị ảnh hưởng đáng kể
bởi lượng muối tăng lên quá cao. Xâm
nhập mặn là tích luỹ lượng muối trong


2010

10,0

27,4

16,3

38,5

19,1

2020

10,9

29,8

17,8

41,9

20,8

Khác với môi trường không khí và môi
trường nước, hầu hết các chất gây ô
nhiễm khi thấm vào môi trường đất sẽ bị
lưu giữ lại. Do đó, nếu thành phần chất
gây ô nhiễm quá nhiều, con người muốn

Do đó, chúng ta có thể phân loại ô nhiễm
đất trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu theo các
tác nhân gây ô nhiễm như sau:
• Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học:
Bao gồm phân bón N, P (dư lượng phân
bón trong đất), thuốc trừ sâu (clo hữu cơ,
DDT, lindan, aldrin, photpho hữu cơ v.v.),

34

chất thải công nghiệp và sinh hoạt (kim
loại nặng, độ kiềm, độ axit v.v...).
• Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: Trực
khuẩn lỵ, thương hàn, các loại ký sinh
trùng (giun, sán v.v...). Tại Bạc Liêu có
nhiều bãi rác đổ lộ thiên không hợp vệ
sinh, không được quản lý, đây cũng là
một nguồn gây ô nhiễm không những
cho môi trường đất mà còn cả không
khí, nước mặt, thậm chí cả nước ngầm
• Ô nhiễm đất do tác nhân vật lí: Nhiệt
độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân huỷ
chất thải của sinh vật), chất phóng xạ
(U ran, Thori, 90Sr, 131I, 137Cs).
• Nhiễm phèn: Những trận mưa đầu mùa
thường thường sự chảy tràn lớn xuống
các dòng sông rạch và kênh mương
cuốn theo rác rến, các độc chất trong
đất gây ô nhiễm. Ở các vùng đất có
sự hiện diện của phèn tiềm tàng (lớp

dân. Vì muốn loại trừ nhanh dịch bệnh
và mang lại hiệu quả ngay, người dân có
thói quen sử dụng hoá chất bảo vệ thực
vật, phân bón hóa học trong hoạt động
sản xuất, canh tác của mình. Đồng thời
làm phát tán một phần dư lượng hoá chất
bảo vệ thực vật tồn lưu vào môi trường
đất, nước và tích lũy trong sinh vật gây
ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến
sức khoẻ người dân.

35


*Quá trình phèn hoá

Nhóm đất phèn ở Bạc Liêu có 03 nhóm
phụ đó là nhóm đất phèn tiềm tàng, nhóm
đất phèn hoạt động và nhóm đất phèn
hoạt động bị thủy phân. Tính chất của
đất phèn sẽ thay đổi và có ảnh hưởng
nhất định đến môi trường, hệ sinh thái
tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên và các
tác động của con người.
*Quá trình mặn hoá

Quá trình mặn hoá nguồn tài nguyên đất
chủ yếu do các nguyên nhân sau:
++ Do tác động của thủy triều: Khi triều
cường, nước biển xâm nhập sâu vào nội

động của con người thông qua các hoạt
động kinh tế và sinh hoạt đời sống xã hội
hằng ngày. Mặt khác, sự gia tăng dân số

36

và quá trình đô thị hóa, hậu quả của thiên
tai và các cuộc chiến tranh để lại cũng là
những nguyên nhân làm cho môi trường
tỉnh Bạc Liêu bị biến đổi. Cụ thể như sau:

khu vực nuôi trồng thủy sản không có xử
lí nước thải mà đổ trực tiếp xuống các
kênh rạch, sông ngòi gây ô nhiễm môi
trường nước.

a. Ô nhiễm môi trường nước
Các hoạt động sản xuất công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp xả nước thải vào
các nguồn tiếp nhận (nước thải từ sinh
hoạt của công nhân, nước thải từ các
khâu sản xuất của nhà máy xí nghiệp,
nước thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh tôm giống…). Trong đó, đáng quan
tâm nhất là nước thải sinh hoạt và nước
thải từ các nhà máy chế biến thủy hải sản
đông lạnh xuất khẩu với lưu lượng nước
thải rất lớn, không qua xử lí hoặc xử lí
không đạt yêu cầu, được thải trực tiếp ra
kênh rạch gây ô nhiễm môi trường, trực
tiếp ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng

nguồn của tỉnh Sóc Trăng, Hậu Giang và
Cần Thơ đổ về (nước chua từ các diện
tích đất phèn được cải tạo và canh tác
thải xuống, các loại phân bón, các chất
hữu cơ, ...). Đặc biệt là vào mùa khô do
thiếu nguồn nước ngọt từ sông Hậu đổ
về, nước mặn từ biển Tây và biển Đông
xâm nhập sâu vào các kênh nội đồng, sự
xâm nhập mặn diễn ra phức tạp do hệ
thống sông ngòi chằng chịch ảnh hưởng
đến canh tác nông nghiệp, đặc biệt trong
sản xuất lúa trên đất nuôi tôm.
Hiện nay quá trình chuyển dịch cơ cấu
đất nông nghiệp không theo quy hoạch
như chuyển diện tích đất trồng lúa sang
nuôi trồng thuỷ sản mang tính tự phát,
theo kiểu “mạnh ai nấy làm”.
Để kinh tế phát triển, môi trường bền
vững thì trong quá trình chuyển đổi cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn cần
có quy hoạch cụ thể, bố trí ngành nghề
sản xuất phù hợp với điều kiện thực tiễn
của từng khu vực, phát triển kinh tế phải
gắn liền với bảo vệ môi trường.

Ô nhiễm môi trường nước do việc chuyển
đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, nhiều diện
tích trồng lúa kém hiệu quả được chuyển
sang nuôi tôm thu lợi nhuận cao, đặc biệt
là nuôi tôm công nghiệp và một số loại

Đông), khi triều cường làm cho nước
mặn xâm nhập sâu vào nội đồng gây
mặn hoá nhất là các vùng ven biển;
Hoạt động canh tác không hợp lí như
dẫn nước mặn vào đất nông nghiệp để
nuôi tôm làm phá vỡ cấu trúc của đất
và gây suy thoái nguồn tài nguyên đất;
Các hoạt động khai thác nước ngầm
không theo quy hoạch, quá mức giới
hạn cho phép làm cho mực nước ngầm
hạ xuống thấp hơn mức cân bằng tạo
điều kiện cho nước mặn xâm nhập vào
gây mặn hoá nguồn nước ngầm và suy
thoái nguồn tài nguyên đất.
• Ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật: Từ
khi vùng ngọt hoá được hình thành và
đưa vào quy hoạch khai thác sử dụng
cho đến nay, hoạt động thâm canh
tăng vụ ngày càng nhân rộng từ 01
vụ lên 02 đến 03 vụ trong năm. Đồng
thời với việc lạm dụng hoá chất bảo
vệ thực vật, phân bón trong canh tác
làm phát tán một lượng hoá chất bảo
vê thực vật tồn lưu trong môi trường
đất gây ô nhiễm môi trường làm ảnh
hưởng đến đời sống sinh vật và môi
trường sinh thái.
Theo số liệu thống kê của ngành chức
năng đến ngày 16/12/2005 toàn tỉnh đã
sử dụng khoảng 14.638,85 tấn phân bón

tiêu chuẩn quy định.
Khi mật độ phương tiện giao thông qua
lại trên các trục đường chính cao thì dẫn
đến hệ quả là tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho
phép, tuy nhiên so với một số đô thị khác
xung quanh thì ô nhiễm giao thông cũng
như tiếng ồn tại các lộ chính trong địa bàn
tỉnh vẫn chưa đến mức nghiêm trọng.
d. Ô nhiễm do chất thải rắn
Công tác thu gom và xử lí chất thải rắn
hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu,
hiện tại mới chỉ thu gom được khoảng
trên 75% lượng chất thải rắn trên địa bàn
thành phố Bạc liêu và các thị trấn, vẫn
còn một lượng chất thải rắn còn tồn đọng
và vứt bừa bãi ra môi trường xung quanh
gây ô nhiễm môi trường, trong đó nhất là
đối với các vùng nông thôn.
Các loại rác sau khi được thu gom,
được vận chuyển đến các bãi rác tập
trung của các địa phương để được chôn
lấp, không tiến hành xử lý đối với chất
thải nguy hại, không phân loại chôn lấp
riêng hoặc tái sử dụng và hầu hết các
bãi chôn lấp đều không đạt tiêu chuẩn
bãi chôn lấp hợp vệ sinh.
Hầu hết rác thải sinh hoạt trên địa bàn
sau khi được thu gom đều được mang
đến các bãi rác, nhưng 5/7 bãi rác của
tỉnh chưa thiết kế chôn lấp hợp vệ sinh,

Các nguyên nhân chính tác động và tiềm
ẩn nguy cơ gây suy thoái đa dạng sinh
học của tỉnh là:
• Áp lực của sự gia tăng dân số, quá trình
đô thị hóa ngày càng tăng nhanh đã và
đang tác động làm thu hẹp diện tích các
khu hệ sinh thái và đó cũng là nơi lưu trữ
tính đa dạng sinh học rất cao.
• Các hoạt động chặt, phá rừng bừa bãi,
chiếm đất rừng làm ao, đầm nuôi tôm,
chuyển đổi phương thức sử dụng đất
không theo quy hoạch và các hoạt động
khai thác có tính chất hủy diệt của con
người đối với nguồn lợi động vật và các
yếu tố khác như: ngập lụt, dịch bệnh,
săn bắt trái phép … đã và đang tác động
làm ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh
học, trong đó quan trọng nhất là nguồn
tài nguyên rừng vì đây là nơi chứa đựng
tính đa dạng sinh học rất cao.
• Tình trạng suy thoái và ô nhiễm môi
trường, sự xâm nhập của các loài sinh

vật ngoại lai gây hại cũng là những tác
nhân gây suy giảm tính đa dạng sinh
học. Sự tác động liên đới hệ sinh thái
trên cạn, hệ thủy sinh và trong lòng đất
bởi chất thải công nghiệp, chất thải
khai khoáng, phân bón, hóa chất bảo
vệ thực vật cũng ảnh hưởng xấu đến

xói trung bình hàng năm khoảng 10 – 15
m, tại khu vực thị trấn Gành Hào tốc độ
xói 20 – 25 m/năm, cho đến nay đường
bờ biển đã lùi vào đất liền 300 – 400 m.
Quá trình xói lở diễn ra mạnh ở phía bờ
Bắc, làm cho cảnh quan rừng ngập mặn
ven biển của tỉnh biến đổi theo thời gian.
h. Nhận thức của người dân
Một bộ phận dân cư chưa ý thức cao
trong công tác bảo vệ môi trường, vẫn
còn tình trạng thải chất thải bừa bãi gây

ô nhiễm môi trường làm mất vẻ mỹ quan
đô thị; Một số cơ sản xuất công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp và các cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và các mô hình
sản xuất khác,… trong quá trình hoạt
động không tuân thủ Luật Bảo vệ môi
trường như: không lập báo cáo đánh giá
tác động môi trường, không đầu tư xây
dựng hệ thống xử lí giảm thiểu ô nhiễm
môi trường, chất thải không qua xử lí thải
trực tiếp vào môi trường xung quanh gây
ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sản
xuất và đời sống của người dân khu vực.
V. MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHAI THÁC HỢP
LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ BảO
VỆ MÔI TRƯỜNG Ở BẠC LIÊU
1. Đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo
dục, nâng cao ý thức của người dân

39


tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm
bảo vệ môi trường, có quyền lợi và
trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi
vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường.
2. Tăng cường công tác quản lí, tạo cơ
chế pháp lí và chính sách
• Đẩy mạnh hơn nữa công tác quản lí
môi trường bằng pháp luật. Chú ý hoàn
thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi
trường, tăng cường thanh tra, kiểm tra,
giám sát công tác bảo vệ môi trường ở
các địa phương..
• Kiểm soát và xử lí nghiêm ngặt đối
với các cơ sở phát thải các chất gây ô
nhiễm môi trường.
• Thực hiện chương trình phục hồi và
phát triển rừng, phủ xanh đất trống đồi
trọc. Phát triển trồng cây xanh trong đô
thị và dọc các tuyến giao thông.
• Thực hiện chương trình quốc gia của
Việt Nam về “Biến đổi khí hậu toàn cầu”
và “Bảo vệ tầng ôzôn”; góp phần cùng
các quốc gia khác thực hiện Công ước
của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
và Công ước về Bảo vệ tầng ôzôn (đã
được Chính phủ Việt Nam phê chuẩn
tháng 01 năm 1994).

nghiên cứu công nghệ vật liệu mới và
năng lượng sạch, giảm bớt khí nhà
kính và những khí suy giảm tầng Ôzôn.
• Có biện pháp tổng thể quy hoạch mạng
lưới giao thông thành phố, cải tiến kỹ
thuật giao thông vận tải.
• Trong sản xuất nông nghiệp, phải đảm
bảo sản xuất thực phẩm sạch và bảo
vệ tài nguyên đất, nước, không khí.
• Trong sinh hoạt, phải có ý thức tiết
kiệm các nguồn tài nguyên thiên và
bảo vệ môi trường xanh-sạch- đẹp.
• Nâng cao hiệu quả sản xuất và sử
dụng năng lượng. Khuyến khích sử
dụng các nguồn năng lượng tái tạo.
• Sử dụng nguồn năng lượng của nước
để xây dựng những nhà máy thủy điện
cho các khu vực.
• Tăng cường sử dụng năng lượng
Mặt Trời: xây dựng hệ thống pin mặt
trời tại các địa phương để sử dụng
trong sinh hoạt gia đình (bếp đun,
tivi, thắp sáng…).
• Chuyển giao công nghệ hầm khí Biogaz
đến các hộ gia đình ở địa phương.
• Tận dụng rác thải sinh hoạt, sản phẩm
phụ của chăn nuôi, trồng trọt để làm
khí đốt cho đun nấu hoặc phát điện
phục vụ cho mỗi hộ gia đình.
• Sử dụng nguồn năng lượng của gió,

buôn bán gỗ nhằm phát triển bền vững
tài nguyên rừng.
• Thành lập các Vườn quốc gia và các
khu bảo tồn thiên nhiên để bảo vệ rừng
và các loài động, thực vật hoang dã.
5. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học,
ứng dụng công nghệ, đào tạo nguồn
nhân lực, mở rộng hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
• Đầu tư thực hiện các công trình khoa
học nghiên cứu cải tiến công nghệ,
thiết bị máy móc trong các cơ sở sản
xuất, áp dụng công nghệ tiên tiến vào
sản xuất và xử lí các chất thải.
• Thay đổi nguồn năng lượng, sử dụng
nguồn năng lượng sạch cho các động
cơ ôtô, xe máy và trong sản xuất.
• Tăng cường công tác đào tạo các
chuyên gia nghiên cứu và các kỹ thuật
viên về lĩnh vực bảo vệ môi trường.
• Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường.

VI. VẤN ĐỀ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TỈNH BẠC LIÊU
1. Tính cấp thiết của việc giáo dục bảo
vệ môi trường trong trường học
a. Sự cần thiết phải giáo dục bảo vệ
môi trường trong trường học
Những hiểm họa suy thoái môi trường

môi trường. Đây cũng chính là lực lượng
xung kích hùng hậu nhất trong công tác
tuyên truyền BVMT cho gia đình và cộng
đồng dân cư của khắp các địa phương
cả nước. Hơn nữa, 37.509 trường học
cùng các cơ sở Giáo dục và Đào tạo
cũng là những trung tâm văn hóa của địa
phương, là nơi có điều kiện để thực thi
các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước về bảo vệ môi trường và phát
triển bền vững đất nước.

41


Là nền tảng của nền giáo dục quốc dân,
với gần 18 triệu học sinh, chiếm hơn 20%
dân số, và gần 80% tổng số học sinh,
sinh viên toàn quốc, giáo dục phổ thông
giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc
hình thành nhân cách người lao động
mới. Tác động đến 18 triệu học sinh phổ
thông là tác động đến hơn 20% dân số
- chủ nhân tương lai của đất nước. Nếu
đội ngũ này có sự chuyển biến về nhận
thức, tư tưởng và hành vi, tất yếu sẽ có
thay đổi lớn trong công tác BVMT.
Đích quan trọng của giáo dục BVMT không
chỉ làm cho mọi người hiểu rõ sự cần thiết
phải BVMT mà quan trọng là phải có thói

trương phát triển kinh tế đi đôi với BVMT
và phát triển xã hội, đảm bảo phát triển
bền vững quốc gia. Nhiều văn bản đã
được ban hành nhằm thể chế hóa công

42

tác BVMT, trong đó có công tác giáo dục
BVMTvới nội dung cụ thể như sau:
• Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kì họp
thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm
2005, thay thế Luật Bảo vệ môi trường
năm 1993. Luật quy định về giáo dục
BVMT và đào tạo nguồn nhân lực
BVMT:
++ Công dân Việt Nam được giáo dục
toàn diện về môi trường nhằm nâng
cao hiểu biết và ý thức BVMT.
++ Giáo dục về môi trường là một nội
dung của chương trình chính khóa
của các học phổ thông (trích Điều 107,
Luật Bảo vệ môi trường).
• Ngày 15 tháng 11 năm 2004, Bộ Chính
trị đã ra Nghị quyết 41/NQ/TƯ về “Bảo
vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước”. Nghị quyết xác định quan điểm
“Bảo vệ môi trường là một trong những

trường; có kiến thức về môi trường để
tự giác thực hiện bảo vệ môi trường”.
• Ngày 2 tháng 12 năm 2003, Thủ
tướng Chính phủ đã ra Quyết định số
256/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chiến
lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến
năm 2010 và định hướng đến năm
2020, xác định BVMT là bộ phận cấu
thành không thể tách rời của chiến lược
kinh tế - xã hội, là cơ sở quan trọng
đảm bảo phát triển bền vững đất nước.
Chiến lược đã đưa ra tám giải pháp,
trong đó giải pháp đầu tiên là “Tuyên
truyền giáo dục nâng cao ý thức và
trách nhiệm bảo vệ môi trường”.
• Cụ thể hóa và triển khai thực hiện
các chủ trương của Đảng và Nhà
nước ngày 31 tháng 01 năm 2005, Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra
Chỉ thị “Về việc tăng cường công tác
giáo dục bảo vệ môi trường”. Chỉ thị
đã xác định nhiệm vụ trọng tâm từ nay
đến năm 2010 cho giáo dục phổ thông
là trang bị cho HS kiến thức, kĩ năng
về môi trường và bảo vệ môi trường
bằng hình thức phù hợp trong các môn
học và thông qua các hoạt động ngoại
khóa, ngoài giờ lên lớp, xây dựng mô
hình nhà trường xanh - sạch - đẹp phù
hợp với các vùng, miền…

Các văn bản nêu trên đã khẳng định
Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao vai
trò của công tác BVMT trong sự nghiệp
phát triển bền vững quốc gia, nâng cao
chất lượng cuộc sống của mọi tầng lớp
nhân dân. Đồng thời, qua đó cũng cho
thấy tầm quan trọng của việc giáo dục
BVMT nhằm nâng cao nhận thức, ý thức
về môi trường và BVMT cho công dân
nói chung và cho HS nói riêng.

*Về kiến thức: HS hiểu biết về:

2. Mục tiêu giáo dục BVMT tỉnh Bạc
Liêu trong các trường THPT

*Về thái độ - tình cảm:

a. Mục tiêu chung
Việc giáo dục BVMT nói chung nhằm
đem lại cho người học các vấn đề cơ bản
về môi trường như sau:

b. Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường
tỉnh Bạc Liêu trong chương trình giáo
dục phổ thông

• Khái niệm môi trường, hệ sinh thái; các thành
phần của môi trường và quan hệ giữa chúng.
• Khai thác và sử dụng các nguồn tài

BVMT, phê phán hành vi gây hại cho môi
trường nơi mình đang sinh sống.
*Về Kĩ năng - hành vi:

• Có kĩ năng phát hiện vấn đề môi trường
và ứng xử tích cực với các vấn đề nảy
sinh ở môi trường địa phương.
• Có hành động cụ thể BVMT ở địa phương.
• Tuyên truyền, vận động BVMT trong
gia đình, nhà trường, cộng đồng.
3. Nguyên tắc, phương thức, phương
pháp giáo dục bảo vệ môi trường
trong trường trung học phổ thông
a. Nguyên tắc chung
• Giáo dục BVMT là một lĩnh vực giáo
dục liên ngành, tích hợp vào các môn
học và các hoạt động. Giáo dục BVMT
không phải là ghép thêm vào chương
trình giáo dục như là một bộ môn riêng
biệt hay một chủ đề nghiên cứu mà nó
là một hướng hội nhập vào chương
trình. Thực chất của việc giáo dục
BVMT là cách thức tiếp cận xuyên bộ
môn.
• Mục tiêu, nội dung và phương pháp
giáo dục BVMT phải phù hợp với mục
tiêu đào tạo của cấp học, góp phần
thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp
học.
• Giáo dục BVMT phải trang bị cho học

• Phương pháp giáo dục BVMT nhằm
tạo cho người học chủ động tham gia
vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho
HS phát hiện các vấn đề môi trường và
tìm hướng giải quyết vấn đề dưới sự tổ
chức và hướng dẫn của giáo viên.
• Tận dụng các cơ hội để giáo dục BVMT
nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ bản
của môn học, tính lôgic của nội dung,
không làm quá tải lượng kiến thức và
tăng thời gian của bài học.
b. Phương thức giáo dục bảo vệ môi trường
• Giáo dục BVMT là một lĩnh vực giáo dục
liên ngành, vì vậy, được triển khai theo
phương thức tích hợp. Nội dung giáo
dục BVMT được tích hợp trong các môn
học thông qua chương, bài cụ thể. Việc
tích hợp thể hiện ở ba mức độ: mức độ
toàn phần (toàn bài), mức độ bộ phận
(lồng ghép) và mức độ liên hệ.
Ở THPT có thể tích hợp giáo dục BVMT
ở tất cả các môn; tuy nhiên, một số môn
có cơ hội tích hợp nhiều hơn như: Sinh
học, Hóa học, Địa lý, Ngữ văn, Giáo dục
công dân, Vật lý, Công nghệ,…
• Các hoạt động giáo dục BVMT ngoài
lớp học:
++ Câu lạc bộ giáo dục bảo vệ môi trường:
sinh hoạt theo các chủ đề bảo vệ rừng,
bảo vệ động vật hoang dã, sử dụng

BVMT thường vận dụng nhiều phương
pháp khác như:
• Phương pháp tham quan, điều tra,
khảo sát, nghiên cứu thực địa
• Có thể triển khai theo hai cách:
++ Tổ chức cho học sinh đi tham quan
học tập ở khu bảo tồn thiên nhiên,
nhà máy xử lý rác, khu chế xuất, danh
lam thắng cảnh,…
++ Tổ chức thành lập nhóm học sinh tìm
hiểu, nghiên cứu theo chuyên đề về
tình hình môi trường ở trường học
hoặc môi trường địa phương nơi mình
đang sinh sống.
Các nhóm có nhiệm vụ:
++ Điều tra, tìm hiểu, nghiên cứu tình hình
môi trường ở khu vực các em khảo sát.
++ Báo cáo kết quả, nêu phương án cải
thiện môi trường.
• Phương pháp thí nghiệm
Ví dụ: Thí nghiệm ủ rác khi dạy về xử lý

rác để biết khả năng phân hủy của từng
loại rác. Hoạt động này giúp học sinh ý
thức được việc sử dụng các loại bao bì
đóng gói nào có lợi cho môi trường và
sự cần thiết phải phân loại rác ngay từ
khâu thu gom. Thí nghiệm về tiết kiệm
năng lượng,…
Ở nơi có điều kiện, người ta tiến hành

mương,…
• Phương pháp giải quyết vấn đề cộng đồng
Ở mỗi cộng đồng địa phương có thể có
những vấn đề bức xúc về môi trường
riêng; ví dụ: môi trường làng nghề, môi
trường rừng, môi trường biển và ven bờ,
môi trường ở khu vực công nghiệp,...
giáo viên cần khai thác tình hình môi
trường địa phương để giáo dục học sinh

45


cho đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả.
Phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải
thu thập số liệu, sự kiện và tìm hiểu tình
hình môi trường địa phương, tổ chức các
hoạt động phong trào phù hợp để học sinh
tham gia góp phần cải tạo môi trường.
• Phương pháp học tập theo dự án
Đối với học sinh THPT, có thể cho các
em nghiên cứu một vấn đề về môi trường
ở địa phương. Giáo viên là người hướng
dẫn. Việc lựa chọn các vấn đề nghiên
cứu nên vừa sức với học sinh và phù
hợp điều kiện có của trường và của
địa phương. Học tập theo dự án sẽ tạo
hứng thú, đồng thời rèn luyện tính tự lập,
phương pháp giải quyết vấn đề, hạn chế
việc học thụ động của học sinh.

được lồng ghép vào nội dung của bài học
sao cho:

46

++ Dung lượng kiến thức của bài học
không quá tải, phù hợp với khả năng
nhận thức của học sinh.
++ Mức độ liên hệ thực tiễn về giáo dục
BVMT nhằm khai thác kiến thức, kĩ
năng của bài học vận dụng vào việc
giải quyết các vấn đề đang diễn ra ở
môi trường địa phương.
Mục tiêu của bài học phải đạt được các
yêu cầu cơ bản về chuẩn kiến thức, kĩ
năng và mức độ liên hệ thực tiễn về giáo
dục BVMT ở địa phương.
Tổ chức và hướng dẫn học sinh
thực hiện các hoạt động thực tiễn
giáo dục BVMT địa phương với các
hình thức đa dạng, có sức hấp dẫn,
phù hợp với đặc trưng bài học, với
khả năng của học sinh và điều kiện
cụ thể của địa phương.
Tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh
được tham gia một cách tích cực, phát
huy tối đa năng lực để khám phá và lĩnh
hội kiến thức về giáo dục BVMT.
Chú ý khai thác vốn kiến thức, kĩ năng và
kinh nghiệm thực tiễn của học sinh trong

hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên
và bảo vệ môi trường để đảm bảo phát
triển bền vững của quốc gia nói chung
và ở Bạc Liêu nói riêng.
• Mối quan hệ giữa dân số và môi trường
(sự gia tăng dân số, quá trình đô thị
hóa, công nghiệp hóa nông thôn, các
hoạt động của con người)
• Một số vấn đề cơ bản về môi trường và
tài nguyên thiên nhiên cần phải quan
tâm trên qui mô toàn cầu, quốc gia và
ở địa phương.
• Các vấn đề môi trường được đặt ra ở
Bạc Liêu:
++ Sự tác động của con người đến môi
trường.
++ Ảnh hưởng môi trường đối với sản
xuất và đời sống con người.
++ Hiện trạng khai thác, sử dụng và bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi
trường.
2. Kĩ năng, hành vi
• Thu thập và xử lí thông tin để thấy rõ
thực trạng tài nguyên thiên nhiên và sự
biến đổi môi trường ở địa phương.
• Phát hiện những biểu hiện ô nhiễm môi
trường nơi mình đang sinh sống.
• Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự suy
giảm tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm
môi trường ở địa phương.

Việc giáo dục bảo vệ môi trường qua
môn Sinh học ở bậc THPT là quá trình
hình thành và phát triển cho các em nhận
thức và có thói quen quan tâm đến môi
trường, nhất là môi trường nơi các em
đang sinh sống. Thông qua đó, hình

47


thành cho các em thái độ, ý thức đúng
đắn và các kĩ năng cần thiết để có những
hành động hài hòa với môi trường trong
đời sống hằng ngày. Đồng thời, cũng có
thể hoạt động một cách độc lập hoặc
phối hợp với các cá nhân khác hay tập
thể để cùng nhau tìm ra các biện pháp
giải quyết các vấn đề môi trường hiện
tại và ngăn chặn những vấn đề về môi
trường có thể xảy ra trong tương lai, tạo

điều kiện cho sự phát triển bền vững.
Tuy nhiên việc tích hợp giáo dục bảo vệ
môi trường tỉnh Bạc Liêu vào nội dung
chương trình môn GDCD ở bậc THPT,
giáo viên cần chú ý lựa chọn các địa chỉ,
nội dung và kiểu tích hợp sao cho hợp lí
và đem lại hiệu quả.

* LỚP 10

Mục 1

Nội dung giáo dục BVMT có thể tích hợp

Kiểu
tích
hợp

-- Con người có thể cải tạo môi trường tự nhiên nhưng phải tuân
theo qui luật khách quan của thế giới tự nhiên.
-- Hậu quả của việc cải tạo không hợp lí, tác động tiêu cực tới môi
trường tự nhiên không tuân theo qui luật khách quan và ảnh L ồ n g
hưởng xấu đến đời sống con người.
g h é p ,
-- Phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi làm cạn kiệt tài nguyên liên hệ
thiên nhiên và môi trường tự nhiên ở địa phương bị suy thoái.
-- Tích cực tham gia các hoạt động phong trào bảo vệ môi trường
tự nhiên ở địa phương phù hợp với lứa tuổi.
-- Khái niệm môi trường tự nhiên.
-- Môi trường tự nhiên là 01 trong các yếu tố của tồn tại xã hội.
-- Vai trò của môi trường tự nhiên đối với sự tồn tại và phát triển
của xã hội loài người.
-- Tác động tiêu cực của con người đến môi trường tự nhiên và
hậu quả của nó.
-- Sự biến đổi và nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi môi trường ở
địa phương, ảnh hưởng của nó tới sản xuất và đời sống dân cư.
-- Phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi tiêu cực, làm ảnh
hưởng xấu đến môi trường ở địa phương.

* LỚP 11

Liên
hệ

Mục 1.a

-- Tốc độ dân số tăng nhanh, chất lượng dân số thấp, mật độ
dân số cao và phân bố thiếu hợp lí là một trong các nguyên
nhân làm cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường.
- - Sự gia tăng dân số và phân bố dân cư và ảnh hưởng
của nó tới việc khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường
ở địa phương.
-- Ủng hộ và tích cực tham gia tuyên truyền chính sách dân số
của Nhà nước và địa phương phù hợp với lứa tuổi.

Liên
hệ

Toàn bài

-- Mối quan hệ giữa môi trường và đời sống con người.
-- Ý nghĩa của việc khai thác, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trường.
-- Thực trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên và sự tác động
của nó tới các thành phần của môi trường ở địa phương.
- - Sự cần thiết phải khai thác, sử dụng hợp lí các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường để phát triển
Lồng
bền vững.
-- Một số chủ trường, chính sách cơ bản về khai thác, sử dụng ghép,
hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường của Nhà liên hệ

Bài 12
Chính sách tài
nguyên và bảo
vệ môi trường

49



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status