Phần mở đầu
I. Bối cảnh của đề tài
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, cuộc cách mạng khoa học công nghệ
như một luồng gió mới thổi vào và làm lay động nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Hơn bao giờ
hết con người đang đứng trước những diễn biến to lớn, phức tạp về lịch sử xã hội và khoa
học kỹ thuật. Nhiều mối quan hệ mâu thuẫn của thời đại cần được giải quyết trong đó có
mâu thuẫn yêu cầu ngành giáo dục đào tạo nói chung và người thầy giáo chúng ta nói riêng
phải giải quyết ngay, đó là mâu thuẫn giữa quan hệ sức ép của khối lượng tri thức ngày càng
tăng và sự tiếp nhận của con người có giới hạn
Nhiệm vụ trên đây đã đặt ra cho người giáo viên bên cạnh bồi dưỡng kiến thức
chuyên môn thì phải cải tiến phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục để đáp
ứng yêu cầu của tình hình mới.
Như chúng ta đã biết, môn lịch sử có vị trí và ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo
dục thế hệ trẻ. Từ những hiểu biết về quá khứ, học sinh hiểu rõ về truyền thống dân tộc, tự
hào với thành tựu dựng nước và giữ nứoc của tổ tiên, xác định nhiệm vụ trong hiện tại, có
thái độ đúng đối với sự phát triển hợp quy luật của tương lai.
Nhưng những nhận thức, quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của khoa học lịch sử
và môn lịch sử trong đời sống xã hội, trong giáo dục đã dẫn tới phương pháp nghiên cứu,
học tập không đúng làm giảm sút chất lượng của bộ môn trên nhiều mặt. Tình trạng học sinh
không biết những sự kiện lịch sử cơ bản, phổ thông, nhớ sai hoặc nhằm lẫn kiến thức là hiện
tượng khá phổ biến ở nhiều trường học nói chung và trường trung học cơ sở nói riêng. Vì
vậy, hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 2 khoá 8 đã nhấn mạnh: “Đổi mới
mạnh mẽ phương pháp Giáo dục-Đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện
thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương pháp hiện đại vào quá trình dạy-học đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự
nghiên cứu cho học sinh”.
Trong việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học, việc phát huy tính tích cực của
học sinh có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi vì xét cho cùng việc giáo dục phải được tiến hành
trên cơ sở tự nhận thức, tự hành động. Giáo dục phải được thực hiện thông qua hành động
và hành động của bản thân (tư duy và thực tiễn). Vì vậy, việc khơi dậy, phát triển ý thức, ý
1
giải và học sinh thụ động tiếp nhận những điều đã nghe, đã đọc. Có nhà giáo dục gọi đó là
cách “Nhai kiến thức rồi mớm cho học sinh”.
2
Chúng ta điều biết rằng việc dạy học được tiến hành trong một quá trình thống nhất
gồm hai khâu có tác dụng tương hổ nhau: Giảng dạy và học tập. Cả việc giảng dạy và học
tập đều là một quá trình nhận thức, tuân theo những quy luật nhận thức.
Nhận thức trong dạy học được thể hiện trong hoạt động của giáo viên và học sinh đối
với việc truyền thụ một nội dung khoa học được quy định trong chương trình với những
phương pháp dạy học thích hợp, những phương tiện hình thứccần thiết để đạt được kết quả
nhất định đã đề ra.
V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc phát
huy tính tích cực cuả học sinh trong học tập. Nhà giáo dục người Đức là Disterverg đã
khẳng định đúng đắn rằng: “ Người giáo viên tồi truyền đạt chân lý, người giáo viên giỏi
dạy cách tìm ra chân lý”.
Điều này có nghĩa rằng người giáo viên không chỉ giới hạn công việc của mình ở
việc đọc cho học sinh ghi chép những kiến thức có sẵn, bắt các em thuộc lòng rồi kiểm tra
điều ghi nhớ của các em thu nhận được ở bài giảng của giáo viên hay trong sách giáo khoa.
Điều quan trọng là giáo viên cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản (bao gồm kiến
thức khoa học, sự hiểu biết về các quy luật, nguyên lý và các phương pháp nhận thức) làm
cơ sở định hướng cho việc khám phá các kiến thức mới, vận dụng vào học tập và cuộc sống.
Vì vậy việc khơi dậy, phát triển tri thức, ý chí, năng lực bồi dưỡng, rèn luyện về học tập là
con đường phát triển tối ưu của giáo dục. Đó chính là con đường lấy học sinh làm trung tâm,
làm chủ thể của việc nhận thức với sự hướng dẫn, giáo dục tích cực có hiệu quả của giáo
viên, điều này được thực hiện trên cơ sở hoạt động tích cực, tự giác của học sinh được gọi là
phương pháp dạy học mới để phân biệt với phương pháp dạy học cũ còn gọi là kiểu dạy học
truyền thống.
giảng học sinh chỉ chăm chú nghe và ghi lại kiến thức khác: Vốn kiến thức đã học,
kiến thức của bạn bè, trong sách giáo
lời giáo viên.
khoa, tài liệu tham khảo, đồ dùng trực
quan, thực tế cuộc sống.
- Việc ghi chép được đơn giản hoá, làm sao - Các vấn đề thu nhận ngoài ghi chép còn
được thể hiện ở các bảng biểu, mô hình,
cho dễ nhớ.
các phương tiện trực quan, giúp học sinh
dễ nhớ, hiểu sâu, nắm chắc các vấn đề
- Việc học lý thuyết không gắn với thực hành, - Việc dạy lý thuyết để nâng cao trình độ
nhận thức của học sinh, làm cơ sở để vận
nhất là các môn xã hội
dụng những kiến thức đã học vào thực
hành, vào cuộc sống, qua đó làm phong
phú kiến thức đã học.
4
- Nguồn kiến thức thu nhận của học sinh rất - Nguồn kiến thức của học sinh rất phong
hạn hẹp, thường giới hạn ở bài giảng của giáo phú, đa dạng: Lời nói, tài liệu viết, đồ
viên, sách giáo khoa, phòng thí nghiệm, tài dùng trực quan, thực tế cuộc sống. Các
liệu tham khảo.
5
a. Sử dụng sách giáo khoa để trình bày bài giảng
Sau khi soạn giáo án xong, cần nghiên cứu nội dung toàn bài trong sách giáo khoa ,
xác định kiến thức cơ bản của bài, hiểu rõ nội dung tinh thần mà tác giả mong muốn ở học
sinh về từng mặt giáo dục, giáo dưỡng và sau đó đi sâu vào từng mục, tìm ra kiến thức cơ
bản của mục đó, sự liên quan kiến thức đó với kiến thức cơ bản của toàn bài. Mỗi bài có từ 2
đến 3 mục nhưng không nên dàn đều về mặt thời gian cũng như khối lượng kiến thức của
từng phần mà phải xác định phần nào lướt qua, phần nào là trọng tâm thì dành thời gian
nhiều hơn.
Ví dụ: Khi dạy bài “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết
thúc (1953-1954)” bài gồm có 4 mục thì mục II là quan trọng nhất, do đó phải đầu tư thời
gian nhiều nhất.
Trong bài dạy thường có các tranh ảnh, bản đồ, nếu không có bản đồ in sẵn thì ta
phải phóng to bản đồ trong sách giáo khoa để phục vụ bài dạy.
Như vậy, sách giáo khoa là điểm tựa để giáo viên xác định kiến thức cơ bản, xác
định các khái niệm cần hình thành cho học sinh, là sự gợi ý để lựa chọn phương pháp dạy
học phù hợp với đối tượng, vừa phát huy tính tích cực hoạt động độc lập của học sinh.
b. Sử dụng sách giáo khoa trong quá trình dạy học trên lớp:
Trong giờ học học sinh thường theo dõi bài giảng của giáo viên rồi đối chiếu, so sánh
với sách giáo khoa, thậm chí có những em không thích ghi theo bài giảng của giáo viên mà
lại chép trong sách giáo khoa. Vì vậy bài giảng của giáo viên không nên lặp lại ngôn ngữ
trong sách giáo khoa mà nên diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình.
Ví dụ: Khi dạy bài: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân
Pháp (1946-1954) Khi dạy phần IV chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947 giáo viên vừa chỉ
bản đồ vừa phân tích:
- Sáng 7-10-1947 thực dân Pháp cho một cánh quân nhảy dù xuống Bắc Cạn, Chợ
Mới, Chợ Đồn.
- Một cánh quân từ Lạng Sơn lên Cao Bằng rồi từ Cao Bằng đánh xuiống Bắc cạn tạo
động
2. Sử dụng hệ thống các câu hỏi trong dạy học lịch sử lớp 9 để phát triển tư duy cho
học sinh.
Để sử dụng tốt các câu hỏi trong quá trình dạy học chúng ta cần lưu ý mấy điểm sau:
- Câu hỏi phải vừa sức, đúng đối tượng, không quá khó hoặc quá dễ.
- Mỗi giờ học chỉ nên sử dụng từ 5 đến 7câu hỏi. Sau mỗi chương có câu hỏi bài tập.
- Triệt để khai thác các câu hỏi trong sách giáo khoa kết hợp với câu hỏi sáng tạo.
a. Nêu câu hỏi đầu giờ học:
Đầu giờ học giáo viên có thể kiểm tra hay không kiểm tra kiến thức bài cũ. Nhưng
trước khi cung cấp kiến thức của bài học cho học sinh, giáo viên cần nêu câu hỏi định
hướng cho học sinh. Đây là câu hỏi có tính chất bài tập, muốn trả lời phải huy động kiến
thức của từng bài. Tuy nhiên khi nêu câu hỏi không cần học sinh trả lời ngay mà chỉ sau khi
giáo viên cung cấp cho các em đầy đủ sự kiện thì các em mới trả lời được.
Ví dụ: Khi dạy bài: “Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực
dân Pháp xâm lược” thì đầu giờ học giáo viên đặt câu hỏi cho cả lớp suy nghĩ: Tại sao lại
khẳng định từ chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947 đến chiến thắng Biên giới thu đông 1950
là một bước phát triển của cuộc kháng chiến? các em chú ý theo dõi bài giảng và sách giáo
khoa để trả lời.
7
b. Xác định mối liên hệ giữa câu hỏi với các sự kiện, hiện tượng lịch sử trong bài
học.
Ví dụ: Trong bài “Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945” giáo viên đặt câu hỏi về điều
kiện khách quan và chủ quan (thời cơ) của cách mạng tháng Tám để làm nổi bật nguyên
nhân thắng lợi.
Những kiến thức này được sắp xếp viết vào giấy trong cho vào máy chiếu để học
sinh quan sát tìm ra mối quan hệ giữa chúng.
1- Pháp thua ở chính quốc rồi bị Nhật hất cẳng ở Đông Dương.
học sinh so sánh ba tổ chức cách mạng về tổ chức, hoạt động.
Một điều cần lưu ý là phải động viên, khuyến khích học sinh tham gia trả lời câu hỏi
dưới nhiều hình thức như khen ngợi, đánh giá, cho điểm.
3. Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử lớp 9.
Đồ dùng trực quan được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác
quan, sẽ kết hợp chặt chẽ cho được hai hệ thống tín hiệu với nhau: Tai nghe, mắt thấy tạo
điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, phát triển năng lực chú ý quan sát, hứng thú của học
sinh. Tuy nhiên nếu không sử dụng tốt, đúng mức và bị lạm dụng thì dễ làm học sinh phân
tán sự chú ý, không tập trung vào các dấu hiệu cơ bản chủ yếu.
a. Phương pháp sử dụng hình vẽ, tranh ảnh trong sách giáo khoa.
Hình vẽ tranh ảnh trong sách giáo khoa là một phần đồ dùng trực quan trong quá
trình dạy học. Từ việc quan sát, học sinh sẽ đi tới công việc của tư duy trừu tượng. Thông
qua quan sát miêu tả , tranh ảnh học sinh được rèn luyện kĩ năng diễn đạt, lựa chọn ngôn
ngữ. Từ việc quan sát thường xuyên các tranh ảnh lịch sử, giáo viên luyện cho các em thói
quan sát và khả năng quan sát vật thể một cách khoa học, có xem xét, phân tích, giải thích
để đi đến các nét khái quát rút ra những kết luận lịch sử.
Ví dụ: Khi dạy bài “Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài (1919-1925)” giáo
viên cho học sinh quan sát bức ảnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang phát biểu ý kiến tại đại
hội Tua (12-1920). Sau khi tường thuật giáo viên cho học sinh cảm nhận được việc Nguyễn
Ái Quốc bắt đầu tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lê Nin để truyền bá vào Việt Nam.
Như vậy việc sử dụng tranh ảnh vừa khai thác được nội dung lịch sử thể hiện trong
tranh ảnh bổ sung cho bài giảng, vừa phát huy được năng lực tư duy cho học sinh, kích thích
trí tưởng tượng phong phú, tạo hứng thú học tập cho các em.
b. Sử dụng chân dung các nhân vật lịch sử trong sách giáo khoa.
Học sinh lớp 9 bậc trung học cơ sở cũng như các lớp khác rất thích xem tranh ảnh,
chân dung các nhà cách mạng, các anh hùng dân tộc, các vị lãnh tụ, các nhà phát minh khoa
9
10
Sử dụng máy chiếu là một phương pháp mới trong dạy học lịch sử. Một số tranh ảnh,
phần bài học quan trọng giáo viên có thể phô tô hoặc viết vào giấy trong sau đó đưa lên máy
chiếu học sinh sẽ thấy thích thú hơn, nhớ lâu hơn khi được học trên máy chiếu.
Ví dụ: Khi dạy bài Nhật Bản ta phô tô màu một số hình ảnh trong bài như: Tàu chạy
trên điện từ, trồng trọt theo phương pháp mới, và khi dạy đến phần khoa học kĩ thuật minh
hoạ bằng những hình ảnh trên máy chiếu, học sinh sẽ rất thích thú, phấn khởi, ngạc nhiên.
e. Sử dụng bài giảng điện tử.
Đây là phương pháp dạy học hiện đại nhất hiện nay, học sinh hứng thú học tập , dẫn
dắt các em đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, hiệu quả thu được rất cao. Song để
dạy một giờ như vậy phải có sự chuẩn bị rất công phu, phải biết sử dụng phương tiện hiện
đại.
V. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Qua nhiều năm vận dụng và phổ biến trong quá trình giảng dạy đã mang lại những kết
quả như sau:
Về phía học sinh , các em cảm thấy ham thích học tập bộ môn , vào lớp hoạt động
tích cực, thảo luận nhóm sôi nổi, làm bài đạt kết quả cao . Chất lượng học tập của học sinh
trong những năm gần đây có thay đổi, tỉ lệ học sinh yếu giảm dần , ngày càng có nhiều học
sinh giỏi vòng huyện, tỉnh .
Đối với giáo viên bộ môn, đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào giảng dạy, đảm bảo
chuẩn kiến thức, kĩ năng, mối tương tác trong hoạt động dạy-học linh hoạt hơn ,Thầy –Trò
ngày càng thân thiện , kết quả giảng dạy ngày càng cao .
Kết quả cụ thể như sau :( xem phần phụ lục )
Phần kết luận
I. Những bài học kinh nghiệm
1. Đối với giáo viên bộ môn:
Việc phát huy tính tích cực của học sinh lớp 9 trong dạy học lịch sử ở trường trung
học cơ sở là một việc làm rất quan trọng và có ý nghĩa lớn cần được giáo viên quán triệt một
dụng công nghệ thông tin vào dạy học hiện nay.
Giúp cho học sinh có phương pháp học tập phù hợp nhằm phát triển tư duy sáng tạo,
nắm vững những kiến thức trọng tâm ham thích học tập bộ môn .
III. Khả năng ứng dụng và triển khai
Đề tài ứng dụng cho môn lịch sử lớp 9 ở trường trung học cơ sở
Có khả năng nhân rộng cho môn lịch sử các lớp 6,7,8
12
Các môn giáo dục công dân, địa lý làm tư liệu tham khảo.
V. Những kiến nghị - đề xuất.
Nhà trường cung cấp đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học.
Cần có sự phối hợp tốt ba môi trường giáo dục : Gia đình, nhà trường và xã hội
Phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học tập của con em mình , theo dõi , động
viên , nhắc nhỡ việc học tập của các em .
Châu Hưng, ngày 10 tháng 01 năm 2011
Người viết
Nguyễn Thị Ngại
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Sách giáo viên Lịch sử 9
-Sách giáo khoa Lịch sử 9 .
- Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Lịch sử Trung học cơ sở.
Của Bộ giáo dục và đào tạo – Phan Ngọc Liên và Nguyễn Xuân Trường ( đồng chủ biên)
-Giáo trình Trung cấp lí luận chính trị Tư tưởng Hồ Chí Minh - Nhà xuất bản lí luận
Giỏi
Khá
T.Bình
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
151
79
52,3
31
20,5
42
31,8
30
27,2
2
- Học sinh giỏi vòng Huyện, Tỉnh qua các năm .
Năm 2005-2006 học sinh giỏi vòng huyện 01, vòng tình 01.
Năm 2006-2007 học sinh giỏi vòng huyện 03, vòng tỉnh 01.
Năm 2007-2008 học sinh giỏi vòng huyện 03.
Năm 2008-2009 học sinh giỏi vòng huyện 02, vòng tỉnh 01
Năm 2009-2010 học sinh giỏi vòng huyện 04, vòng tỉnh 02.
15
SL
Trên TB
%
SL
%
151
IV.Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm …………………………………………..11
Phần kết luận
I. Những bài học kinh nghiệm……………………………………………………...11
II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm …………………………………………….12
III.Khả năng ứng dụng triển khai ………………………………………………….12
IV. Những kiến nghị đề xuất ………………………………………………………13
-Tài liệu tham khảo ………………………………………………………………14
- Phụ lục…………………………………………………………………………...15
- Mục lục…………………………………………………………………………..16
16