B GIO DC V O TO
TRNG I HC KINH T QUC DN
HONG TH THANH HNG
áP DụNG CHIếN LƯợC TRáCH NHIệM Xã HộI CủA
DOANH NGHIệP (CSR) TạI DOANH NGHIệP QUY MÔ NHỏ Và VừA
VIệT NAM: NGHIÊN CứU TìNH HUốNG NGàNH MAY
Chuyờn ngnh: Qun tr kinh doanh
Mó s: 62340102
i hớng dẫn khoa học:
PGS TS Lấ CễNG HOA
Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS Lờ Cụng Hoa
H Ni - 2015
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... ii
DANH MỤC VIẾT TẮT .......................................................................................... iii
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................. iv
DANH MỤC HÌNH .................................................................................................... v
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................. 11
1.1.
2.1.1. Quy trình nghiên cứu..................................................................................... 50
2.1.2. Nghiên cứu định lượng.................................................................................. 51
2.1.3. Nghiên cứu định tính ..................................................................................... 57
2.2.
Thống kê mô tả mẫu ................................................................................... 60
2.2.1. Cơ cấu doanh nghiệp khảo sát....................................................................... 60
iv
2.2.2. Đặc điểm của doanh nghiệp khảo sát ............................................................ 63
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................ 66
3.1.
Khái quát về CSR của DNNVV ngành may Việt Nam ............................ 66
3.2.
Kiểm định thang đo ..................................................................................... 68
3.2.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo................................................................ 68
3.3.2. Kết quả phân tích EFA .................................................................................. 74
3.3.
Kiểm định giả thuyết ................................................................................... 77
3.3.1. Kiểm định tương quan giữa các biến ............................................................ 77
3.3.2. Kiểm định giả thuyết ..................................................................................... 79
với thị phần chiếm giữ khoảng 4-5% với thị trường xuất khẩu chủ yếu là Mỹ,
EU, Nhật (chiếm 75%). Hiện nay tổng số doanh nghiệp trong ngành may Việt
Nam xấp xỉ 4654 doanh nghiệp. Theo ước tính, số DNNVV ngành may xấp xỉ
90% tổng số doanh nghiệp. Như vậy DNNVV chiếm vị trí quan trọng trong
ngành may bởi số lượng đông đảo các doanh nghiệp.
Đặc trưng ngành may là chuỗi giá trị toàn cầu được dẫn dắt bởi khách
hàng - các công ty mua hàng có thương hiệu riêng trên thị trường hoặc/và các
công ty thương mại. Các DNNVV Việt Nam ở vị trí khá thấp trong chuỗi giá
trị toàn cầu. Đa phần các công ty lệ thuộc vào phương thức gia công (CMT:
cut-make-trim: cắt – ráp – hoàn thiện). Đây cũng là phương thức hoạt động
đòi hỏi kiến thức thấp nhất và cũng mang lại giá trị gia tăng thấp nhất. Chính
vì ở vị trí khá thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu mà quyền lực thương lượng
của các doanh nghiệp Việt Nam khá thấp. Áp lực từ khách hàng và nhà cung
ứng làm doanh nghiệp chỉ nhận được lợi nhuận biên thấp trên đơn vị sản xuất.
Trong khi đó, áp lực thực hiện CSR ngày càng gia tăng đối với các doanh
nghiệp Việt Nam.
Có thể nói trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, CSR đang trở thành
một trong những điều kiện trong buôn bán thương mại. Đối với các doanh
nghiệp, đó là các luật chơi mới, bắt buộc doanh nghiệp phải tham gia và nếu
chấp nhận cuộc chơi có khả năng đi xa hơn. Đặc biệt trong ngành may, để tìm
2
chỗ đứng trong chuỗi cung ứng toàn cầu đòi hỏi doanh nghiệp phải nỗ lực đầu
tư, nỗ lực cải tiến, nỗ lực chứng minh các tiêu chuẩn lao động và môi trường.
Hay nói cách khác CSR chính là “giấy thông hành” đi vào thị trường thế giới
của doanh nghiệp ngành may. Cộng đồng nghiên cứu đã phát hiện rằng các
doanh nghiệp không kể quy mô, ngành nghề đều phải áp dụng mức độ nào đó
của CSR trong bối cảnh cạnh tranh hiện thời. Hay nói cách khác, động lực
thông hành” để doanh nghiệp có vị thế cao hơn trong chuỗi cung ứng của
ngành. Đồng thời đó cũng là công cụ tạo lợi thế cạnh tranh bền vững trong
ngành may. Bởi lẽ CSR là yếu tố quyết định hành vi của người tiêu dùng và là
yếu tố duy trì lao động chất lượng cao. Đây đang là khó khăn lớn đối với các
doanh nghiệp may Việt Nam hiện nay. Hơn nữa, sự hiện diện ngày càng
nhiều của hàng hóa và doanh nghiệp quốc tế tại các thị trường đòi hỏi
DNNVV Việt Nam phải áp dụng chiến lược CSR. không phải chỉ lựa chọn
chiến lược “tồn tại” mà phải nghĩ đến việc xây dựng “lợi thế cạnh tranh bền
vững”, trong đó CSR là một yếu tố cấu thành quan trọng.
2.2. Khoảng trống lý thuyết
Hơn nữa, lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ khoảng trống lý thuyết. Có
thể khẳng định rằng trên Thế giới hiện nay, nghiên cứu về trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) theo quan điểm chiến
lược ngày càng được chú trọng (Mcwilliams, Siegel, và Wright, 2006). Mặc
dù đây không phải là chủ đề hoàn toàn mới nhưng càng ngày càng là chủ đề
“nóng” trong cộng đồng nghiên cứu và doanh nghiệp trong hơn một vài thập
niên trở lại đây.
Bằng cách phỏng vấn sâu DNNVV ở Australia, Suprawan và cộng sự
(2009) kiểm chứng sự nhận thức và thực hiện trách nhiệm xã hội doanh
nghiệp của DNNVV. Kết quả cho thấy các doanh nghiệp hiểu về trách nhiệm
4
xã hội doanh nghiệp theo cách tiếp cận các bên hữu quan. Các bên hữu quan
chủ chốt của DNNVV là người lao động, khách hàng và cộng đồng. Nghiên
cứu này cũng cho thấy DNNVV sử dụng các công cụ khác nhau để truyền
thông các các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tới các nhóm hữu
quan khác nhau. Qua đó, cũng khẳng định mối quan hệ giữa trách nhiệm xã
hội doanh nghiệp và chiến lược thương hiệu doanh nghiệp. Một số tác giả
các nền kinh tế mới nổi vẫn còn rất ít.
Ở Việt Nam, có số lượng nhất định doanh nghiệp đã áp dụng CSR. Trên
thực tế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) có chương
trình giải thưởng CSR hàng năm cho các doanh nghiệp. Các chương trình về
quản trị kinh doanh cũng đã lồng ghép một phần của chủ đề này vào một số
môn học. Tuy nhiên các nghiên cứu về chủ đề này có rất ít. Do đó, trong phần
này, tác giả sẽ không chỉ đề cập đến nghiên cứu về CSR của DNNVV Việt
Nam mà còn tổng quan các nghiên cứu CSR nói chung tại Việt Nam.
Trong đó, Twose & Rao (2003) nghiên cứu về CSR ở Việt Nam trong
hai ngành dệt và da giày. Nghiên cứu này chủ yếu nhìn dưới góc độ tuân thủ
CSR theo yêu cầu từ người mua và tuân thủ quy định Luật. Undén (2007)
nghiên cứu về ảnh hưởng của tập đoàn đa quốc gia trên phương diện CSR đến
các doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu này chỉ ra rằng các tập đoàn đa quốc
gia là yếu tố xúc tác để các doanh nghiệp Việt Nam nghĩ về chiến lược dài
hạn trong đó có CSR. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn ít quan
tâm và thiếu nguồn lực thực hiện.
Nghiên cứu về CSR của Nguyễn Hồng Hà và Nguyễn Thị Tuyết Mai
trong ngành thức ăn chăn nuôi tại miền Bắc Việt Nam cũng cho thấy một số
phát hiện thú vị. Thông qua tiến hành nghiên cứu định tính, bằng việc phỏng
vấn sâu nhóm các nhà quản lý và các khách hàng trong ngành thức ăn chăn
nuôi, tác giả nghiên cứu thực tiễn việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh
6
nghiệp, cũng như khám phá những cảm nhận của khách hàng về hoạt động
này. Phát hiện từ nghiên cứu cho thấy, hầu như các doanh nghiệp trong ngành
đều ít nhiều triển khai các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Đa số
khách hàng đều cảm nhận việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
trong ngành là tương đối tốt, và các hệ quả của nó có được gồm danh tiếng
nghiệp nên xây dựng và đầu tư chiến lược CSR hơn vì ứng phó thụ động.
Thứ hai, do bản chất sử dụng nhiều lao động của ngành, các doanh
nghiệp trong ngành đang đối mặt với khó khăn trầm trọng về việc tuyển và
lưu giữ lao động lành nghề, công nhân kỹ thuật và quản lý. Thậm chí các
doanh nghiệp ngành may còn cho rằng đây là khó khăn lớn nhất hiện nay.
Việc áp dụng chiến lược CSR cũng sẽ là yếu tố quan trọng để giúp các doanh
nghiệp vượt qua được khó khăn này bởi các hoạt động CSR luôn gắn liền với
lao động, môi trường, xã hội.
Thứ ba, ngành may Việt Nam trong những năm vừa qua có những bước
tiến quan trọng và đang vươn lên trở thành ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn
nhất của nền kinh tế. Đây là ngành định hướng xuất khẩu và sử dụng nhiều
lao động. Việc nghiên cứu các doanh nghiệp ngành may sẽ rút ra những kinh
nghiệm quý báu cho doanh nghiệp các ngành khác trong tiến trình hội nhập
kinh tế thế giới.
Do đó, nghiên cứu áp dụng chiến lược CSR đối với các DNNVV Việt
Nam là việc làm cần thiết nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh bền
vững của DNNVV Việt Nam trong thời kỳ toàn cầu hóa kinh tế. Đồng thời,
cũng đem lại lợi ích to lớn cho xã hội và cộng đồng.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án nhắm đến nghiên cứu kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến
CSR của doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành may và trên cơ sở đó đề xuất áp
8
dụng chiến lược CSR tại các doanh nghiệp này. Nhiệm vụ nghiên cứu cụ
thể bao gồm:
- Tổng hợp lý thuyết và luận giải cơ sở lý thuyết chiến lược CSR của
DNNVV
- Xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết và giả thuyết về mối quan
nghiệp từ ba miền Bắc, Trung, Nam. Dữ liệu định lượng được xử lý thông qua
phần mềm SPSS 16.
5. Những đóng góp mới của luận án
Luận án có đóng góp mới như sau.
Luận án phát triển các thang đo CSR của DNNVV trong bối cảnh ngành
may Việt Nam. Căn cứ trên việc đánh giá CSR theo quan điểm chiến lược của
Burke và Logsdon, tác giả đã phát triển các thang đo chiến lược CSR của
DNNVV. Thang đo này bao gồm 5 tiêu chí: trung tâm (centrality), cụ thể
(specificity), chủ động (proactivity), tự nguyện (voluntarism) và công bố
(visibility).
Luận án cung cấp các bằng chứng các yếu tố lãnh đạo doanh nghiệp, yếu
tố môi trường nội bộ và môi trường bên ngoài có ảnh hưởng thuận chiều đến
CSR của DNNVV ngành may. Luận án xác nhận cơ sở cho rằng CSR của các
DNNVV ngành may đang ở mức ứng phó, thụ động hơn là chiến lược. Các
bằng chứng này được xác nhận thông qua các phân tích định lượng.
Luận án đề xuất mô hình PDCA để áp dụng chiến lược CSR tại các
DNNVV ngành may Việt Nam. Mô hình này cho phép liên kết CSR vào các
chủ đề chiến lược của doanh nghiệp và mang tính cải tiến liên tục. Điều này
rất phù hợp với thực hiện CSR theo các giai đoạn phát triển bởi lẽ áp dụng
CSR không phải là sự chuyển dịch ngay lập tức từ không đến có.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và các danh mục viết
10
tắt, bảng, hình vẽ, nội dung chính của luận án gồm 4 phần sau đây.
Chương 1: Cơ sở lý luận trình bày cơ sở lý thuyết của luận án và mô
hình, giả thuyết nghiên cứu.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu trình bày thiết kế nghiên cứu,
thần tự nguyện” (EC, 2003).
Xu hướng nghiên cứu về CSR cũng sự chuyển dịch mạnh mẽ thành các
phân nhóm khác nhau. Nếu như trước đây, trách nhiệm xã hội được gắn liền
với tính đạo đức thì nay đã là chủ đề nghiên cứu gắn liền với doanh nghiệp và
cơ chế quản trị.
12
Bảng 1.1: Sự phát triển của các cách tiếp cận CSR
Góc độ
tiếp cận CSR
Nghiên cứu
Mục tiêu và cách
tiếp cận
Câu hỏi nghiên cứu
Đạo đức
Kinh doanh
Quản trị công ty
Giá trị và Quy tắc
Giá trị
Tác động
phải do doanh nghiệp tự nguyện mà chỉ để tuân thủ theo pháp luật (ví dụ như
trong lĩnh vực môi trường), hoặc là doanh nghiệp tự nguyện đóng góp một số
nguồn lực (ví dụ con người, thời gian, kiến thức, kỹ năng hoặc là tiền) cho lợi
ích cộng đồng, hoặc đóng góp vào việc cải thiện một số điều kiện thường nằm
ngoài phạm vi của công ty (Moon & DeLeon, 2007).
Theo Carroll (2010), CSR có thể bao hàm chuẩn mực mà các bên liên
quan bên trong và bên ngoài coi là đúng đắn và công bằng, hưởng ứng lại sự
mong đợi của xã hội về quyền công dân, hoặc bao gồm các chương trình đang
hoạt động nhằm thúc đẩy phúc lợi và thiện chí của con người. Cũng theo
quan điểm tương tự như vậy, một định nghĩa phổ biến được sử dụng là "một
cam kết để cải thiện phúc lợi xã hội thông qua thực tiễn kinh doanh tự chủ và
đóng góp từ các nguồn tài nguyên của công ty "(Du, et al., 2010, p. 8; Kotler
13
& Lee, 2005; Mackey, et al., 2007; McWilliams & Siegel, 2000; Waddock &
Graves, 1997).
Như vậy, quan điểm của Carroll hay của các nhà nghiên cứu trước đây
chủ yếu sử dụng định nghĩa này theo quan điểm phi chiến lược và dựa trên lý
thuyết các bên hữu quan. Mặc dù các quan điểm này đã được áp dụng phổ
biến nhưng không hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu theo quan điểm
chiến lược.
Hiện nay, đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo cách tiếp cận CSR theo
quan điểm chiến lược thay vì đạọ đức kinh doanh như trước đây. Nói cách
khác, CSR đang hướng đến quan điểm chiến lược (thay vì đạo đức kinh
doanh) với cơ cấu tổ chức như là một đơn vị phân tích (thay vì là một đơn vị
của xã hội). Theo đó, CSR là: “những hành động nhằm nâng cao vị thế cạnh
tranh và uy tín của một công ty” (Hill, et al., 2008, p.6). Như vậy, doanh
nghiệp sử dụng CSR như là công cụ chiến lược để đáp ứng sức ép từ thị
điều chỉnh của luật pháp. Do đó, trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai thành tố
cơ bản, không thể thiếu của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
15
Trách nhiệm đạo đức: là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận
nhưng chưa được đưa vào văn bản luật. Việc doanh nghiệp tuân thủ pháp luật
là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra. Xã hội kỳ
vọng doanh nghiệp thực hiện các hoạt động có lợi ích cho xã hội hơn cả
những điều quy định trong luật pháp. Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện
nhưng lại chính là trọng tâm của trách nhiệm xã hội.
Trách nhiệm từ thiện: là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài
sự trông đợi của xã hội, như quyên góp xây nhà tình nghĩa, ủng họ đồng bào
lũ lụt, tài trợ cho trẻ em vùng sâu vùng xa…Điểm khác biệt giữa trách nhiệm
từ thiện và đạo đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Nếu doanh nghiệp
không thực hiện trách nhiệm xã hội đến mức độ này vẫn được coi là đáp ứng
đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi.
1.1.3. Quan niệm về chiến lược CSR
Ở góc độ thực tiễn và học thuật, thuật ngữ chiến lược CSR được sử
dụng ngày càng nhiều (Coutinho và Macedo-Soares, 2002, trích trong Sousa
Filho và cộng sự, 2010). Theo Andrews (1987), các chiến lược cấp doanh
nghiệp sẽ quyết định ngành kinh doanh của doanh nghiệp, sứ mệnh, mục đích
và các mối quan hệ giữa các cổ đông. Mintzberg (1983) với cái nhìn sâu sắc
hơn cho rằng trách nhiệm xã hội đã trở thành phần không thể thiếu trong
chiến lược doanh nghiệp. Nói một cách khái quát, chiến lược CSR là việc liên
kết CSR với chiến lược doanh nghiệp để tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Pearce và Doh (2005) cho rằng khái niệm trách nhiệm xã hội khá phổ
biến trong cộng đồng kinh doanh và thường được liên kết với các hoạt động
quản trị, được thúc đẩy bởi các giá trị cá nhân và lợi thế cạnh tranh. Khái quát
danh tiếng của công ty, điều này sẽ tác động tới khách hàng hay là lòng trung
thành của nhân viên. Bằng cách đó, những hoạt động như vậy có thể sản xuất ra
hàng hóa công cộng đồng thời đem lại lợi ích kinh doanh quan trọng mà cuối
17
cùng sẽ dẫn tới tình thế đoi bên cùng thắng (win – win). Vì thế, những hoạt động
này cũng nên được đề cập trong thảo luận về CSR theo quan điểm chiến lược.
Husted và Salazar (2006) phân tích sản lượng xã hội và những chi phí và
lợi ích của một công ty từ các hoạt động CSR dưới một vài điều kiện. Từ đó,
họ phân biệt 3 trường hợp:
Thứ nhất, trường hợp theo chủ nghĩa vị tha trong đó công ty tìm cách tối
đa hóa phúc lợi xã hội mà không kỳ vọng sự đền đáp kinh tế cho công ty.
Thứ hai, trường hợp cưỡng ép những người vị kỷ: khi đó công ty bị
cưỡng ép phải đầu tư vào những vấn đề xã hội để tồn tại (đáp ứng ở mức tối
thiểu những kỳ vọng của xã hội để tránh bị khách hàng tẩy chay).
Thứ ba, trường hợp chiến lược trong đó các công ty sử dụng CSR như
một phương tiện vị thế cạnh tranh duy nhất hay là họ sử dụng những nguồn
lực và năng lực riêng biệt.
Các tác giả định nghĩa chiến lược CSR theo năm tiêu chí được xây dựng
bởi Burke và Logsdon (1996). Sử dụng phân tích kinh tế học vi mô, họ cho
thấy rằng lợi nhuận xã hội, được định nghĩa là sự khác biệt giữa lợi ích và chi
phí kinh doanh từ các hoạt động CSR, trong trường hợp CSR chiến lược cao
hơn trường hợp “vị kỷ”. Điều này được lý giải bởi một sự chuyển dịch của
đường chi phí và lợi ích bởi vì CSR chiến lược có thể khiến cho quản lý chi
phí CSR một cách hiệu quả hơn và/hoặc bổ sung thêm những lợi ích cụ thể
của công ty. Cuối cùng, chiến lược CSR sẽ đem lại sản lượng xã hội cao hơn
trong trường hợp “vị kỷ”.
Mặc dù một công ty theo chủ nghĩa vị tha tập trung vào việc tối đa hóa
Giả sử rằng một nhà quản lý hàng đầu của một công ty tuân theo triết lý
thờ ơ với trách nhiệm, chiến lược phản kháng ám chỉ sự phủ nhận trách nhiệm
19
của nó, thỏa hiệp chỉ xảy ra sau khi bị áp lực ồ ạt từ phía các bên liên quan,
thoái lui bao hàm việc rút các hoạt động của một công ty vào những địa điểm
ít bị hạn chế (ví dụ bảo vệ môi trường) và không hành động có nghĩa cố ý bỏ
qua các vấn đề xã hội. Đối với một công ty định hướng trách nhiệm, phản
kháng hiểu theo nghĩa phối kết với các bên liên quan có lợi ích bền vững theo
giả định của công ty, thỏa hiệp sẽ bao gồm chủ động giải quyết vấn đề, thoái
lui chỉ việc hủy bỏ việc vận hành của công ty khỏi một hoạt động kinh doanh
có vấn đề, và không hành động chỉ xảy ra nếu các công ty chờ đợi thêm thông
tin để hành động cho hợp lý (xem Gobel 1992, 231-239).
Burke và Logsdon (1996) định nghĩa năm đặc điểm của chiến lược CSR
dựa trên việc xem xét các định nghĩa về chiến lược kinh doanh như mục
đích/nhiệm vụ/ mục tiêu, lợi thế cạnh tranh, kế hoạch, quá trình, hay là mô
hình. Quan điểm này sẽ được sử dụng để phát triển thang đo CSR của
DNNVV trong luận án này.
Theo quan điểm của các tác giả này, các hoạt động CSR là chiến lược
nếu chúng thỏa mãn các điều kiện sau:
- Tính trung tâm theo nghĩa liên quan chặt chẽ tới nhiệm vụ và các mục
tiêu của một công ty
- Cụ thể: bằng cách tạo nên những lợi ích riêng biệt đối với công ty và
không sản xuất hàng hóa tập thể
- Chủ động hay là có kế hoạch trong việc dự đoán các xu hướng kinh tế,
công nghệ, xã hội hay là chính trị
- Tự nguyện và không đơn thuần chỉ là một hành động tuân thủ theo
pháp luật
công ty và ban hành các quyết định;
· Đối tác kinh doanh – người lao động, nhà cung ứng, hiệp hội thương
mại và các nhà cung cấp dịch vụ. Các bên hữu quan này giúp doanh nghiệp
đạt được mục tiêu của mình;
21
· Nhóm khách hàng – tất cả đối tượng khách hàng của doanh nghiệp;
· Các nhóm có ảnh hưởng bên ngoài – cộng đồng, truyền thông và các
bên khác có ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của doanh nghiệp.
Theo Freeman (1994), lý thuyết các bên hữu quan nhằm trọng tâm vào
hai câu hỏi sau. Đó là mục tiêu của doanh nghiệp là gì và trách nhiệm của
doanh nghiệp phải thực hiện đối với các bên hữu quan như thế nào? Để trả
lời, lý thuyết này chỉ ra rằng giá trị kinh tế được tạo ra do con người phối hợp
và hợp tác với nhau một cách tự nguyện; nhà quản trị phải phát triển quan hệ,
thúc đẩy các bên hữu quan và tạo ra các cộng đồng để mọi người cố gắng ở
mức tốt nhất tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Do đó, xem xét trong mối quan
hệ qua lại của doanh nghiệp với các bên hữu quan, chỉ tiêu lợi nhuận là kết
quả không phải là yếu tố dẫn dắt trong quá trình tạo ra giá trị của doanh
nghiệp. Nói theo cách khác, theo lý thuyết các bên hữu quan chỉ ra rằng chủ
sở hữu/cổ đông chỉ là một bên hữu quan và không phải là bên duy nhất mà
doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm. Do đó, CSR là cam kết của doanh nghiệp
để hoạt động bền vững, trong đó kinh tế chỉ là một khía cạnh.
Theo Freeman, có 5 chiến lược cấp doanh nghiệp nhằm giúp doanh
nghiệp đạt mục tiêu thỏa mãn các bên hữu quan, giá trị doanh nghiệp và các
chủ đề xã hội (Freeman, 1984). Cụ thể như sau:
- Chiến lược bên hữu quan nhất định: tập trung vào một hoặc một nhóm
bên hữu quan chỉ được thỏa mãn nếu điều đó đặt ra một mối đe dọa cho công
ty hay đem đến một cơ hội kinh doanh. Những lợi ích xã hội dường như chỉ
thu được dưới dạng sản phẩm phụ. Phương thức tiếp cận này không giải thích
được cách cư xử đối với xã hội của công ty là do những cân nhắc hợp lý của
quản lý thúc đẩy. Điều này cũng chưa chắc là đúng nếu lợi ích xã hội và lợi
ích kinh doanh đạt được tiềm năng lớn nhất do quản lý theo cách tiếp cận
phản ứng.