Skkn vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 trường THPT nguyễn du - Pdf 40

1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BR-VT
TRƯỜNG THPT NGUYỄN DU

BÁO CÁO KẾT QUẢ SÁNG KIẾN
CẤP CƠ SỞ NĂM HỌC 2016 - 2017

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG
DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” CHƯƠNG
TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10
Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN DU

TÁC GIẢ SÁNG KIẾN:
Họ và tên: Mai Thị Mai – Thạc sĩ, Giáo viên


2
Chương 1:
CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
1. Sự cần thiết hình thành giải pháp
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới
cho sự nghiệp giáo dục là đào tạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra ngày càng cấp thiết. Một trong
những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính
hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng
lực và phẩm chất của nười học, phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS. Vì vậy, Việc vận
dụng và tổ chức có hiệu quả quá trình dạy học trong nhà trường phổ thông thì các phương
pháp giảng dạy là một thành tố vô cùng quan trọng, vì việc vận dụng hợp lý các phương
pháp dạy học nhằm là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành
động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong

huống khác nhau và trong thực tiễn, tránh sự ỷ lại và phụ thuộc vào GV, đem lại niềm vui,
sự yêu thích qua từng tiết học, bài học đó nhiệm vụ hết sức cấp thiết.
2. Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp
Vấn đề vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học không phải là một
vấn đề mới, mà từ trước đến nay có rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các chuyên gia
trong và ngoài nước đưa ra nhiều giải pháp đề cập ở những góc độ khác nhau.
Vậy, trong công tác giáo dục điều quan trọng là nhà giáo phải làm cho học sinh hào
hứng, phấn khởi, tích cực tiếp nhận tự sự giáo dục. Nhà giáo dục chỉ là người hướng dẫn,
gợi mở cho học sinh chứ không thể thay thế được tính tích cực chủ động, sáng tạo của học
sinh như nhà triết học, người thầy vĩ đại của Trung Quốc thời kỳ cổ đại là Khổng tử nói:
“Trò nào không hỏi làm thế nào? Làm thế nào? Thì ta cũng chẳng làm thế nào được”. Vì
vậy, nhà giáo dục phải tìm mọi biện pháp động viên, khơi dậy tính tích cực của chủ thể ông
nói: “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực mình vì không rõ được
thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc khác
thì không dạy nữa”.
Ở Việt Nam tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học như
tác giả Phan Huy Ngọ: “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” tác giả đã đi
sâu nghiên cứu vấn đề lý luận dạy học, các phương pháp dạy học, kỹ thuật sử dụng phương
tiện dạy học trong nhà trường, điểm mạnh và hạn chế của các phương pháp dạy học, các
phương pháp đánh giá kết quả [33; 183]. Cũng như Trần Bá Hoành: “Đổi mới phương
pháp dạy học, chương trình SGK” tác giả nghiên cứu và trình bày lý luận chung đổi mới


4
phương pháp dạy học, chương trình và SGK phổ thông [19; 7,176]. Còn Đặng Thành
Hưng: “Tương tác và hoạt động của thầy trò trên lớp học” tác giả đã chú trọng trình bày kỹ
thuật sử dụng câu hỏi trong bài học, hành vi ứng xử của giáo viên, sử dụng lời nói trên lớp
và trình bày bảng như một phương tiện ngôn ngữ viết trên lớp [20; 28]. Với Trần Bá Đoàn:
“Lý luận cơ bản về dạy và học tích cực” tác giả nêu lên những vấn đề chung về thực trạng
dạy và học hiện nay, sự cần thiết phải đổi mới, những định hướng đổi mới theo phương

Thứ nhất, Xuất phát về mặt cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học
tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn GDCD lớp 10
4.1. Khái niệm phương pháp và phương pháp dạy học
+ Khái niệm phương pháp
Khái niệm phương pháp xuất phát từ thuật ngữ Hi Lạp “Methodos” có nghĩa chung
nhất là con đường nghiên cứu, cách thức làm việc, phương tiện mà chủ thể phương pháp
dạy học sử dụng tác động, chiếm lĩnh để tìm ra và chứng minh chân lý.
G.Hêghen đưa ra định nghĩa về phương pháp và được Lênin nêu lên trong tác phẩm
Bút ký triết học: “Phương pháp là hình thức vận động của nội dung sự vật. Mỗi sự vật đều
có bản chất của nó và được thể hiện qua hình thức nhất định. Hình thức không bao giờ tồn
tại riêng, tách rời nội dung. Đồng thời nội dung cũng không tồn tại tách rời hình thức vận
động của nó. Mỗi sự vật đều có phương pháp vận động riêng của mình” [33; 142]. Trong
dạy học cần phải có phương pháp, phải làm cho HS tiếp thu kiến thức bằng con đường
ngắn nhất, với sự nỗ lực của HS, dưới sự hướng dẫn giảng dạy của GV. Kết quả trong
trường phổ thông được đánh giá không chỉ ở mặt nội dung mà còn cả về phương pháp.
Theo quan điểm của C. Mác (1818-1883): “Phương pháp là sức mạnh tuyệt đối, duy
nhất, cao nhất, vô cùng tận, không có vật thể nào có thể cưỡng lại nổi; đó là xu thế của lý
tính đi đến chỗ tìm thấy lại, nhận thấy lại bản thân mình ở trong mọi sự vật ” [24; 122].
Trong công tác giáo dục muốn đạt được hiệu quả thì GV phải được trang bị đầy đủ cả về
cơ sở lý luận khoa học lẫn kinh nghiệm thực tế. Vì có kiến thức tốt chưa chắc đã có
phương pháp dạy học tốt, nhưng không thể có phương pháp giảng dạy tốt nếu GV chưa
nắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn. Từ những quan niệm trên, chúng tôi đưa ra

một định nghĩa về phương pháp như sau: Phương pháp là cách thức làm việc của
thầy và của trò để đạt được mục đích đặt ra.
+ Khái niệm phương pháp dạy học


6
Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học. Theo tác giả

7
theo PPDH tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều hơn so với dạy theo phương pháp thụ
động” [19; 83]. Còn cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “phương pháp dạy học mà
các đồng chí nêu ra, nói gọn lại là lấy người học làm trung tâm. Người ta thường đặt ra
những câu hỏi, đưa ra những câu chuyện có tính hấp dẫn, khêu gợi, đòi hỏi, người nghe,
người đọc, dẫu là người suy nghĩ kém cỏi cũng phải chịu khó, suy nghĩ, tìm tòi...PPDH tích
cực này có khả năng phát triển được những năng lực đang ngủ yên ở mỗi con
người...Phương pháp này giúp người ta phương pháp tự học và ham học. Đó là cái quý báu
nhất”[17; 5]. Tuy nhiên, hiện nay cũng đang có nhiều quan niệm, tư tưởng của các giáo dục
trong và ngoài nước tập trung làm rõ “Phương pháp dạy học tích cực”. Mỗi một khái niệm
có sự tiếp cận khác nhau về cách diễn đạt. Nhưng hầu hết các tác giả đều khẳng định,
phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người
học.
Trên cơ sở tham khảo một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, chúng tôi
đưa ra định nghĩa về phương pháp dạy học tích cực như sau:
Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp khơi dậy, phát huy tính chủ động
sáng tạo tích cực của cả người dạy và người học, trong đó lấy người học làm trung tâm
trên cơ sở phát huy vai trò định hướng, tổ chức của người thầy và kết hợp các phương tiện
kỹ thuật hiện đại nhằm đạt được các mục tiêu của bài học.
4.2. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh
PPDH tích cực dựa trên cơ sở tâm lý cho rằng, nhân cách của trẻ được hình thành
thông qua các hoạt động chủ động, có ý thức. Trí thông minh của học sinh nhờ sự tác động
giữa chủ thể hoạt động với đối tượng và môi trường. Dạy học theo cách này không chỉ đơn
giản cung cấp tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Khả năng hành động là một yêu cần
được đặt ra không chỉ đối với từng cá nhân mà cả ở cấp độ cộng đồng địa phương và toàn
xã hội. Trong PPDH tích cực, học "chữ" và học "làm" gắn với nhau. Từ học làm đến biết
làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại và phát triển như nhân cách một con người lao
động, tự chủ, năng động, sáng tạo.
- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.

 So sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học tích cực như
sau:
Phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học

Quan

truyền thống
tích cực
- Học là quá trình tiếp thu và lĩnh - Học là quá trình phát triển nội lực

niệm

hội tri thức, qua đó hình thành vốn có của người học làm cho người


9
kiến thức, kỹ năng, tư tưởng và học có được phương pháp, kĩ năng,
tình cảm.

thói quen, ý chí tự học bằng cách
tìm tòi, khám phá, thu nhận và xử lý

Bản chất

thông tin từ môi trường xung quanh.
- Dạy là quá trình truyền thụ tri - Dạy là quá trình tổ chức hoạt
thức, kỹ năng và chứng minh chân động nhận thức cho HS. Dạy HS


học phù hợp như: Sách giáo khoa,

- Tài liệu do GV soạn dạy cho

sách giáo viên, phòng thí nghiệm,

người học để đáp ứng các kỳ thi.

thực tế…
+ Yêu cầu của chương trình quy định
+ Tình huống thực tế, hoàn cảnh xung
quanh.
+ Nhu cầu xã hội

Phương

+ Những vấn đề học sinh quan tâm.
Chủ yếu sử dụng phương pháp GV hướng dẫn học sinh tự tìm tòi,

pháp

thuyết trình , diễn giải, truyền thụ khám phá, giải quyết vấn đề giúp
kiến thức một chiều.

HS lĩnh hội tri thức một cách chủ

động. Dạy học tương tác.
Chỗ ngồi cố định, GV đối diện Chỗ ngồi linh hoạt như: Học ở lớp,
với cả lớp.



học
trò - Người dạy chủ động truyền đạt - Dạy học hướng tập trung vào
của Người tri thức, người học thụ động tiếp người học, đề cao vai trò chủ động,
Vai

dạy

và thu.
người học

tự lực tích cực của người học.
Người học tự mình tìm ra kiến thức
dưới sự hướng dẫn của GV.
- Người dạy – người học, người học

- Người dạy truyền thụ một chiều – người học.
độc thoại hay phát vấn.
- Người dạy định hướng, hướng
- Người dạy giảng - Người học dẫn cho người học về phương pháp
ghi nhớ, học thuộc lòng. Người tự học, cách ứng xử, giải quyết vấn
dạy độc quyền đánh giá cho điểm.

đề.

- Người dạy là thầy dạy, dạy chữ, - Người dạy là thầy học cách dạy
dạy nghề và dạy người.
Ưu điểm

cho người học, tự học chữ, tự học

thức và cấu trúc theo một logic động giải quyết vấn đề.
chặt chẽ.

Hạn chế

- Không khí lớp học luôn sôi nổi.

- Cung cấp cho người học khuôn
mẫu và phương pháp nhận thức,
phương pháp tổng hợp, cấu trúc
tài liệu học tập, giúp người học có
phương pháp nhận thức.
- Dạy học truyền thống không đòi
hỏi sử dụng nhiều phương tiện
nên đỡ tốn thời gian và công sức
cho GV.
- Thu được rất ít thông tin phản - Đòi hỏi GV phải gia công về tự
hồi từ phía người học.

lực tài liệu và tốn nhiều thời gian,

- Mức độ lưu giữ thông tin của công sức đầu tư cho bài giảng.
người học rất ít, do trí nhớ ngắn - Phải có đủ phương tiện và thiết bị
hạn, trí nhớ làm việc của người dạy học phù hợp để đáp ứng quá
nghe thường xuyên bị quá tải.

trình dạy học.

- Tính cá thể hóa trong dạy học - HS sau khi tập trung vào suy nghĩ,
thấp, do giảng viên phải dùng một bàn bạc, trao đổi phải tự đưa ra kết

HS tự lực suy nghĩ, sáng tạo và lựa chọn giải pháp tối ưu, cho kết quả tốt nhất.
Bước 3: Kết luận vấn đề:
GV cho các nhóm trình bày kết quả của nhóm mình. Cả lớp cùng thảo luận, so
sánh và đánh giá kết quả của từng cá nhân hay của nhóm, GV kết luận vấn đề đã được giải
quyết và đề xuất vấn đề mới.
Quá trình nghiên cứu và thử nghiệm, chúng tôi nhận thấy tùy theo nội dung bài học
và trình độ HS, GV có thể vận dụng PPNVĐ theo các mức độ đã nêu trên cho phù hợp.
Tuy nhiên, khi vận dụng, cho dù ở mức độ nào thì GV luôn phải có sự chuẩn bị chu đáo,
trước các tình huống và cảm xúc của HS khi trả lời các câu hỏi, khi giải quyết các vấn đề.
Vận dụng PPNVĐ vào dạy học môn GDCD cần lưu ý một số điểm như sau:
- Dạy học nêu vấn đề có tác dụng tốt trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS.


13
- Vấn đề nêu ra phải phù hợp với trình độ HS với mục tiêu bài học và gắn với thực tiễn
cuộc sống, huy động được vốn sống, kiến thức của HS, tránh tầm thường hóa hoặc thô
thiển hóa làm mất định hướng chính trị.
- Mất nhiều thời gian, phải có tâm huyết, công sức và sự chuẩn bị kỹ lưỡng.
- Phải phát huy được khả năng độc lập, suy nghĩ, năng lực tư duy sáng tạo của người học,
vận dụng các tri thức của bản thân vào giải quyết vấn đề trong học tập cũng như trong thực
tiễn.
- Phải kết hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp khác.
Vận dụng phương pháp nêu vấn đề có những ưu điểm sau:
Một là, tạo ra môi trường lý tưởng cho người học, bộc lộ sự hiểu biết của mình một
cách tích cực và tự giác. Đồng thời GV tổ chức hoạt động học tập để HS nắm vững được tri
thức và các phương pháp lĩnh hội khác nhau để đạt hiệu quả.
Hai là: PPNVĐ giúp người học tiếp nhận tri thức một cách chủ động, là cơ hội để
HS thể hiện khả năng của bản thân trong việc áp dụng kiến thức đã học vào giải quyết vấn
đề các tình huống thực tiễn đặt ra.
Ba là, PPNVĐ giúp người học phát huy khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển năng

với những HS rụt rè, nhút nhát trong học tập, tạo cơ hội để các em được tự thể hiện mình,
HS có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hay cùng giải quyết một vấn đề, một tình huống về
triết học, đạo đức… trong chương trình môn GDCD. Phương pháp này đòi hỏi người học
tích cực động não, cho phép mọi thành viên trong nhóm được phát huy tối đa khả năng của
bản thân trong hoạt động hợp tác, cộng tác, tương tác với mọi thành viên khác, được tạo
mọi điều kiện để tham gia trực tiếp vào quá trình dạy học, được thể hiện quan điểm của
mình.
Áp dụng PPTLN vào dạy học môn GDCD cần phải theo các bước sau:
- GV giới thiệu chủ đề cần thảo luận và nêu các câu hỏi có liên quan đến chủ đề, thời gian
thảo luận.
- GV chia số HS của lớp thành các nhóm, chỉ định hoặc yêu cầu các nhóm bầu nhóm
trưởng, thư ký và trong nhóm thư ký ghi lại những điểm chính của cuộc thảo luận nhóm
mình để trình bày trước cả lớp. HS cần luân phiên nhau làm “nhóm trưởng” và “thư ký”,
đại diện cho nhóm trình bày kết quả thảo luận dưới nhiều hình thức: bằng lời, giấy khổ lớn,
bảng phụ, bản trong hoặc phiếu học tập.
- GV tổ chức cho các nhóm tiến hành thảo luận các nội dung đã được giao trong thời gian
quy định.
- Cử đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận trước lớp. Các nhóm khác lắng nghe, chất
vấn, trao đổi, bổ sung ý kiến.
- Trong thời gian học sinh thảo luận, GV cần đi vòng quanh các nhóm và lắng nghe ý kiến
của HS, giúp đỡ, gợi ý nếu cần thiết.
- Giáo viên tổng kết các ý kiến theo nhóm nhỏ.


15
Đây là một PPDH được đưa vào dạy học trong các trường phổ thông. Quá trình vận
dụng chiếm nhiều thời gian của tiết học. Vì vậy, đòi hỏi GV phải có kinh nghiệm trong
việc tổ chức dạy học. Khi vận dụng PPTLN cần lưu ý:
- Đưa ra câu hỏi thảo luận phải sát với nội dung bài học và phù hợp với trình độ HS, không
được thảo luận khái niệm, định nghĩa hay những nội dung đã được trả lời đầy đủ trong

16
Bốn là, PPTLN tạo cơ hội bình đẳng trong cách trình bày ý kiến, quan điểm giữa HS
với HS, giữa HS với GV một cách thân thiện, nghiêm túc cũng như nhận xét, đánh giá ý
kiến của người khác và điều chỉnh tư duy của mình. Do đó, nếu GV tổ chức tốt PPTLN sẽ
góp phần tăng sự hiểu biết, tin cậy, thân thiện, đoàn kết và trao đổi, học hỏi lẫn nhau giữa
các thành viên.
Ngoài những ưu điểm trên phương pháp thảo luận nhóm còn có những hạn chế như
sau:
Dạy học bằng PPTLN sẽ làm mất nhiều thời gian của cả người dạy và người học.
Nên đòi hỏi phải có sự đầu tư kỹ lưỡng về bài giảng, GV phải lường trước được các tình
huống có thể xảy ra.
Cần lưu ý khi thực hiện PPTLN đó là phương pháp này không thể áp dụng cho
mọi vấn đề, mọi trường hợp vì mục tiêu dạy học là một khoảng thời gian ngắn, cung
cấp cho người học một lượng thông tin lớn, có hệ thống về một chủ đề nhất định, nên
đòi hỏi GV phải nắm vững kiến thức chuyên môn, có khả năng ứng xử những ý kiến
trái ngược nhau, nhấn mạnh kiến thức trọng tâm, mở rộng các hướng nghiên cứu, làm
sáng tỏ thêm các vấn đề nảy sinh trong quá trình nghiên cứu. Đồng thời, GV phải có
kinh nghiệm trong việc đặt ra chủ đề để HS thảo luận không bị lạc đề, kinh nghiệm về
khả năng lắng nghe, kỹ năng điều khiển và kiểm soát lớp học để học sinh phát huy tính
tích cực, sáng tạo trong học tập của HS. Nếu GV không nắm vững và thiếu kinh nghiệm
trên sẽ không thực hiện được mục tiêu dạy học.
4.3.3. Phương pháp giải quyết vấn đề
PPGQVĐ là cách thức tổ chức của GV nhằm tạo ra tình huống có vấn đề và điều
khiển hoạt động của học sinh nhằm độc lập giải quyết các vấn đề học tập. Khi dạy học theo
PPGQVĐ đã kích thích HS tự khám phá tri thức, phát hiện giải quyết vấn đề một cách
khoa học, rất phù hợp với phần “Công dân với đạo đức” ở chương trình lớp 10.
Để áp dụng PPGQVĐ, GV cần tổ chức cho HS học tập theo các bước như sau:
- GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề, HS thực hiện cách giải quyết vấn đề theo
hướng dẫn của GV, GV đánh giá kết quả làm việc của HS.
- GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi

Mặt khác, khi sử dụng PPGQVĐ vào dạy học GV phải nắm vững kiến thức chuyên
môn và tạo ra tình huống có vấn đề phải vừa sức với người học, liên quan đến nội dung bài
học, nếu không người học sẽ dễ nản khi gặp tình huống khó, không nhiệt tình tham gia khi
tình huống thiếu hấp dẫn.
4.3.4. Phương pháp động não
PPĐN là một kỹ thuật dạy học giúp HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được
nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Vận dụng phương pháp này giúp cho
GV trong một thời gian ngắn sẽ “lôi ra” một danh sách các thông tin từ HS làm tiền đề cho
các nội dung cần phân tích, thảo luận.
Dạy học phương pháp động não có thể tiến hành theo các bước sau:


18
- GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề trước cả lớp hoặc cho từng nhóm nhỏ qua phiếu giao việc.
- Động viên khích lệ HS trả lời vào phiếu học tập hoặc phát biểu.
- GV hoặc lớp trưởng, thư ký lớp liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu của HS lên bảng, lên
phiếu học tập, lên bản trong để tất cả HS trong lớp theo dõi (trừ các ý kiến trùng lặp) và
phân loại các ý kiến đúng, sai.
- Tổng hợp các ý kiến của HS, cho HS được nêu những băn khoăn, thắc mắc và GV kết
luận vấn đề (nội dung cần làm rõ của bài học).
Khi vận dụng PPĐN trong dạy học môn GDCD cần đảm bảo các yêu cầu sư phạm
sau:
- Chỉ sử dụng PPĐN khi dạy học các nội dung ít nhiều đã quen thuộc với HS.
- Có thể sử dụng PPĐN khi mở đầu bài học, kết thúc bài học, tổng kết bài.
- Các ý kiến phát biểu cần ngắn gọn. Nếu trả lời vào phiếu học tập cần ngắn gọn bằng một
câu, một từ hay cụm từ.
- Tất cả ý kiến của HS đều được GV, hoan nghênh, chấp nhận, không vội vàng cười chê,
phê phán hay nhận xét đúng sai.
- Khi kết luận vấn đề, nội dung bài học GV cần động viên, khích lệ HS bằng việc nhấn
mạnh kết quả này là của tất cả mọi thành viên xây dựng nên.

- GV đưa ra một hay nhiều câu hỏi hướng dẫn liên quan đến tình huống (trong tài liệu viết
hay từ GV.
- Thảo luận tình huống thực tế.
- Thảo luận vấn đề chung hay các vấn đề được minh chứng bằng thực tế.
Khi vận dụng PPNCTHĐH trong dạy học môn GDCD cần đảm bảo các yêu cầu sư
phạm sau:
- Tình huống có thể dài hay ngắn, tùy từng nội dung vấn đề.
- Tình huống phải được kết thúc bằng một loạt các vấn đề hoặc câu hỏi như:
Bạn nghĩ điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Bạn sẽ làm gì nếu bạn là nhân vật A? Nhân vật B?
v.v… Vấn đề này có thể được ngăn chặn như thế nào? Lúc này cần phải làm gì để hạn
chế tính trầm trọng của vấn đề?
- Vấn đề trả lời các câu hỏi này phải được dùng để khái quát một tình huống rộng hơn,
khái quát hơn.
- Tình huống cần liên hệ với kinh nghiệm hiện tại cũng như tình huống rộng hơn, với nghề
nghiệp trong tương lai của người học.
- Tình huống có thể diễn giải theo cách nhìn của người học và để mở nhiều hướng giải
quyết.
- Tình huống cần chứa đựng mâu thuẫn, vấn đề có thể liên quan đến nhiều phương diện.
- Tình huống cần vừa sức với HS và có thể giải quyết trong điều kiện cụ thể.
- Tình huống cần có nhiều cách giải quyết khác nhau. Trong việc giải quyết các tình
huống thực tiễn, không phải bao giờ cũng có giải pháp duy nhất đúng.


20
- Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện trên video hay một băng cátSét mà không phải ở dạng chữ viết.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình góp phần hỗ trợ cho các PPDH
khác nên có những ưu điểm sau:
Một là, PPCNTHĐH giúp cho người học nâng cao tinh chủ động, sáng tạo, hứng thú
và cách giải quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn cuộc sống. Do đó, nếu GV tổ chức tốt
PPDH này sẽ góp phần tăng thêm sự hiểu biết, thân hiện và học hỏi lẫn nhau về kinh

dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 tại trường THPT
Nguyễn Du.
Vài nét về trường THPT Nguyễn Du
Với sự hình thành và phát triển của trường THPT Nguyễn Du đã khẳng định được vị
trí trong sự nghiệp giáo dục của tỉnh nhà. Đội ngũ CB-GV-CNV với lòng nhiệt huyết yêu
nghề, luôn có tinh thần trách nhiệm cao, không ngừng tự học tập, rèn luyện và phấn đấu
hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy và công tác. Vì vậy, hàng năm thu hút khá đông HS
khá, giỏi vào học, điểm thi tuyển đầu vào lớp 10 thường cao thứ 3 tỉnh. Phần đông HS luôn
cố gắng học tập và rèn luyện, nên tỉ lệ HS khá giỏi chiếm hơn 60%. Tỉ lệ HS đỗ tốt nghiệp
THPT luôn đạt 100%. Hàng năm trường luôn có nhiều HS đạt giải cao trong các kì thi
chọn HS giỏi cấp tỉnh. Trong quá trình giảng dạy đòi hỏi vấn đề đặt ra cho các thầy, cô là
phải luôn tìm tòi giải pháp mới, tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào
bài giảng và không ngừng nâng cao trình độ vươn lên tự khẳng định chất lượng, làm tốt
công tác giảng dạy. Để có được những thành tựu đó, thì đòi hỏi người GV, người làm công
tác quản lý phải tìm hiểu kỹ các PPDH tích cực và nắm vững được bản chất, quy trình thực
hiện của các PPDH tích cực và đã thấy được những ưu điểm và hạn chế của các PPDH này.
Đặc biệt, cần lưu ý khi vận dụng các PPDH tích cực trong tiết dạy học của từng bài cụ thể
vì không có phương pháp dạy học nào là tố ưu cho mọi trường hợp, nên việc nghiên cứu kỹ
nội dung bài giảng, đặc điểm riêng của từng môn học và đối tượng người học để có sự kết
hợp đa dạng các phương pháp dạy học khác.
Về Cấu trúc chương trình, mục tiêu, chuẩn của chương trình lớp 10
Do yêu cầu của đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, chương trình môn GDCD
lớp 10 từ năm học 2006 - 2007 được cấu trúc thành hai phần :
- Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa
học.
- Phần thứ hai: Công dân với đạo đức.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi tập trung phân tích nội dung chương
trình, giới thiệu tổng thể các bài ở phần hai “Công dân với đạo đức”.
Về vị trí: Phần thứ hai của chương trình môn GDCD lớp 10 có vai trò quan trọng
trong việc trang bị cho HS những hiểu biết về các phạm trù cơ bản của Đạo đức học và có

Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (2 tiết).
Bài 15: Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại (1 tiết).
Trong chương trình cũ toàn bộ thời lượng của lớp 10 được dành cho việc dạy Triết
học, nay chương trình mới có thêm phần đạo đức (được chuyển từ lớp 11 cũ xuống). Sở dĩ
có sự sắp xếp này vì kế hoạch dạy học THPT đã có thay đổi trước đây môn GDCD mỗi lớp
có số tiết là 1,5 tiết/ tuần, nay là 1 tiết/ tuần. Do sự thay đổi này, phần Triết học và phần


23
Đạo đức đều được tinh giảm, rút ngắn, bám sát hơn mục tiêu của chương trình mới. Tuy
nhiên, phần thứ 2 của chương trình lớp 10 “Công dân với đạo đức” đều được cấu trúc với 2
mạch nội dung:
Một là: Quan niệm về đạo đức, một số phạm trù cơ bản của Đạo đức học: nghĩa vụ,
lương tâm, nhân phẩm và danh dự, hạnh phúc.
Hai là: Các giá trị đạo đức, thể hiện trong 3 mối quan hệ cơ bản của con người, đó
là:
+ Quan hệ với bản thân: Bài Tự hoàn thiện bản thân.
+ Quan hệ với người khác: Bài Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình.
+ Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại gồm các bài: Công dân với cộng đồng;
Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Công dân với một số vấn đề cấp
thiết của nhân loại.
Từ nội dung chương trình, các bài cụ thể trong SGK được cấu trúc rất mới so với tài
liệu GDCD cũ theo trình tự sau:
- Phần mở đầu bài học: Trình bày một cách ngắn gọn, định hướng chú ý của HS về những
yêu cầu của bài học, bao gồm yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ.
- Phần nội dung bài học: Trình bày các đơn vị kiến thức của bài dưới dạng các mục lớn,
nhỏ để HS theo dõi. Điều rất mới của SGK hiện nay là trong các phần bài học có những
phần in nghiêng, chữ nhỏ, chữ in đậm, có các tranh ảnh, để gợi ý phương pháp học tập của
HS và PPDH của GV. Những dòng chữ in nghiêng, in nhỏ thường được dùng để nhấn
mạnh kiến thức cần nhớ, các câu hỏi để dẫn dắt, cung cấp các thông tin, thuật ngữ, nhân

hóa trong Luật Giáo dục, Chỉ thị về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Nhưng
nhìn chung GV chưa nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo
định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học. Vì phần nhiều tiết dạy học GV
vẫn sử dụng PPDH thuyết trình, giảng giải là chủ yếu, thầy giảng – trò nghe và ghi chép,
chưa khai thác hết được tài liệu dạy học, chưa tạo điều kiện cho HS làm việc cá nhân, làm
việc nhóm nên chưa phát huy hết năng lực, sự sáng tạo của HS trong các hoạt động học
tập, dẫn đến việc học sinh ít có hứng thú trong học tập làm ảnh hưởng chất lượng dạy –
học. Mặt khác, khi vận dụng PPDH tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”,
nhiều GV trẻ khi lựa chọn PPDH, chưa có kinh nghiệm trong việc tìm hiểu kĩ nội dung bài


25
học để lựa chọn phương pháp phù hợp, còn một số GV có thâm niên công tác có trình độ
và kiến thức vững chắc nhưng hạn chế về sử dụng công nghệ thông tin nên bảo thủ, thành
kiến trong việc vận dụng PPDH tích cực với quan niệm không nhất thiết phải sử dụng
PPDH tích cực, dù dạy PPDH nào đi chăng nữa mục tiêu là HS nắm được nội dung bài
học. Nên dẫn đến HS không có thói quen tự học, tự nghiên cứu tài liệu trước khi lên lớp,
sức ỳ và sự thụ động của HS quá lớn tron việc phát triển năng lực và phẩm chất thích ứng
với các PPDH phát huy tính tích cực học tập. Mặc dù nhà trường luôn cố gắng đề ra những
giải pháp trong việc chỉ đạo, triển khai các Tổ vận dụng PPDH tích cực trong các tiết dạy
học. Đặc biệt là thảo giảng cấp tổ, cấp trường, cấp tỉnh.
nhưng chưa đạt được hiệu quả so với mục tiêu giáo dục mà nhà trường đề ra. Từ đó, tôi đã
nhận thức được rằng, một trong những hạn chế của giải pháp nhà trường đề ra là chưa phù
hợp với mục tiêu giáo dục của nhà trường trong thực tiễn. Nên tôi đã có ý tưởng đưa ra giải
pháp Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo
đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 trường THPT Nguyễn Du được hình
thành từ năm học 2013- 2014, góp phần Góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận
và thực tiễn của việc vận dụng PPDH tích cực trong phần “Công dân với đạo đức”, chương
trình môn Giáo dục công dân lớp 10 ở các trường THPT. Trong quá trình giảng dạy
phần“Công dân với đạo đức” chương trình giáo dục công dân lớp 10” và đã áp dụng trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status