PHần I: mở đầu
I -Lý do chọn SKKN
Trong thời đại hiện nay, khi xã hội ngày càng tiến lên, cuộc cách mạng khoa
học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ thì nhiệm vụ đặt ra cho nhà trờng nói chung
và trờng Tiểu học nói riêng là phải giáo dục con ngời phát triển một cách toàn diện,
hài hoà đủ các mặt tri thức, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất...
Tiểu học là bậc học nền tảng đặt nền móng vững chắc cho ngành giáo dục.
Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở
ban đầu rất quan trọng của nhân cách con ngời Việt Nam. Trong các môn học ở Tiểu
học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vai trò vô cùng quan trọng vì:
Toán học là môn học cung cấp các kiến thức cơ bản, hệ thống tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo Toán học, qua đó phát triển t duy lô gíc, bồi dỡng và phát triển những thao tác
trí tuệ cần thiết để nhận thức thế giới khách quan về mặt số lợng và hình dạng nh trừu
tợng hoá, khái quát hoá, phân tích tổng hợp... nhờ đó biết cách hoạt động có hiệu quả
trong cuộc sống.
Thực tế hiện nay, khoa học kỹ thuật tiến bộ mạnh mẽ, trẻ em đợc tiếp cận tri
thức qua nhiều kênh, nhiều nguồn khác nhau nh thông tin đại chúng, thông qua
truyền hình... Trẻ em sớm phát triển về t duy. Khối lợng tri thức của trẻ em ngày một
gia tăng, nhận thức của các em ngày càng mở rộng. Trẻ em phát triển nhanh hơn có
khả năng nhận thức tốt hơn. Vì thế dạy học không chỉ trang bị những kiến thức kỹ
năng kỹ xảo xác định mà cũng cùng với việc dạy học đó cần phải tổ chức nh thế nào
để đảm bảo dạy học rèn t duy cho học sinh.
Cựu Thủ Tớng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần nhấn mạnh: "Chơng trình sách
giáo khoa phải đảm bảo dạy cho học sinh những nguyên lý cơ bản, toàn diện về các
mặt đức dục, trí dục, mỹ dục. Đồng thời tạo cho các em điều kiện phát triển óc thông
minh, khả năng độc lập sáng tạo. Cái quan trọng của trí dục là: Rèn luyện óc thông
minh và sức suy nghĩ...(Phạm Văn Đồng-Đào tạo thế hệ trẻ của dân tộc thành
những chiến sỹ cách mạng dũng cảm, thông minh sáng tạo-NXBGD-1996tr137)
1
Môn toán có vai trò lớn trong việc rèn luyện phơng pháp suy nghĩ, phơng pháp
suy luận, phơng pháp giải quyết có vấn đề có căn cứ khoa học, linh hoạt, sáng tạo.
Nội dung Toán 4 gồm 4 mạch kiến thức cơ bản: Số học ; Đại lợng và đo đại l-
ợng ; các yếu tố hình học và giải toán có lời văn.(Một số yếu tố đại số và yếu tố
thống kê đợc tích hợp ở nội dung số học). Trong 4 mạch kiến thức cơ bản của Toán
4, mạch số học đóng vai trò trọng tâm, cốt lõi, thời lợng dành cho mạch nội dung số
học khoảng 70% tổng thời lợng Toán 4. Trong hệ thống kiến thức về số học thì nội
dung về số tự nhiên lại là hạt nhân của mạch kiến thức số học.
Mặt khác, bớc sang thế kỷ 21, nớc ta tiếp tục thực hiện chiến lợc đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nớc công
nghiệp hiện đại. Tình hình mới đặt ra cho giáo dục những thời cơ và thách thức mới.
Việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trờng
định hớng XHCN đòi hỏi con ngời đợc nhà trờng đào tạo phải có năng lực thích ứng
với những biến động của thị trờng, biết khai thác các yếu tố tích cực của việc chuyển
đổi này để tiếp tục tự phát triển và góp phần phát triển xã hội.
Khoa học công nghệ có những bớc nhảy vọt đòi hỏi ngời học phải thờng
xuyên cập nhật các tiến bộ khoa học kỹ thuật , phải thay đổi căn bản phơng pháp học
tập, chuyển từ việc học để tiếp thu kiến thức sang học cách tự mình tìm kiếm kiến
thức.
Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là xu thế khách quan đang tác động mạnh đến
giáo dục.Để chủ động bớc vào hội nhập, chúng ta cần chuẩn bị đội ngũ nhân lực
không chỉ có đạo đức, kiến thức, kỹ năng mà còn phải t duy độc lập sáng tạo, có ý
chí vơn lên mạnh mẽ, có những phẩm chất cơ bản của con ngời Việt Nam hiện đại
Nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân, xu hớng học tập suốt đời và
yêu cầu xây dựng xã hội học tập đòi hỏi giáo dục phải tạo cho ngời học lòng say mê
học tập, ham hiểu biết óc tò mò khoa học, khả năng và phơng pháp tự học để tự học
suốt đời.
Các môn học trong nhà trờng trong đó có môn Toán cần phải có những đổi
mới về mục tiêu, nội dung, phơng pháp và hình thức dạy học, đổi mới về trang thiết
bị dạy học và kiểm tra đánh giá để đáp ứng tốt nhất những yêu cầu nêu trên của sự
3
nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc, để nắm lấy thời cơ và vợt qua thách
bài mẫu lại không phát huy hết sự nhạy bén của học sinh.
III -Mục đích nghiên cứu
- Mục đích của của kinh nghiệm là: Tìm hiểu thế nào là trắc nghiệm khách
quan?
+ Nguyên tắc và cách thiết kế đề toán trắc nghiệm khách quan
+ Xây dựng hệ thống đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan và việc rèn
cho học sinh cách làm các làm các đề kiểm tra trắc nghiệm đó để nâng cao chất lợng
dạy học
IV-Tóm tắt nội dung và kết quả nghiên cứu
- Tìm hiểu về nội dung, chơng trình SGK toán 4 phần số tự nhiên
- Tìm hiểu một số vấn đề về trắc nghiệm khách quan
- Tìm hiểu về các loại trắc nghiệm
- Nghiên cứu cách thiết kế bài toán trắc nghiệm khách quan
- Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm phần số tự nhiên
- Đề xuất phơng án giúp học sinh giải các bài trắc nghiệm khách quan
V-Phơng Pháp nghiên cứu
Để thực hiện kinh nghiệm tôi đã sử dụng phơng pháp:
- Phơng pháp nghiên cứu lý luận
- Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phơng pháp quan sát
Phần II. Nội Dung
I. Vị trí và tầm quan trọng
5
Thành tích học tập của học sinh sau mỗi năm học là thớc đo đánh giá ngời
thầy trong năm học đó. Bởi vậy ngời thầy trông đợi kết quả thi của trò với một hy
vọng lớn lao. Trò sẽ lớn lên về thể chất, trí tuệ, tâm hồn. Bởi vậy ngòi giáo viên luôn
tìm cách nâng cao chất lợng thực sự bằng trí tuệ, công sức, thời gian, tâm huyết của
mình.
Vậy làm thế nào để học sinh biết cách làm bài, làm thế nào để đề thi đánh giá
đợc đúng thực chất, chất lợng học của học sinh, chất lợng dạy của giáo viên? Muốn
Trong phạm vi kinh nghiệm này tôi chỉ mạo muội đa ra một cách làm mà đã
đợc tham khảo, đọc qua các tài liệu nhằm giúp học sinh làm quen với bài tập trắc
nghiệm ngay từ mỗi tiết học, mỗi mạch kiến thức cơ bản.
II. Phân tích đặc điểm chủ yếu, mục tiêu, phơng
pháp dạy học, mạch kiến thức của chơng trình SGK
toán 4 mới.
1. Đặc điểm chủ yếu của toán 4.
1.1. Toán 4 mở đầu cho giai đoạn mới của dạy học toán ở Tiểu học.
Quá trình dạy học toán trong Chơng trình tiểu học đợc chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn các lớp 1, 2, 3 và giai đoạn các lớp 4, 5.
- Giai đoạn các lớp 1, 2, 3 có thể coi là giai đoạn học tập cơ bản vì ở giai đoạn này
HS đợc chuẩn bị những kiến thức, những kỹ năng cơ bản nhất về đếm, đọc, viết, so
sánh, sắp thứ tự các số tự nhiên và bốn phép tính về số tự nhiên ( trong phạm vi các
số đến 100 000)
về đo lờng với các đơn vị đo và dụng cụ đo thông dụng nhất; về nhận biết, vẽ các
hình học đơn giản, thờng gặp; về phát hiện và giải quyết các tình huống có vấn đề
trong học tập và trong đời sống, chủ yếu thông qua giải và trình bày bài giải các bài
toán có lời văn,... Đặc biệt, ở giai đoạn này, HS đợc chuẩn bị về phơng pháp tự học
toán dựa vào các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.Nhờ sự hỗ trợ của
các đồ dùng học toán đơn giản, dễ làm nh: hình vẽ, mô hình,... của SGK, học sinh đ-
ợc tập dợt tự pháp hiện, tự giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh kiến thức mới, kết hợp
7
học cá nhân với hợp tác học nhóm, trong lớp; thực hiện học gắn với thực hành, vận
dụng một cách linh hoạt, dới sự tổ chức, hớng dẫn của giáo viên. Với cách chuẩn bị
phơng pháp tự học toán nh trên, HS không chỉ biết cách tự học mà còn phát triển
ngôn ngữ ( nói, viết) để diễn đạt chính xác, ngắn gọn và đầy đủ các thông tin, để giao
tiếp khi cần thiết; không chỉ bớc đầu phát triển các năng lực t duy ( phân tích, tổng
hợp, trừu tợng hoá, khái quát hoá đúng mức ) mà còn từng bớc hình thành t duy phê
phán, biết lựa chọn và tìm cách giải quyết vấn đề một cách hợp lí.
- Giai đoạn các lớp 4, 5 có thể coi là giai đoạn học tập sâu ( so với giai đoạn tr-
Gắn bó với quá trình tổng kết số tự nhiên và hệ đếm thập phân là sự bổ sung
và tổng kết thành bảng đơn vị đo khối lợng ( tơng tự nh bảng đơn vị đo độ dài ở lớp 3
), giới thiệu tơng đối hoàn chỉnh về các đơn vị đo thời gian và tiếp tục giới thiệu một
số đơn vị đo diện tích.
Nhờ khái quát hoá bằng các công thức chữ ( hoặc khái quát hoá bằng lời )
trong số học mà học sinh có điều kiện tự lập một số công thức tính chu vi, tính diện
tích của một số hình đã và đang học. Một số quan hệ toán học và ứng dụng của
chúng trong thực tế cũng đợc giới thiệu gắn với dạy học về biểu đồ, giải toán liên
quan đến tìm số trung bình cộng của nhiều số,....
Có thể nói, trong CHTH mới, việc dạy học số tự nhiên đợc thực hiện liên tục
từ đầu lớp 1 đến cuối kì I của lớp 4, theo các mức độ từ đơn giản và cụ thể đến khái
quát và trừu tợng hơn. Việc dạy học và thực hành, vận dụng số tự nhiên luôn gắn bó
với các đại lợng thờng gặp trong đời sống nh độ dài, khối lợng, thời gian ( khoảng
thời gian và thời điểm ), diện tích,...; với các mối quan hệ trong so sánh hoặc tính
toán thực hiện trên các số, trong quá trình giải quyết các vấn đề gần gũi với đời sống
của HS Tiểu học.
1.3.Toán 4 kế thừa và phát huy các kết quả của đổi mới PPDH toán và đổi mới
cách đánh giá kết quả học tập toán ở các lớp 1, 2, 3
Cụ thể là:
- GV phải lập kế hoạch dạy học; tổ chức, hớng dẫn và hợp tác với HS triển
khai các hoạt động học tập để thực hiện kế hoạch dạy học ( cả năm học, từng tuần lễ,
từng bài học ).
9
- HS phải tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, có trách nhiệm và có
hứng thú đối với học tập môn Toán.
- Cả GV và HS đều phải chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong dạy và học; phát
triển năng lực học tập toán theo từng đối tợng học sinh; tạo ra môi trờng học tập thân
thiện và hợp tác giữa GV và HS, giữa HS và HS; sử dụng hợp lí các thiết bị dạy và
học toán theo đặc điểm của giai đoạn các lớp 4 và 5.
- Phối hợp giữa kiểm tra thờng xuyên và định kì, giữa các hình thức kiểm tra
các lớp 4 và 5; tiếp tục phát triển khả năng diễn đạt và tập suy luận của HS theo mục
tiêu của môn toán ở lớp 4.
III.Phân tích thực trạng phần thiết kế hệ thống bài
tập toán ở lớp 4 chơng trình mới
1. Thực trạng của giáo viên:
Hiện nay trong nhà trờng tiểu học, ngoài các bài tập trong chơng trình, giáo
viên đã chú ý đến việc ra các bài tập thêm để bồi dỡng học sinh giỏi, phụ đạo học
sinh yếu. Song giáo viên mới chỉ dừng lại ở mức độ ra bài tập mà mình tham khảo ở
các sách, cha chú ý đến việc bổ xung nguồn bài tập hoặc thay thế các bài tập cùng
dạng trong SGK cho phù hợp những đặc điểm về trình độ của học sinh, về thực tiễn
của địa phơng.
2. Thực trạng của học sinh.
Qua tìm hiểu điều tra cho thấy đa số học sinh làm đợc các bài tập trong
SGK. Song khi làm đến bài tập nâng cao thì học sinh thờng gặp khó khăn trong nhận
dạng bài toán, cha hiểu sâu sắc bản chất của bài toán từ đó dẫn đến kết quả cha đúng.
Ví dụ: Học sinh sẽ lúng túng khi làm bài tập toán về Tìm hai số khi biết tổng và
hiệu của hai số đó. Do học sinh không xác định đợc đâu là số lớn, đâu là số bé, đâu
là tổng, đâu là hiệu khi ở bài toán cho dới dạng ẩn: Tổng của hai số bằng 8, hiệu của
chúng cũng bằng 8.
Tìm hai số đó.
IV. Hệ thống bài tập Trắc Nghiệm khách Quan cho học
sinh lớp 4 phần Số Tự Nhiên
11
1.Khái niệm Trắc nghiệm kháh quan, hệ thống bài tập Trắc nghiệm kháh quan.
1.1. Khái niệm Trắc nghiệm kháh quan:
Bài trắc nghiệm đợc gọi là khách quan, vì hệ thống cho điểm là khách quan
chứ không chủ quan nh bài trắc nghiệm tự luận. Thông thờng có nhiều câu trả lời đợc
cung cấp cho mỗi câu hỏi của bài trắc nghiệm nhng chỉ có một câu là câu trả lời là
đúng hay câu trả lời tốt nhất. Bài trắc nghiệm đợc chấm bằng cách đếm số lần mà ng-
- Đảm bảo tính vừa sức:Nội dung bài trắc nghiệm phù hợp với cấp lớp (cấp tiểu học-
lớp 4) và hiểu biết kiến thức toán sẵn có của lứa tuổi, thời gian làm bài phù hợp với
trình độ học sinh lớp 4.
2.2. Cách thiết kế một bài tập trắc nghiệm khách quan nói chung.
Khi thiết kế một bài tập trắc nghiệm khách quan, ta tiến hành theo ba bớc sau:
B ớc 1 : Xác định mục tiêu và điều kiện của bài trắc nghiệm.
- Mục tiêu của bài trắc nghiệm là rèn luyện phần kiến thức nào? Sử dụng bài tập đó
để làm gì? ( Rèn luyện các thao tác t duy, các loại hình t duy nào?...)
- Điều kiện của bài trắc nghiệm là thời gian làm bài, hình thức làm bài.....
B ớc 2 : Xác định dạng trắc nghiệm khách quan.
B ớc 3 : Lập các câu trắc nghiệm.
3.Nguyên tắc và cách thiết kế từng bài tập Trắc nghiệm khách quan.
1. Trắc nghiệm đúng - sai
Đây là loại câu hỏi chỉ có hai phơng án để lựa chọn là đúng hoặc sai, câu lệnh
thờng là: đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống hoặc điền dấu x thích hợp vào bảng sau.
1.1 Ưu điểm và hạn chế của dạng trắc nghiệm đúng - sai.
Ưu điểm của dạng trắc nghiệm đúng - sai.
Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm mọi lĩnh vực kiến thức khác
nhau.
Loại câu hỏi đúng - sai giúp cho việc trắc nghiệm bao gồm một lĩnh vực rộng lớn
trong khoảng thời gian ngắn.
Soạn loại câu hỏi đúng - sai tuy cũng cần nhiều công phu nhng chỉ trong thời gian
ngắn có thể soạn đợc nhiều câu hỏi. Có thể viết ít nhất 10 câu hỏi loại đúng - sai
13
trong khoảng thời gian cần thiết để viết đợc 1 câu hỏi có 4 hay 5 câu trả lời cho sẵn
để chọn.
Có tính chất khách quan khi chấm điểm.
Khi làm bài, học sinh chỉ cần chọn một trong hai câu trả lời cho sẵn cần điền
đúng ( Đ ) hoặc sai ( S ) vào ô trống.
Hạn chế của dạng trắc nghiệm đúng - sai.
1.4 Cách thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm đúng - sai
Thiết lập bài tập trắc nghiệm đúng - sai cũng tuân theo 3 hớng chính nh thiết
kế bài tập trắc nghiệm khách quan nói chung, cụ thể.
Bớc 1: Xác định mục tiêu, điều kiện của bài trắc nghiệm.
Bớc 2: Đa ra tình huống
- Đa ra 2 hớng suy nghĩ trong đó một hớng suy nghĩ đúng, một hớng suy nghĩ sai mà
học sinh thờng gặp
- Giải tình huống theo hai hớng đã suy nghĩ rồi ghi lại kết quả.
Bớc 3: Viết lại thành bài trắc nghiệm hoàn chỉnh
Ví dụ: Đúng điền Đ, sai điền S vào ô trống.
248 x 311 = 77028
205 x 378 = 77490
164 x 125
372 x 604 = 223 688
1.5-Một số bài tập dạng trắc nghiệm đúng - sai
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống
Bài 1: 457 895 < 467 895
350 001 > 360 001
15
399 950 = 399 960
796 312 < 797 312
Bài 2: Can thứ nhất đựng 12 lít nớc. Can thứ hai đựng 16 lít nớc. Trung bình mỗi can
đựng 15 lít nớc. Can thứ ba đựng 30 lít nớc.
28 lít nớc
43 lít nớc
13 lít nớc
17 lít nớc
Bài 3: Một đoàn xe có hai loại xe. 6 xe mỗi xe chở đợc 3 tấn. 4 xe mỗi xe chở đợc 2
tấn. Trung bình mỗi xe chở đợc bao nhiêu tấn hàng ?
5 tạ
C. 7698 x 4 + 6715 x 4 = 97616
17