BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------
----------
NGUYỄN THỊ NAM
QUẢN LÝ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RAU AN TOÀN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------
----------
NGUYỄN THỊ NAM
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với giảng viên hướng dẫn
TS. Nguyễn Thị Dương Nga đã định hướng, chỉ bảo, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn đối với tất cả các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và
Phát triển nông thôn, Bộ môn Phân tích định lượng cùng tất các các thầy cô giáo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND huyện, Phòng Kinh tế, Chi cục Thống kế
huyện, Trạm BVTV, Trạm Khuyến nông huyện Gia Lâm, UBND, HTX, các hộ
sản xuất rau an toàn tại xã Đặng Xá, Văn Đức, Yên Viên các cơ sở kinh doanh và
những người tiêu dùng rau an toàn đã cung cấp số liệu khách quan, tạo mọi điều
kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Cuối cùng với lòng biết ơn sâu sắc nhất xin dành cho cơ quan, gia đình,
bạn bè đã giúp đỡ rất nhiều về vật chất và tinh thần để bản thân tôi hoàn thành
được chương trình học tập cũng như đề tài nghiên cứu.
Tác giả
Nguyễn Thị Nam
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
1
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
2
1.2.1 Mục tiêu chung
2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
2
Đối tượng nghiên cứu
3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực tiễn quản lý sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại một số nước trên thế giới 17
2.2.2 Thực tiễn quản lý sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại Việt nam
20
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
26
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
26
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
26
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
30
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
36
3.2
Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn huyện Gia Lâm 41
4.1.1 Thực trạng sản xuất rau an toàn
41
4.1.2 Thực trạng tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn huyện Gia Lâm
50
4.2
Thực trạng công tác quản lý sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn
huyện Gia Lâm
53
4.2.1 Cơ chế tổ chức quản lí sản xuất rau an toàn trên địa bàn
53
4.2.2 Thực trạng hệ thống quản lý bên ngoài đối với việc sản xuất và tiêu thụ
RAT trên địa bàn
57
4.2.3 Hệ thống quản lý sản xuất nội bộ
75
4.4
Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lí sản xuất và
tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Gia Lâm
96
4.4.1 Định hướng
96
4.4.2 Một số giải pháp chủ yếu
97
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
105
5.1
Kết luận
105
5.2
Kiến nghị
BQ
: Bình quân
BVTV
: Bảo vệ thực vật
DV
: Dịch vụ
ĐVT
: Đơn vị tính
FAO
: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
FAVRI
: Viện nghiên cứu rau quả
GTSX
: Giá trị sản xuất
HQKT
SL
: Số lượng
TBKT
: Tiến bộ kỹ thuật
TCCL
: Tiêu chuẩn chất lượng
TTXVN
: Thông tấn xã Việt Nam
UBND
: Ủy ban nhân dân
VSATTP
: Vệ sinh an toàn thực phẩm
vi
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tổng hợp số mẫu phỏng vấn chuyên sâu
4.1
Diện tích, năng suất và sản lượng rau trên địa bàn huyện Gia Lâm
từ năm 2012 đến 2014
4.2
42
Diện tích, chủng loại rau an toàn được Sở Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, Chi cục BVTV Hà Nội đã cấp giấy chứng nhận đủ điều
kiện RAT cho các xã trong huyện Gia Lâm trong 2 năm 2013 và 2014
43
4.3
Một số thông tin cơ bản của các hộ sản xuất được điều tra
44
4.4
Đất trong sản xuất rau của các hộ điều tra năm 2014
46
4.5
Kết quả công tác tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho các hộ
nông dân trên địa bàn xã trong 3 năm 2012 – 2014
4.11
Tình hình tập huấn kỹ thuật của các cơ quan nhà nước cho các hộ
nông dân được điều tra
4.11
60
Các hỗ trợ hộ nông dân đã nhận được trong quá trình sản xuất rau
an toàn
4.12
62
Kết quả thanh tra chuyên ngành bảo vệ thực vật đối với cửa hàng
thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn huyện Gia Lâm
4.13
64
Tình hình kiểm tra giám sát của các cơ quan nhà nước trên ruộng
rau của các hộ nông dân được điều tra
67
Đánh giá của người tiêu dùng, người kinh doanh và người sơ chế về
công tác sản xuất rau an toàn tại ruộng của các cơ quan chức năng
4.17
Trang
69
Số lần thành kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước tại các cơ
sở sơ chế, cửa hàng kinh doanh trên địa bàn huyện
69
4.19 Bảng kết quả giám sát và chỉ đạo gắn tem nhãn nhận diện RAT
Huyện Gia Lâm trong hai năm 2012 – 2014
4.20
Tình hình quản lí rau an toàn trước khi đưa đi tiêu thụ của các hộ
điều tra
4.21
72
Đánh giá của các hộ sản xuất về công tác quản lí chất lượng RAT
của các cơ quan chức năng
4.26
Tự đánh giá về sự tuân thủ các điều kiện sản xuất RAT của các hộ
80
4.27
Đánh giá của các hộ sản xuất về chất lượng RAT
81
4.28
Hình thức, địa điểm và đối tượng bán RAT của các hộ điều tra
82
4.29
Các hoạt động của các hộ sơ chế rau an toàn trên địa bàn
84
4.30
Hoạt động kinh doanh rau an toàn của các hộ kinh doanh
85
Hệ thống tổ chức quản lí sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa
50
bàn huyện Gia Lâm
53
DANH MỤC HÌNH
Số hình
4.1
Tên hình
Trang
Nhận thức của hộ về nguyên nhân tồn dư thuốc bảo vệ thực vật,
nồng độ kim loại nặng và các chất độc hại trên rau
ix
87
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là thực phẩm thiết yếu của con người và là món ăn không thể
thiếu đối với khẩu phần ăn hàng ngày của người Việt Nam nói chung. Hiện trạng
qua, huyện Gia Lâm luôn quan tâm chú trọng đến công tác phát triển sản xuất rau
an toàn, đặc biệt là tại vùng rau an toàn trọng điểm đã được Sở Nông nghiệp và
phát triển Nông thôn Hà Nội cấp chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn
tập trung như xã Văn Đức (250 ha) và Đặng Xá (117 ha), Yên Viên (22 ha).
Trong khi nhu cầu rau an toàn sẽ có xu hướng gia tăng khi thu nhập người dân
tăng và nhận thức cao hơn về vấn đề VSATTP của người tiêu dùng, người tiêu
dùng vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng vào chất lượng rau an toàn. Điều này gây ra
nghịch lý vừa thừa vừa thiếu rau an toàn cho người tiêu dùng. Câu hỏi lớn đặt ra
ở đây là cần phải quản lý việc sản xuất và tiêu thụ rau an toàn như thế nào để tạo
dựng niềm tin cho người tiêu dùng, phát triển sản xuất rau an toàn, nâng cao lợi
ích cho nông dân và cả xã hội? Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào về vấn đề
này được thực hiện tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội- một trong các vùng
cung cấp rau cho thành phố. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Quản lý sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn huyện Gia Lâm,
Thành phố Hà Nội”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý sản xuất và tiêu thụ rau an toàn, từ
đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
đảm bảo chất lượng sản phẩm tại địa bàn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội
trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý sản xuất và
tiêu thụ rau an toàn.
- Đánh giá thực trạng quản lý sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn
huyện Gia Lâm.
2
3
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Sản xuất có thể được hiểu một cách đơn giản là một quá trình chuyển hóa
các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra hay các sản phẩm (Khuyết danh,
2014). Yếu tố đầu vào hay còn gọi là yếu tố sản xuất là bất kỳ hàng hóa hay dịch
vụ nào được dùng để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ khác. Yếu tố đầu vào bao
gồm nguyên liệu đầu vào, lao động, máy móc thiết bị, nhà xưởng, năng lượng.
Đầu ra của quá trình sản xuất là hàng hóa và dịch vụ. Trong sản xuất, công nghệ
là một yếu tố quan trọng làm tăng năng suất với chi phí đầu vào không đổi. Công
nghệ thể hiện cách thức để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ.
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh
doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của bất kỳ đơn vị sản xuất
kinh doanh nào. Đặc điểm cơ bản của sản xuất hàng hóa là sản xuất ra để bán, mà
thông qua quá trình này giá trị và giá trị sử dụng được thực hiện. Người sản xuất
thu hồi lại được vốn và một phần thu nhập được tạo ra, người sử dụng được
hưởng các giá trị mà sản phẩm và dịch vụ mang lại.
Tiêu thụ sản phẩm thường đi qua kênh hàng hóa. Một sản phẩm/dịch vụ
có thể được chuyển trực tiếp từ người sản xuất tới người tiêu dùng, song có thể
được phân phối qua các trung gian khác nhau. Phân phối trực tiếp là kênh tiêu
thụ ngắn nhất, đảm bảo rõ ràng nhất nguồn gốc của sản phẩm tuy nhiên quy mô
nhỏ và nhiều hạn chế của loại kênh này. Sản xuất hàng hóa cần có các tác nhân
đảm nhận chức năng chuyên biệt từ sản xuất tới tay người tiêu dùng sao cho sản
phẩm được tiêu thụ nhiều nhất với chi phí thấp nhất và mang lại giá trị sử dụng
cao nhất cho người tiêu dùng. Trong kênh hàng hóa này, các tác nhân trung gian
có thể là người thu gom, chế biến, bán buôn , bán lẻ. Việc có nhiều tác nhân tham
kiểm soát một tổ chức về chất lượng. Chất lượng phản ánh trình độ và phương
pháp của nhà quản lý.
2.1.2 Đặc điểm sản xuất, tiêu thụ rau an toàn
2.1.2.1 Khái niệm rau an toàn và quy định về sản xuất RAT
Đại học Cần Thơ (2012) định nghĩa “ Những sản phẩm rau tươi (bao gồm
tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa quả có chất lượng đúng như đặc tính giống
của nó, hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới
mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường,
6
thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "rau an toàn"
(Quy chuẩn được trình bày ở Phụ lục 1)“. Khái niệm rau an toàn (viết tắt là RAT) là
những sản phẩm rau tươi (bao gồm các loại rau ăn: lá, thân, củ, hoa, quả, hạt; rau
mầm; nấm thực phẩm) được sản xuất, thu hoạch, sơ chế phù hợp quy trình sản
xuất RAT. Trong đó, Quy trình sản xuất rau an toàn theo hướng GAP (viết tắt là
QTSXRAT) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc cơ quan có thẩm quyền
thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là tỉnh, thành phố) ban hành,
được xây dựng theo Hướng dẫn thực hành Nông nghiệp tốt (Good Agricultural
Practices - GAP) (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007).
Về nhân lực: Có ít nhất một cán bộ chuyên ngành trồng trọt hoặc BVTV
từ trung cấp trở lên để hướng dẫn, giám sát kỹ thuật sản xuất RAT (cán bộ của cơ sở
sản xuất, cán bộ khuyến nông, bảo vệ thực vật hoặc hợp đồng lao động thường xuyên
hoặc không thường xuyên). Người sản xuất RAT được Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn hoặc tổ chức có chức năng nhiệm vụ tập huấn về quy định quản lý và
quy trình sản xuất RAT (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007).
Đất trồng và giá thể: Có đặc điểm lý, hoá tính phù hợp với sự sinh
trưởng, phát triển của cây rau. Không bị ảnh hưởng trực tiếp các chất thải công
nghiệp, chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư, bệnh viện, các lò giết mổ gia súc
tập trung, nghĩa trang, đường giao thông lớn. Hàm lượng một số kim loại nặng
rong). Người bán lẻ thường mua rau trực tiếp từ nông dân, người bán buôn để
bán lại cho người tiêu dùng.
Người tiêu dùng rau: là những người có nhu cầu tiêu dùng rau, thường
mua rau từ tác nhân bán lẻ. Người tiêu dùng cuối cùng có thể là tổ chức (các bếp
ăn tập thể, nhà hàng, khách sạn..) và cá nhân hộ gia đình.
Tổn thất/hao hụt trong quá trình tiêu thụ rau diễn ra khá lớn. Do rau, đặc
biệt rau ăn lá thường cồng kềnh, dễ hư hỏng dẫn đến hao hụt số lượng và chất
lượng. Trong điều kiện giao thông và hạ tầng cho kinh doanh nông sản nói chung
và rau nói riêng ở Việt Nam hiện nay thì hao hụt về số lượng và chất lượng là
đáng kể, có thể lên tới 25-30% (Gia Hưng, 2014). Hao hụt hay tổn thất sau thu
hoạch này giảm đáng kể hiệu quả kinh tế và tính đáp ứng cho nhu cầu của người
tiêu dùng.
Khó kiểm soát chất lượng và truy nguyên nguồn gốc rau. Rau nói riêng và
nhiều thực phẩm khác có nhiều đặc tính chất lượng mà người tiêu dùng không
8
thể quan sát được. Rau an toàn khác với rau được sản xuất không theo quy trình
an toàn ở chất lượng đặc tính bên trong sản phẩm mà người tiêu dùng không
nhận biết và phân biệt được. Đặc biệt tính an toàn cảu sản phẩm rau quả như
FAVRI và FAO (2011) định nghĩa “Thực phẩm được coi là an toàn khi mà
không có những độc hại do bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Thực
phẩm an toàn là một tiêu chuẩn của chất lượng sản phẩm. An toàn là một chỉ tiêu
“ẩn”, rất khó quan sát. Một sản phẩm có thể có chất lượng cao, chẳng hạn như
màu sắc hấp dẫn, hương vị đậm đà, ăn rất ngon miệng, v.v. nhưng vẫn không an
toàn bởi nó có thể nhiễm các vi sinh vật gây bệnh như E. coli, Salmonella; ô
nhiễm hóa chất độc hại như Cadimi, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật quá ngưỡng
cho phép; mối nguy vật lý vv... Ngược lại, một sản phẩm có thể có những chỉ tiêu
chất lượng nhìn thấy được không tốt lắm nhưng có thể nó lại an toàn. Do đó, việc
quản lý chất lượng rau từ sản xuất- tiêu thụ sản phẩm tới tay người tiêu dùng rất
chức do địa phương chỉ định chỉ kiểm tra, giám sát và cấp chứng chỉ trong phạm
vi tỉnh, thành phố. Cơ sở sản xuất phải thuê cơ quan kiểm soát bên ngoài để kiểm
tra đánh giá và cấp chứng chỉ đảm bảo chất lượng, an toàn theo tiêu chuẩn đã công
bố. Hệ thống kiểm soát bên ngoài chỉ thực hiện khi có Hợp đồng giám sát của cơ sở
sản xuất. Hiện tại, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đang chỉ đạo các Cơ
quan, Tổ chức chứng nhận đánh giá cấp chứng nhận sản xuất rau an toàn theo
VietGAP”.
Như thế quản lý sản xuất và tiêu thụ rau an toàn, trong luận văn này được
hiểu như FAVRI và FAO (2011), bao gồm hai hệ thống quản lý. Và quản lý sản
xuất, tiêu thụ RAT cần thực hiện theo chuỗi để đảm bảo chất lượng và truy
nguyên nguồn gốc cho sản phẩm:
Thứ nhất, hệ thống quản lý nội bộ của chính người/cơ sở sản xuất, sơ chế
và kinh doanh nhằm đảm bảo các yêu cầu quy chuẩn về sản xuất và kinh doanh
RAT như đã được quy định bởi quyết định số 104/2009/QĐ-UBND của thành
phố Hà Nội như sau:
Quy định đối với người sản xuất rau an toàn
i) Nhân lực:
a. Người sản xuất phải được huấn luyện, đào tạo qua các lớp huấn luyện
IPM rau (nếu sản xuất theo VietGAP thì phải được huấn luyện về kỹ thuật sản
10
xuất RAT theo VietGAP) do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đào tạo và cấp
Giấy chứng nhận (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2009).
b. Người sản xuất phải thực hiện đúng Quy trình kỹ thuật sản xuất RAT.
c. Tổ chức, cá nhân sản xuất RAT phải có cán bộ chuyên ngành trồng trọt
hoặc BVTV từ trung cấp trở lên để hướng dẫn, giám sát kỹ thuật sản xuất RAT.
ii) Đất trồng và giá thể:
a. Vùng đất sản xuất RAT phải ở trong Quy hoạch vùng đủ điều kiện sản
cụ thể trong quy trình kỹ thuật sản xuất RAT.
v) Thuốc BVTV:
Sử dụng các loại thuốc BVTV có trong danh mục thuốc BVTV được phép
sử dụng trên rau theo quy định của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Ưu
tiên sử dụng thuốc BVTV sinh học, nguồn gốc sinh hoạt. Nghiêm cấm sử dụng
thuốc ngoài danh mục, thuốc hóa học có độ độc cao và thuốc BVTV cấm. Hạn
chế sử dụng chất kích thích sinh trưởng trên rau. Đảm bảo thời gian cách ly theo
quy định trên nhãn thuốc khi thu hái sản phẩm (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn, 2009).
vi) Quy trình sản xuất RAT:
Người sản xuất RAT phải tuân thủ Quy trình kỹ thuật sản xuất RAT do cơ
quan có thẩm quyền ban hành đối với từng loại rau. Trường hợp loại rau chưa
được ban hành Quy trình thì áp dụng tương tự theo Quy trình sản xuất RAT của
loại rau khác cùng nhóm (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2009).
vii). Người sản xuất phải thực hiện nghiêm túc Quy trình sản xuất RAT và
cam kết đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Quy định đối với cơ sở sơ chế rau an toàn
i) Vị trí, thiết kế nhà xưởng sơ chế, chế biến; dụng cụ sơ chế, chế biến;
phương tiện vận chuyển RAT phải đảm bảo các điều kiện về vệ sinh an toàn thực
phẩm và không ảnh hưởng đến chất lượng rau.
ii) Rau cung cấp cho sơ chế, chế biến phải được lấy từ cơ sở đủ điều kiện
sản xuất RAT hoặc cơ sở được chứng nhận sản xuất RAT theo VietGAP. Trường
hợp mua nguyên liệu rau để sơ chế, chế biến thì phải có Hợp đồng thu mua rau với
cơ sở đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất RAT, Giấy chứng nhận
sản xuất RAT theo VietGAP (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2009).
12
iii) Người trực tiếp tham gia thực hiện Quy trình sơ chế, chế biến RAT
13
hàng ngày ghi đầy đủ các thông tin về chủng loại, khối lượng, nguồn gốc xuất
xứ, thời gian nhập xuất hàng (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2009).
d. Sản phẩm RAT phải có bao bì, nhãn mác và niêm phong theo quy định.
Trên bao bì hoặc nhãn sản phẩm phải có đủ các thông tin: Tên, địa chỉ của nhà
sản xuất rau; …(Khuyến khích in mã số, mã vạch; logo VietGAP; logo, thương
hiệu của nhà sản xuất, của tổ chức chứng nhận và các thông tin khác trên bao bì
hoặc nhãn).
e. Người trực tiếp bán hàng không mắc các bệnh truyền nhiễm theo quy
định hiện hành của Bộ Y tế.
g. Niêm yết giá bán rõ ràng và thực hiện bán theo giá niêm yết.
ii) Đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh RAT theo hình thức cung ứng trực tiếp
cho khách hàng hoặc bán buôn tại chợ đầu mối phải có các điều kiện sau đây:
a. Có Giấy chứng nhận vùng đủ điều kiện sản xuất RAT (nếu tự sản xuất)
hoặc có Hợp đồng thu mua rau với cơ sở đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều
kiện sản xuất RAT, sản xuất RAT theo VietGAP.
b. Có Hóa đơn nhập, xuất RAT hàng ngày ghi rõ chủng loại, khối lượng,
nguồn gốc RAT và thời gian nhập, xuất.
c. Sản phẩm RAT phải có bao bì, thùng chứa, dây buộc,… được niêm
phong và vận chuyển trên phương tiện hợp vệ sinh.
iii) Tổ chức, cá nhân xuất khẩu RAT phải đảm bảo chất lượng theo yêu
cầu của bên nhập khẩu. Trường hợp rau không xuất khẩu được và đưa vào lưu
thông trong nước thì phải tuân thủ các yêu cầu quản lý của Quy định này và các
quy định khác của pháp luật.
iv) Tổ chức, cá nhân nhập khẩu RAT để tiêu thụ trong nước phải tuân thủ
các yêu cầu quản lý của Quy định này và các quy định khác của pháp luật.
Thứ hai, hệ thống quản lý chất lượng bên ngoài/ngoại vi: là các tổ chức
kiểm tra, giám sát và cấp chứng nhận rau, quả an toàn được Nhà nước Trung
xuất và kinh doanh rau an toàn trên địa bàn thành phố Hà Nội”; đồng thời chịu
trách nhiệm về quản lý chất lượng trong các khâu sản xuất, sơ chế, kinh doanh
RAT tại địa phương và cơ sở.
- Phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT tăng cường công tác quản lý nhà
nước về sản xuất, tiêu thụ RAT trên địa bàn theo Quy định này.
15