Diện và hàng thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam - Pdf 40

Đại học quốc gia hà nội
Khoa Luật

Đỗ Quảng Oai

Diện và hàng thừa kế
theo pháp luật dân sự Việt Nam

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2006


Đại học quốc gia hà nội
Khoa Luật

Đỗ Quảng Oai

Diện và hàng thừa kế
theo pháp luật dân sự Việt Nam
Chuyên ngành

: Luật dân sự

Mã số

: 60 38 30

Luận văn thạc sĩ luật học

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Công Lạc

trong BLDS đã kết tinh những thành tựu của khoa học pháp lý nhân loại góp phần giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy những phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp đã ăn sâu vào
tiềm thức và lưu truyền qua bao đời của dân tộc Việt Nam.


Hiện nay các tranh chấp về thừa kế có xu hướng ngày càng gia tăng và trở nên phức tạp
hơn. Sự nhận thức không đầy đủ về pháp luật của cá nhân, sự áp dụng pháp luật không thống nhất
giữa các cấp Tòa án là những yếu tố làm cho các vụ kiện gặp nhiều khó khăn, thời gian giải quyết
kéo dài, ảnh hưởng không tốt đến truyền thống đạo đức tốt đẹp vốn có từ lâu đời của dân tộc Việt
Nam. Đặc biệt, một trong những khó khăn vướng mắc lớn khi áp dụng các quy định của pháp luật
để giải quyết tranh chấp thừa kế chính là vấn đề xác định sao cho đúng về diện và hàng thừa kế.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, phân tích, kiến nghị để làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận về diện và hàng thừa kế trong chế định thừa kế theo pháp luật là một đòi hỏi tất yếu, khách
quan cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn giải quyết các tranh chấp thừa kế.
2. Tình hình nghiên cứu
Do tầm quan trọng của vấn đề thừa kế nên nội dung này đã được rất nhiều nhà khoa học
pháp lý quan tâm, nghiên cứu. Tiến sĩ Phùng Trung Tập đã giới thiệu với bạn đọc tác phẩm "Thừa
kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 từ trước đến nay"; Tiến sĩ Nguyễn Ngọc
Điện là tác giả của cuốn "Bình luận khoa học về thừa kế trong Bộ luật dân sự Việt Nam"; Phó giáo
sư, Tiến sĩ Đinh Văn Thanh - Trần Hữu Biền có tác phẩm "Hỏi đáp về pháp luật thừa kế". Ngoài
ra, còn có nhiều bài viết về đề tài này được đăng tải trên các sách báo, tạp chí. Đặc biệt hơn, còn
có rất nhiều các cử nhân, học viên chọn nội dung này làm đề tài cho các luận văn tốt nghiệp của
mình.
Tất cả các công trình nghiên cứu trên có phạm vi rộng, mang tính toàn diện, bao quát cả
chế định pháp luật về thừa kế, và đưa ra những kiến nghị để ngày càng hoàn thiện hơn hệ thống
pháp luật về thừa kế. Riêng với đề tài "Diện và hàng thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam",
tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung, bản chất của diện và hàng thừa kế được
quy định trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị mang tính
giải pháp để ngày càng hoàn thiện hơn những quy định về nội dung này trong luật.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

7. Kết cấu của luận văn


Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về thừa kế.
Chương 2: Diện và hàng thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và phương hướng hoàn thiện những quy định của
pháp luật Việt Nam về diện và hàng thừa kế.

Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ

1.1. KHÁI NIỆM CHUNG
1.1.1. Thừa kế và quyền thừa kế
Một trong những yếu tố để đánh giá sự vững mạnh của một quốc gia đó chính là sự bảo
hộ của Nhà nước về các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như việc kết hợp hài hòa
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. Trên tinh thần đó, quyền thừa kế là một trong những
quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ. Điều 58 Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam quy
định "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân".
Để hiểu và nhận thức sâu sắc về khái niệm quyền thừa kế trước hết phải làm sáng tỏ nội
dung khái niệm thừa kế. Theo Từ điển tiếng Việt: "Thừa kế là hưởng của người khác để lại cho".
Theo các tác giả của Giáo trình Luật dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội, thừa kế được hiểu là:
"Việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống". Khái niệm này đã phản
ánh chính xác bản chất cũng như nội dung thừa kế.
Thừa kế luôn gắn với quan hệ sở hữu xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và sự phát
triển của xã hội loài người. Khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ sở hữu và quan hệ
thừa kế đã tồn tại như một tất yếu khách quan. Thừa kế xuất hiện phụ thuộc vào quan hệ sở hữu.
Nếu sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế, thì thừa kế là phương tiện duy trì và củng cố quan hệ sở hữu.




chúc phải tuân thủ những yêu cầu gì, ai là người được nhận di sản thừa kế, khi nào thì bị tước
quyền hưởng di sản thừa kế... Trong các quan hệ về thừa kế, các chủ thể chủ động hiện thực hóa
những quyền năng đó để biến nó thành những quyền dân sự cụ thể qua đó đáp ứng được nhu cầu
và thực hiện được lợi ích cho bản thân mình.
Nói tóm lại, quyền thừa kế là một chế định của Luật dân sự, bao gồm tổng hợp các quy
phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho người khác còn sống dựa trên cơ sở ý chí của
người để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật.
Ở mỗi một chế độ khác nhau, tùy thuộc vào tính chất của chế độ sở hữu, thông qua pháp
luật, nhà nước quy định một chế định thừa kế và coi đó là một phương tiện để bảo vệ quyền lợi
cho các cá nhân cũng như quyền lợi của giai cấp lãnh đạo xã hội.
Trong nhà nước chủ nô, quyền để lại thừa kế về nô lệ của giai cấp chủ nô là sự chuyển lại
quyền sở hữu đối với những "công cụ biết nói" và cũng chính là sự truyền lại quyền lực chính trị
để duy trì sự áp bức bóc lột của giai cấp chủ nô đối với nô lệ.
Trong nhà nước phong kiến và nhà nước tư sản, giai cấp bóc lột luôn sở hữu những tư
liệu sản xuất chủ yếu của xã hội và di sản mà họ để lại cho con cháu cũng chính là những di sản
ấy, việc thừa kế chỉ là sự thay thế kẻ thống trị này bằng kẻ thống trị khác trong cùng một giai cấp
mà thôi.
Pháp luật thừa kế ở nước ta trước hết nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động, tôn
trọng thành quả lao động do họ làm ra cũng như chuyển thành kết quả đó cho những người thừa
kế sau khi họ chết. Mặt khác, quyền thừa kế ở nước ta là một trong những phương tiện để củng cố
và phát triển các quan hệ hôn nhân gia đình, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong
quan hệ thừa kế, đặc biệt bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng
không có khả năng lao động. Qua đó góp phần bảo đảm quyền sở hữu cho mọi cá nhân trong xã
hội.
Tóm lại, thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của một người đã chết sang cho người còn
sống theo những trình tự luật định. Quyền thừa kế của một cá nhân gắn bó chặt chẽ với quyền sở
hữu của cá nhân đó. Quyền sở hữu là tiền đề, là cơ sở của quyền thừa kế và ngược lại, quyền thừa

- Các quyền về tài sản đó là quyền đòi nợ đồ vật đã cho mượn, cho thuê, chuộc lại tài sản
đã cầm cố, quyền đối với tài sản đã thế chấp, đã bồi thường thiệt hại về tài sản, hưởng những
quyền lợi của tác giả hoặc chủ sở hữu văn bằng, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả
đối với tác phẩm. Tuy nhiên, quyền tài sản gắn với nhân thân của người chết như tiền cấp dưỡng,
tiền lương hưu không được coi là di sản thừa kế.
- Theo quy định của pháp luật, để khắc phục những rủi ro xảy ra cá nhân có thể mua bảo
hiểm cho bản thân mình. Trên cơ sở đóng phí bảo hiểm và khi có sự kiện bảo hiểm thì cơ quan
bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm dựa trên mức đóng phí bảo hiểm. Ở loại hình bảo hiểm nhân
thọ là loại hình bảo hiểm tuổi thọ của con người và khi người đó chết sẽ được hưởng số tiền bảo
hiểm đó. Và lúc này số tiền bảo hiểm trở thành một phần trong tổng tài sản của người chết để lại
cũng là di sản thừa kế.
- Phần tài sản của người chết trong khối tài sản với người khác. Sự phát triển của đời
sống xã hội khiến cho tài sản của mỗi người càng trở nên phong phú và đa dạng hơn. Ngoài tài sản
riêng có được do thu nhập hợp pháp, của để dành hoặc do được thừa kế thì một loại tài sản nữa
của người chết là một phần tài sản của người này trong khối tài sản chung với người khác, có thể
do vợ chồng cùng tạo lập hoặc nhiều người cùng góp vốn để sản xuất kinh doanh.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ph. Ăngghen (1972), Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của Nhà nước, Nxb Sự
thật, Hà Nội.
2. Nguyễn Mạnh Bách (1993), Chế độ hôn sản và thừa kế trong luật Việt Nam, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh.
3. Trần Hữu Biền và Đinh Văn Thanh (1995), Hỏi đáp về pháp luật thừa kế, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội.
4. Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931.
5. Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936.


6. Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp năm 1998.

23. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
24. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946.
25. Hoàng Việt luật lệ năm 1812.
26. Lê Hương Lan (1996), "Tìm hiểu các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt
Nam trong thời kỳ phong kiến", Tòa án nhân dân, (6).
27. Luật đất đai năm 2003.
28. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959.
29. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986.
30. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
31. Luật Hồng Đức.
32. Phan Trung Lý (2000), "Vấn đề tài sản giữa vợ và chồng trong Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia
đình sửa đổi", Nhà nước và pháp luật, (3).
33. Nhà pháp luật Việt - Pháp (1998), Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
34. Lê Kim Quế (2001), 110 câu hỏi về thừa kế trong Bộ luật Dân sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
35. Quốc hội (2000), Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6 về việc thi hành Luật Hôn nhân
và Gia đình năm 2000, Hà Nội.
36. Tạp chí Dân chủ và pháp luật (2001), Số chuyên đề về Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
37. Phùng Trung Tập (2004), Thừa kế theo pháp luật của công dân từ năm 1945 đến nay, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội.
38. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2001), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội năm 2000, Hà Nội
39. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2002), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội năm 2001.


40. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2003), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội năm 2002.
41. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2004), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội năm 2003.

56. Đinh Trung Tụng (2001), "Khái quát một số điểm mới của Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000", Dân chủ và pháp luật, Số chuyên đề về Luật Hôn nhân và Gia đình.
57. Đinh Trung Tụng (2001), "Những quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 2000", Dân chủ và pháp luật, Số chuyên đề về Luật Hôn nhân và Gia đình.
58. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1990), Pháp lệnh thừa kế, Hà Nội.
59. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2006), Nghị quyết số 1037/2006/NQ- UBTVQH11 ngày 27/7 về giao
dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người Việt Nam định cư ở
nước ngoài tham gia, Hà Nội.
60. Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (1996), Thông tin chuyên đề về Luật Hôn
nhân và gia đình, Hà Nội.
61. Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (1996), Một số vấn đề về pháp luật dân sự
Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status