Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
PHẦN MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT THỰC HIỆN DỰ ÁN
Cùng với nhịp độ phát triển của Đất Nước, Cà Mau cũng ngày càng phát triển kéo
theo đó là sự gia tăng nhịp độ về công nghiệp hoá, đô thị hoá, nông nghiệp cũng gia tăng về
mùa vụ và sản lượng nhờ các biện pháp bảo vệ cây trồng tiên tiến, thuỷ sản cũng được nuôi
chuyên nghiệp hơn bằng hình thức nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh. Bên cạnh những
tác động tích cực của sự phát triển kinh tế thì những tác động tiêu cực gây ảnh hưởng xấu
đến môi trường cũng rất đáng kể, thể hiện rõ nhất là ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt và
công nghiệp trên đoạn sông Gành Hào thuộc thành phố Cà Mau làm cho nước trên sông có
mùi hôi khó chịu. Ô nhiễm nước mặt sẽ làm thay đổi tính chất vật lý và hoá học của nước,
gây ảnh hưởng đến chất lượng đời sống thuỷ sinh, giảm năng suất nuôi trồng thuỷ sản và có
thể gây chết thuỷ sản hàng loạt nếu ở mức ô nhiễm nặng. Ảnh hưởng của nước mặt đến đời
sống thuỷ sinh và đặc biệt là nghề nuôi trồng thuỷ sản nước mặn và nước lợ cũng đã được
minh chứng qua các khảo sát ở các dòng sông lớn trong nước như sông Thị Vải thuộc tỉnh
Đồng Nai. Đây cũng là hậu quả của việc thải các chất ô nhiễm vượt khả năng tự làm sạch
của sông.
Môi trường có 3 thành phần chính: môi trường đất, môi trường nước và môi trường
không khí. Môi trường để phát tán các chất ô nhiễm nhanh nhất là môi trường nước và môi
trường không khí, nhưng một khi môi trường đất bị ô nhiễm sẽ phải tốn nhiều thời gian hơn
để cải tạo và có khi không trở lại trạng thái ban đầu được. Tuy vậy, ô nhiễm môi trường đất
ít phát tán và dễ kiểm soát hơn môi trường nước, mặt khác nước còn có vai trò rất quan
trọng trong sinh hoạt và sản xuất của con người, đặc biệt là môi trường nước sông, biển và
đây cũng là nơi hứng chịu cuối cùng nhiều nhất của các chất ô nhiễm. Tuy nhiên cũng có
một số ao hồ là nguồn thải cuối cùng khi nó không được khơi thông dòng chảy, nhưng đây
chỉ là ô nhiễm cục bộ không đáng kể.
Cà Mau với hệ thống sông ngòi khá chằng chịt (mật độ 1,15km/km 2), bao gồm
khoảng 1.800 con sông, kênh, rạch với tổng chiều dài hơn 6.000km. Tận dụng nguồn tài
nguyên do thiên nhiên ban tặng làm thế mạnh phát triển kinh tế, nên hơn 70% dân số sống
bằng nghề nuôi trồng thuỷ sản và chủ yếu là nuôi tôm sú. Nhìn thấy được vai trò quan trọng
– Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ về
Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2010;
– Nghị định số 162/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc
ban hành Quy chế thu thập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước;
– Nghị định 49/2004NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về
việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước;
– Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT ngày 19 tháng 3 năm 2009 quy định đánh giá
khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước;
– Quyết định số 163/2008/QĐ-TTg, ngày 11 tháng 12 năm 2008 về việc phê duyệt
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020;
– Báo cáo số 132/BC-UBND ngày 24/7/2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Cà Mau về
việc đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường năm 2007 và năm 2008, nội
dung kế hoạch bảo vệ môi trường năm 2009;
– Công văn số 550/UBND-MT ngày 26/02/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Cà Mau về
việc thực hiện một số dự án bảo vệ môi trường năm 2009;
– Căn cứ công văn số 260/CV- STNMT ngày 18/3/2009 của Sở Tài nguyên và Môi
trường về việc giao cho Trung tâm Phát triển Quỹ đất thực hiện “Dự án điều tra, thống kê các
nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường”.
III. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN DỰ ÁN
– Phương pháp kế thừa những nghiên cứu về nguồn thải trong sinh hoạt và chăn nuôi
của WHO, ..., kế thừa các kết quả thực hiện các dự án về hiện trạng môi trường trong các
huyện, thành phố; Kết quả điều tra các cơ sở gây ô nhiễm môi trường; Kết quả quan trắc
chất lượng môi trường nước mặt trong tỉnh; Kết quả điều tra về lưu lượng xả thải của các
nhà máy dựa trên các báo cáo xả thải; Các báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án;
Các kết quả thanh tra kiểm tra của Sở Tài Nguyên Môi Trường…;
– Phương pháp thu thập tài liệu về hiện trạng các nguồn thải điều tra và các tài liệu
liên quan từ các sở ban ngành, phòng ban trong huyện, tỉnh, xã, phường, thị trấn. Điều tra,
khảo sát chi tiết và thu thập tài liệu về hiện trạng xả thải, đặc điểm xả thải ở từng nguồn thải
cụ thể;
– Phương pháp chuyên gia phân tích và thảo luận;
– Phương pháp lập bản đồ;
– Phương pháp đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước theo định luật
bảo toàn khối lượng được hướng dẫn cụ thể trong thông tư 02/2009//TT-BTNMT.
IV. PHẠM VI THỰC HIỆN DỰ ÁN
Thực hiện theo đề cương được duyệt, cụ thể là điều tra các loại hình xả thải gồm:
1. Nguồn thải điểm
- Bệnh viện, trạm xá;
- Trường học, trung tâm dạy ngnhề, làng trẻ;
- Bãi chứa rác;
- Trang trại;
ĐVTV: Trung tâm Phát triển quỹ đất Cà Mau
3
Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
- Khu dân cư, đô thị tập trung;
- Khu neo đậu tàu thuyền;
- Khu du lịch;
- Các cơ sở, doanh nghiệp, công ty, hợp tác xã sản xuất, chế biến, dịch vụ (Sản xuất
thủy sản; Cơ sở sản xuất giống; Chế biến mía đường; Chế biến dược phẩm; Nhà máy nhiệt
điện).
2. Nguồn thải phân tán
- Điều tra các hoạt động từ trồng trọt: Canh tác lúa ở 3 huyện Thới Bình, Trần Văn
Thời, U Minh và TPCM;
- Điều tra hiện trạng chăn nuôi gia súc gia cầm trong tỉnh;
- Điều tra hiện trạng nuôi trồng thủy sản trong tỉnh.
3. Điều tra thống kê nguồn thải và đánh giá sức chịu tải môi trường trên 4 tuyến sông
khoa, bệnh viện, trại sản xuất giống thuỷ sản, trang trại chăn nuôi, hộ chăn nuôi gia đình,
khu dân cư, các cơ sở chế biến thuỷ sản, nhà máy đường, xí nghiệp dược phẩm;
– Xây dựng bản đồ hiện trạng chất lượng nước mặt trên 4 tuyến sông chính và hiện
trạng các nguồn thải gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
3. Sản phẩm của Dự án
STT Tên sản phẩm
Số lượng
Quy cách, chất lượng
1
Tập báo cáo “Điều tra, thống kê các
Theo yêu Theo các nội dung
nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của
cầu
trong đề cương dự án.
môi trường” .
2
Tập bản đồ GIS tỷ lệ 1:50.000.
1 bộ
Theo các nội dung
trong đề cương dự án.
3
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1.1. Vị trí địa lý
Cà Mau là tỉnh cực Nam của Việt Nam, nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Vị trí lãnh thổ: điểm cực Nam 8030’ vĩ độ Bắc, điểm cực Bắc 9033’ vĩ Bắc, điểm cực Đông
105024' kinh Đông và điểm cực Tây 104043' kinh Đông. Các hướng tiếp giáp bao gồm:
– Phía Bắc:
giáp tỉnh Kiên Giang
– Phía Đông Bắc:
giáp tỉnh Bạc Liêu
– Phía Nam và Đông Nam:
giáp Biển Đông
– Phía Tây:
giáp Biển Tây
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 5.331,64 km 2, bằng 13,13% diện tích vùng đồng bằng
sông Cửu Long và bằng 1,58% diện tích cả nước, được chia thành 09 đơn vị hành chính
gồm 8 huyện và 1 thành phố, với 82 xã, 10 phường và 9 thị trấn. Ngoài phần đất liền, Cà
Mau còn có các cụm đảo là Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Buông và Hòn Đá Bạc, với tổng
diện tích khoảng 05km2.
Là tỉnh duy nhất trong cả nước có cả bờ biển Đông (107 km) và bờ biển Tây (147
km) với tổng chiều dài bờ biển 254 km, chiếm 7,8% chiều dài bờ biển cả nước, rộng trên
71.000 km2, tiếp giáp với vùng biển của các nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia.
Biển Cà Mau nằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á nên có nhiều thuận
mặt bằng rất lớn.
Phía Bắc có địa hình thấp (trung bình từ 0,2 – 0,5 m) thuận lợi cho việc tận dụng trữ
lượng nước mưa để sản xuất nông nghiệp nhưng cũng tạo thành những vùng trũng đọng
nước chua phèn gây khó khăn cho canh tác nông nghiệp.
Phía Nam có địa hình cao hơn (trung bình từ 0,2 – 0,8 m), do có những giồng cát
biển không liên tục, tạo nên khu vực có địa hình cao ven biển, hướng nghiêng thấp dần từ
biển vào nội địa.
Bên cạnh đó, địa hình của Tỉnh còn bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông rạch chằng
chịt, đây cũng là lợi thế về giao thông đường thủy nhưng là hạn chế rất lớn đối với phát triển
giao thông đường bộ. Đồng thời, phần lớn diện tích của Tỉnh thuộc dạng đất ngập nước ven
biển, nền đất yếu nên việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng và xây dựng dân dụng rất
tốn kém do yêu cầu xử lý nền móng phức tạp; tính ổn định của các công trình xây dựng bị
hạn chế, thường bị lún nền. Đây cũng là những trở ngại cho chương trình phát triển đô thị
của Tỉnh (hạn chế khả năng phát triển khu đô thị cao tầng, tốn kém nhiều trong đầu tư xây
dựng hạ tầng đô thị …).
1.1.4. Khí hậu, thủy văn
1.1.4.1. Khí hậu
a. Nhiệt độ
Khí hậu tỉnh Cà Mau mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với
nền nhiệt cao vào loại trung bình trong tất cả các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Nhiệt độ
trung bình năm 2009 là 27,4 0C, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm vào tháng 6 khoảng
28,80C; nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm vào tháng giêng là 25,10C.
Theo Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam thì khí hậu trong tỉnh Cà Mau những năm
gần đây diễn biến ngày càng phức tạp, nhiệt độ ngày càng tăng, lượng mưa lớn. Nhiệt độ
giai đoạn 1970 – 1979 tăng hơn 0,2 0C so với giai đoạn 1960 – 1969; nhiệt độ giai đoạn 1990
– 1999 tăng hơn 0,40C so với giai đoạn 1980 – 1989 và giai đoạn 2000 – 2009 tăng cao hơn
giai đoạn 1990 – 1999 khoảng 0,30C. Dự báo nhiệt độ trong tỉnh sẽ tiếp tục tăng lên ở những
năm tới và tác động đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
b. Lượng mưa, độ ẩm
So với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long thì tỉnh Cà Mau có lượng
mùa mưa thường xảy ra các cơn giông, lốc xoáy cấp 7 đến cấp 8 ở vùng biển, ven biển; trên
vùng biển Cà Mau – Kiên Giang chịu tác động phức tạp của các cơn bão, ảnh hưởng trực tiếp
đến hoạt động khai thác hải sản và các hoạt động kinh tế khác trên biển.
1.1.4.2. Chế độ thủy văn
Về thủy văn, địa bàn tỉnh Cà Mau chịu tác động trực tiếp của chế độ thủy triều biển
Đông (bán nhật triều không đều) và vịnh Thái Lan (nhật triều không đều). Biên độ triều biển
Đông tương đối lớn, từ 3,0 – 3,5 m vào ngày triều cường và từ 1,8 – 2,2 m vào các ngày
triều kém.
Do ảnh hưởng của 2 chế độ thủy triều và có nhiều cửa sông ăn thông ra biển nên phần
lớn diện tích đất liền của tỉnh đã bị nhiễm mặn và chế độ truyền triều rất phức tạp. Chế độ
thủy triều đã được người dân tận dụng trong đời sống, sản xuất như giao thông đi lại theo con
nước, lấy nước và thoát nước cho các vùng đầm nuôi tôm… Nhưng do chế độ truyền triều
không đều của biển Đông và vịnh Thái Lan đã hình thành một số vùng giáp nước, là những
khó khăn cho giải pháp thủy lợi phục vụ sản xuất.
Thủy triều đưa nước biển vào ra thường xuyên, mang theo một lượng phù sa lớn làm
bồi lắng nhanh ở các sông, kênh thủy lợi. Ngoài ra, trong mùa khô (mùa gió chướng) nước
biển dâng cao, gây tình trạng tràn mặn, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống, vì vậy công tác
ngăn mặn chống tràn là việc phải làm hàng năm của địa phương.
Đặc điểm thủy triều trên các tuyến sông rạch Cà Mau ảnh hưởng trực tiếp đến hiện
tượng sạt lở bờ sông trong tỉnh Cà Mau, thường mỗi năm chỉ diễn ra trong khoảng 03 tháng
(từ tháng 5 đến tháng 8), nhiều nhất là ở 02 tháng 5 và 6, thời gian này trùng với thời kỳ có
đỉnh triều thấp nhất ứng với mực nước trung bình trên các sông rạch thấp nhất, đây cũng là
thời kỳ đầu mùa mưa. Đa số các trường hợp sạt lở đều diễn ra vào lúc mưa nhiều, triều
xuống thấp nhất (con nước kiệt) và vào ban đêm (do các tháng này mực nước kiệt nhất là
vào đêm). Tình hình sạt lở đất không chỉ gây thiệt hại lớn về tài sản mà còn tiềm ẩn nguy cơ
đe dọa tính mạng người dân. Tính từ năm 2007 – 2009, thiệt hại do sạt lở đất gây ra làm 04
ĐVTV: Trung tâm Phát triển quỹ đất Cà Mau
8
lượng nguồn nước trong vùng thời gian tới.
1.1.5. Tài nguyên thiên nhiên
1.1.5.1. Tài nguyên đất và tình hình sử dụng đất
a. Tài nguyên đất
Theo tài liệu “Điều tra đánh giá tài nguyên đất tỉnh Cà Mau năm 2000” của Phân
viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp Miền Nam:
Toàn bộ diện tích đất ở tỉnh Cà Mau được hình thành trên các trầm tích trẻ, tuổi
Holocene, trong đó, có 34% diện tích tự nhiên của tỉnh được tạo thành do trầm tích sông
hoặc sông biển hỗn hợp; 12% là trầm tích sông – đầm lầy; 13% trầm tích biển – đầm lầy;
36% là trầm tích biển và 2% là trầm tích đầm lầy.
Nhìn chung đất đai của tỉnh là đất trẻ, mới được khai phá sử dụng, có độ phì trung
bình khá, hàm lượng chất hữu cơ cao nhưng do bị nhiễm phèn, mặn nên đối với sản xuất
nông nghiệp, đa số đất của tỉnh Cà Mau được xếp vào loại “đất có hạn chế” với những mức
độ khác nhau. Bao gồm các nhóm đất chính sau:
- Nhóm đất cát giồng:
ĐVTV: Trung tâm Phát triển quỹ đất Cà Mau
9
Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
Diện tích 671 ha, chiếm 0,13% diện tích tự nhiên, tập trung ở khu vực dọc ven bãi
Khai Long, thuộc xã đất Mũi, huyện Ngọc Hiển. Mặc dù nhóm đất này phân bố ở gần mép
nước biển song một phần đất cát ở đây lại có nước mạch treo, chất lượng ngọt nên có thể sử
dụng để trồng hoa màu hoặc cây ăn quả. Tuy nhiên, do tỷ lệ cát thấp lại có lẫn nhiều xác bã
hữu cơ chưa và bán phân huỷ nên đất cát Khai Long ít có ý nghĩa trong xây dựng nhưng
cũng có thể sử dụng để làm vật liệu san lấp.
- Nhóm đất mặn:
Nhóm đất mặn có diện tích 208.496 ha, chiếm 40,1% diện tích tự nhiên, được hình
- Nhóm đất than bùn:
Diện tích 8.698 ha, chiếm 1,67% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở khu vực
rừng tràm về phía Nam huyện U Minh (6.927 ha) và Bắc huyện Trần Văn Thời (1.771 ha)
nhưng tổng diện tích chứa than bùn đã giảm nhiều sau vụ cháy rừng năm 2002, hiện nay chỉ
còn 6.034,5ha (Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra đánh giá trữ lượng, chất lượng và đề xuất
hướng bảo vệ, sử dụng hợp lý nguồn than bùn U Minh, tỉnh Cà Mau, 2003 của Liên đoàn
bản đồ địa chất Miền Nam), trên hầu hết diện tích đất than bùn là rừng tràm, rất ít diện tích
ĐVTV: Trung tâm Phát triển quỹ đất Cà Mau
10
Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
là rẫy hoa màu. Than bùn rất dễ bị cháy hoặc phân huỷ khá nhanh khi thiếu ẩm, do đó việc
trồng trọt các loại cây trồng nông nghiệp trên đất than bùn là không phù hợp. Mặt khác, than
bùn U Minh cùng với đời sống của các loài động vật hoang dã trong rừng tràm trên đất than
bùn là những nguồn tài sản quý hiếm hiện nay. Vì vậy, cần có biện pháp hợp lý nhằm tu bổ
và bảo vệ nghiêm ngặt rừng tràm trên đất than bùn.
- Nhóm đất bãi bồi:
Diện tích khoảng 15.483 ha, chiếm 2,97% diện tích tự nhiên, tạo thành các dãy đất
hẹp kéo dài song song với mép nước biển Tây, thuộc huyện Ngọc Hiển, Năm Căn (13.740
ha) và Phú Tân (1.743 ha). Đây là vùng đất còn rất non trẻ, toàn bộ là lớp đất bùn non chưa
thuần thục, mềm yếu, thành phần chủ yếu là thịt pha cát mịn lẫn nhiều xác bã hữu cơ và
mảnh vỡ của động vật giáp xác. Hướng sử dụng chủ yếu là phát triển rừng phòng hộ theo
diễn thế tự nhiên.
b. Tình hình sử dụng đất
Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh tính đến năm 2009 là 5.331,64 km2. Trong thời gian qua,
quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra tương đối nhanh, đặc biệt là việc chuyển dịch từ sản
xuất lúa sang nuôi tôm trên diện rộng; phát triển các khu công nghiệp, các đô thị được nâng cấp
Đất chuyên dùng
20.414
20.566
21.014
27.628
Đất ở
6.716
6.736
6.735
6.781
Đất chưa sử dụng
10.779
10.838
10.838
10.470
Đất khác
19.781
19.952
19.959
18.298
(Nguồn: Kết quả kiểm kê hiện trạng sử dựng đất các năm, Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Cà Mau 2006, 2007, 2008, 2009)
1.1.5.2. Tài nguyên nước
a. Nguồn nước mặt
Nguồn nước mặt của tỉnh Cà Mau chủ yếu là nước mưa và nước đưa từ biển vào,
chứa trong hệ thống sông rạch tự nhiên, kênh thủy lợi, trong rừng ngập mặn, rừng tràm và
ĐVTV: Trung tâm Phát triển quỹ đất Cà Mau
11
+ Tầng I: Phân bố trên toàn bộ diện tích phần đất liền của tỉnh với chiều sâu trung bình
36,6m. Đây là tầng nước không có áp lực do có quan hệ thuỷ lực với nước trên mặt đất. Nguồn
cấp nước cho tầng này là nước mưa và nước mặt.
+ Tầng II: Tầng này phân bố trên toàn bộ diện tích đất liền của tỉnh nhưng bị tầng I phủ
lên trên. Chiều sâu đáy tầng từ 96,5m đến 136m.
+ Tầng III: Phân bố khắp diện tích phần đất liền, đáy tầng này sâu từ 146m đến 233m.
+ Tầng IV: Phân bố khắp diện tích phần đất liền, độ sâu đáy tầng này từ 198m đến
306m.
+ Tầng V: Phân bố khắp diện tích phần đất liền, độ sâu đáy tầng này từ 300m đến
348m.
+ Tầng VI: Phân bố không khắp diện tích phần đất liền của tỉnh mà vắng mặt ở phía Tây
Bắc thuộc các huyện U Minh và Thới Bình, độ sâu đáy tầng này từ 355m đến 372m.
+ Tầng VII: Phân bố khắp diện tích của tỉnh, độ sâu đáy tầng này từ 372m đến 413m.
Tổng trữ lượng tiềm năng nước ngầm của tỉnh Cà Mau có thể khai thác là khoảng 6
triệu m3/ngày, trong đó tầng I là 0,64 triệu m 3/ngày, tầng II là 1,2 triệu m 3, tầng III là 1,53
triệu m3, tầng IV là 1 triệu m 3, tầng V là 0,9 triệu m 3, tầng VI là 0,75 triệu m 3. Hiện nay
ĐVTV: Trung tâm Phát triển quỹ đất Cà Mau
12
Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
nước ngầm ở tỉnh đang khai thác chủ yếu ở tầng II, tầng III và tầng IV (đối với giếng nước
lẻ của hộ dân chủ yếu khai thác ở tầng II và tầng III). Dự báo đến năm 2020, áp lực khai
thác sử dụng nguồn nước ngầm tại thành phố Cà Mau và các thị trấn, huyện lỵ, các khu
công nghiệp là rất lớn. Nếu quá trình khai thác nước ngầm không được quy hoạch hợp lý sẽ
dẫn đến phá vỡ cân bằng tự nhiên giữa các tầng nước, có thể nước mặn và chất ô nhiễm ở
tầng I sẽ thấm xuyên xuống các tầng dưới gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Đồng thời nếu
khai thác nước không đúng quy hoạch các tầng nước thì có thể ảnh hưởng đến nền móng
* Hệ động vật:
Hệ động vật ở Cà Mau rất phong phú, nhất là các loài thuỷ sinh vật, bao gồm cá, giáp
xác, các loài nhuyễn thể, các loài lưỡng cư, bò sát và sự đa dạng của các loài chim, đặc biệt
là chim nước. Riêng đối với các lớp thú thì kém phong phú.
Thành phần động vật hoang dã phân bố tương đối khác nhau ở 02 vùng sinh thái
ngập mặn và ngập úng. Khu rừng tràm có thành phần và số lượng động vật khá phong phú.
Theo điều tra của Trung tâm Bảo vệ Môi trường năm 1998, tại khu đặc dụng Vồ Dơi có 12
ĐVTV: Trung tâm Phát triển quỹ đất Cà Mau
13
Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
loài lưỡng cư, 32 loài bò sát, 100 loài chim, 18 loài động vật có vú. Trong đó, có các loài
chim, thú quý hiếm như:
– Các loài thú: heo rừng, nai, khỉ,…
– Chim: Khoang cổ, Gà đãi, Ó biển, Chằng bè, Diệc, Cồng cọc,...
Đến nay, động vật rừng tràm đã giảm đáng kể về số lượng. Cọp, Beo, Lọ nồi,…
không tìm thấy, các loài chim quý cũng giảm, số lượng còn lại không nhiều.
Tại Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, theo “Báo cáo tổng kết nghiên cứu ban đầu về Đa
dạng sinh học vườn quốc gia Mũi Cà Mau năm 2007” của Tổ chức Bảo tồn động thực vật
Hoang dã Quốc tế đã ghi nhận được 26 loài thú, 93 loài chim, 43 loài bò sát và 9 loài lưỡng
cư. Đặc biệt có các loài cần được bảo tồn như:
– Các loài thú: Rái cá vuốt bé, Rái cá lông mũi/lông mượt, Mèo cá.
– Các loài chim: Bồ nông chân xám, Giang sen, Cò trắng Trung Quốc.
– Loài bò sát: Rùa hộp lưng đen, Rùa răng, Rùa ba gờ, Rùa cổ bự và Ba ba nam bộ.
* Hệ thực vật:
Theo số liệu của Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng rừng ngập Minh Hải, tổng số
loài thực vật trong các hệ sinh thái tỉnh Cà Mau là 239 loài thuộc 76 họ, trong đó:
Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
1.1.5.5. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch của Cà Mau khá đặc trưng với một số loại hình du lịch, chủ yếu
bao gồm các loại hình:
- Du lịch sinh thái: Cà Mau là tỉnh duy nhất trong cả nước có đất bồi hàng năm lấn
thêm ra biển từ 80 – 100 m, có tổng chiều dài hệ thống kênh rạch khoảng 7.000 km, xen vào
đó là các dải vườn cây ăn trái, các sân chim tự nhiên, sân chim nhân tạo, cùng với diện tích
rừng ngập mặn và rừng tràm rộng lớn, có 2 vườn quốc gia (VQG), (VQG Mũi Cà Mau và U
Minh hạ) đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2009,
mang đậm nét đặc trưng của vùng đất rừng phương Nam, là những cơ hội để tỉnh Cà Mau
phát triển du lịch sinh thái, đem lại cho du khách những tuyến du lịch hấp dẫn. Hiện nay, du
lịch rừng ngập mặn Cà Mau đang được đầu tư theo dự án du lịch chuyên đề quốc gia. Nhờ
đó, sản phẩm du lịch sinh thái của tỉnh Cà Mau ít bị trùng lặp với các tỉnh khác trong vùng
ĐBSCL (chủ yếu là sinh thái miệt vườn).
- Du lịch biển: Với chiều dài bờ biển 254 km, có một số bãi cát ven bờ (Giá Lồng
Đèn, Khai Long), có cồn bồi lắng cửa sông, các cụm đảo gần bờ: Hòn Khoai, Hòn Chuối,
Hòn Đá Bạc... còn giữ được vẻ đẹp nguyên thủy của tự nhiên, là tiềm năng để khai thác du
lịch biển đảo.
- Du lịch lịch sử nhân văn: Gắn liền với quá trình lịch sử của dân tộc, tỉnh Cà Mau có
nhiều khu di tích lịch sử như: Hồng Anh thư quán, đình Tân Hưng, khu căn cứ Lung Lá Nhà
Thể, căn cứ Xẻo Đước, khu chứng tích tội ác Mỹ ngụy Hải Yến - Bình Hưng. Đây là những
công trình văn hoá du lịch, đang được đầu tư tôn tạo. Nghệ thuật đờn ca tài tử, văn hoá dân
gian, lễ hội Nghinh ông, hoạt động mua bán chợ nổi trên sông… là những yếu tố có thể khai
thác trong hoạt động du lịch.
Ngành du lịch trong tỉnh đã và đang được khai thác phục vụ chủ yếu trong lĩnh vực
du lịch sinh thái hấp dẫn du khách cả trong nước và Quốc tế, được đánh giá là ngành kinh tế
mũi nhọn đứng vị trí thứ 2 của tỉnh chỉ sau ngành thuỷ sản. Tuy nhiên, các tài nguyên du
lịch của tỉnh hiện chủ yếu còn ở dạng tiềm năng, để sớm khai thác có hiệu quả đòi hỏi phải
đẩy nhanh đầu tư kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông đường bộ, các doanh nghiệp cần có
đốt, phân hữu cơ vi sinh và acid humic, than hoạt tính.
– Sét gạch ngói và sét Ceramic: tỉnh Cà Mau có tiềm năng lớn về sét gạch ngói và sét
Ceramic, tổng trữ lượng khoảng 250 triệu m 3, có thể thăm dò khai thác giai đoạn 1 khoảng 9
triệu m3, chất lượng đạt yêu cầu sản xuất gạch ngói xây dựng hoặc làm thân gạch Ceramic
(phải phối liệu với các loại sét khác), tỷ lệ sét có thể sử dụng làm thân gạch Ceramic đạt
khoảng 30 – 40% lượng sét khai thác.
1.2. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI
1.2.1. Lĩnh vực kinh tế
1.2.1.1. Tăng trưởng kinh tế
Tình hình phát triển kinh tế tỉnh Cà Mau trong năm 2009 có nhiều chuyển biến tích
cực, tổng sản phẩm (GDP) đạt 13.021,4 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994), tăng 12% so
với năm 2008. Trong đó, khu vực ngư – nông – lâm nghiệp tăng 6%, công nghiệp và xây
dựng tăng 17%, dịch vụ tăng 12%, một số chỉ tiêu quan trọng tăng trưởng cao.
1.2.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong 3 năm (2007 – 2009), nền kinh tế tỉnh đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đúng hướng, theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ,
đồng thời giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp.
Tỷ trọng đóng góp trong GDP của từng khu vực cụ thể như sau:
Bảng 1.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau (từ năm 2007 – 2009)
Lĩnh vực
2007
2008
2009
Ngư nông lâm nghiệp (%)
45,57
43,32
41,5
Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định, việc nuôi tôm công
nghiệp đang có chiều hướng phát triển nhưng diện tích nuôi còn thấp, chỉ có 1.300 ha. Ngoài
con tôm các hộ còn nuôi cua, cá chẽm, cá kèo… Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt 27.728 ha,
tăng 1.082 ha so với năm 2008, trong đó nuôi cá chình 689 ha, cá bống tượng 748 ha, còn lại
nuôi các loài thủy sản khác như: cá sặc rằn, cá rô đồng, trê vàng, cá lóc…. Sản lượng nuôi
trồng đạt 188.670 tấn, tăng 8% so với năm 2008; trong đó, tôm 99.600 tấn, tăng 6% so với
năm 2008. (Nguồn: Sở NN&PTNT, 2009).
Về khai thác biển tương đối thuận lợi, đến năm 2009 tỉnh Cà Mau có 4.889 phương
tiện khai thác thuỷ hải sản và hậu cần dịch vụ, với tổng công suất 355.927 CV (Nguồn: Sở
NN&PTNT, 2009). Sản lượng khai thác đạt 145.750 tấn, tăng 5% so với năm 2008; trong đó,
có 14.950 tấn tôm, tăng 28% so với năm 2008. Tuy nhiên, do chi phí cao, thị trường đầu ra
thiếu ổn định nên hiệu quả kinh tế nghề khai thác biển chưa cao, đời sống một bộ phận ngư
dân còn gặp nhiều khó khăn.
Tính chung, tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản đạt 334.420 tấn, tăng
7% so với năm 2008; trong đó, sản lượng tôm đạt 114.550 tấn, tăng 8% so với năm 2008.
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau, 2009).
– Sản xuất nông nghiệp:
Trong những năm gần đây tình hình sản xuất lúa trong tỉnh khá ổn định, đến năm
2009 diện tích canh tác lúa là 94.591 ha, giảm 2,5% so với năm 2008, đồng thời diện tích
gieo trồng lúa cũng giảm còn 130.663 ha, giảm 1,76% so cùng kỳ. Nhưng nhờ sự ứng dụng
khoa học kỹ thuật vào sản xuất được tốt hơn nên sản lượng lúa đã không ngừng gia tăng,
năm 2009 đạt 503.445 ha, tăng 3,8% so với năm 2008. (Nguồn: Sở NN&PTNT, 2009).
Diện tích trồng dừa và cây ăn trái của tỉnh ngày càng được cải thiện, đến năm 2009
toàn tỉnh có 16.065 ha, tăng 5% so với năm 2008. (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà
Mau, 2009).
Về chăn nuôi: Đến năm 2009 tổng đàn heo trong tỉnh là 218.464 con, tăng 11% so
với năm 2008; đàn gia cầm khoảng 1,27 triệu con, tăng 11% so với năm 2008; đã công nhận
15 trang trại chăn nuôi, tăng 14,3% so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên gia súc, tổng
– Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 12.939 tỷ đồng (giá 1994), tăng 19% so với năm
2008. Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu gồm: chế biến hàng thủy sản đạt
82.255 tấn, giảm 1%; khí đốt thiên nhiên 1.111,94 triệu m 3, tăng 71%; sản xuất điện 6,637 tỷ
KWh, tăng 120% so với năm 2008 (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau, 2009).
Trong thời gian tới nhịp độ phát triển công nghiệp trong địa bàn tỉnh ngày càng
nhanh, theo định hướng đến năm 2020 tổng giá trị sản lượng công nghiệp tăng bình quân
hàng năm từ 18 - 19%, với sự đầu tư các khu/cụm CN - TTCN tập trung càng nhiều và quy
mô diện tích càng được mở rộng. Với sự tăng lên cả về quy mô diện tích hoạt động công
nghiệp cùng sự tăng cường hoạt động của các ngành công nghiệp mới (hóa chất, cơ khí...)
thì mức độ ô nhiễm có khả năng gia tăng.
Chương trình điện khí hoá nông thôn được triển khai tích cực. Số hộ sử dụng điện
đến năm 2009 chiếm 91,5% tổng số hộ trong toàn tỉnh.
– Về thương mại: Sức mua hàng hóa trong tỉnh tăng, giá cả tương đối ổn định, chỉ số
giá tiêu dùng tăng 7,87%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn tỉnh đạt 21.630 tỷ
đồng, tăng 40% so với năm 2008. Kim ngạch xuất khẩu đạt 645 triệu USD, giảm 2% so với
năm 2008 (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau, 2009).
– Giao thông vận tải: Nhiều dự án giao thông lớn được khởi công trong năm như:
tuyến đường Cái Nước – Vàm Đình, cầu thị trấn U Minh, đường Hồ Chí Minh. Hoàn thành
6 cầu trên tuyến Quốc lộ 1A đoạn Cà Mau – Năm Căn. Đồng thời phong trào xây dựng cầu,
đường giao thông nông thôn trong tỉnh cũng phát triển mạnh, đặc biệt là đường ôtô về trung
tâm xã.
Sắp tới tình hình giao thông trong tỉnh và khu vực ngày càng phát triển nhằm đáp ứng
nhu cầu đi lại và thông thương hàng hóa (Theo Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà
Mau đến năm 2020 thì khối lượng vận tải hàng hóa tăng bình quân hàng năm là 13 - 15%,
vận chuyển hành khách tăng bình quân 12 - 13%). Vì vậy phải đầu tư, nâng cấp, mở rộng
nhiều tuyến giao thông trọng điểm thủy, bộ cùng với việc cải tạo hệ thống cảng – bến thì công
suất, số phương tiện tham gia lưu thông trong khu vực sẽ tăng lên đáng kể nên lượng chất thải
thải ra môi trường ngày càng nhiều. Vì vậy các tác động đến môi trường nước mặt, không
khí… cũng sẽ tăng lên.
c. Tài chính, tín dụng
kê tỉnh Cà Mau, 2009).
Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau thời kỳ đến năm
2020 thì tốc độ gia tăng dân số tự nhiên trong tỉnh giảm còn 1,1% vào năm 2020; quy mô
dân số năm 2015 khoảng 1,418 triệu người, đến năm 2020 khoảng 1,5 triệu người. Vì vậy,
lượng chất thải sinh hoạt ngày càng tăng lên, mức độ tác động đến môi trường sẽ nhiều hơn
nên cần tăng cường các hoạt động BVMT trong thời gian sắp tới.
1.2.2.2. Giáo dục và đào tạo
Năm học 2009 – 2010 toàn tỉnh có 6.524 phòng học và 231.367 học sinh các cấp,
trong đó có 202.028 học sinh phổ thông, tăng 0,64% so với năm học 2008 – 2009 (Nguồn:
Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau, 2009). Ngành giáo dục tập trung triển khai thực hiện các
nhiệm vụ trọng tâm của năm học mới với chủ đề “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao
chất lượng giáo dục”, phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực”.
Tỉnh Cà Mau đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia về Phổ
cập giáo dục trung học cơ sở và Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Trong năm học có
10 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia đến
năm 2009 là 39 trường. (Nguồn: Báo cáo năm của UBND tỉnh Cà Mau, 2009).
Theo định hướng sắp tới là tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục đào
tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, phát triển giáo dục chuyên nghiệp và đào tạo nghề… dự
báo lượng chất thải phát sinh từ ngành giáo dục sẽ tăng lên nên cần có hướng xử lý kịp thời
nhằm góp phần BVMT trong khu vực được tốt hơn.
1.2.2.3. Y tế
Công tác truyền thông, giáo dục và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được
thực hiện khá tốt. Đã hoàn thành việc xây dựng và đưa vào sử dụng Bệnh viện đa khoa tỉnh,
ĐVTV: Trung tâm Phát triển quỹ đất Cà Mau
19
Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
tiêu chuẩn. Tổ chức thành công cuộc diễn tập phòng, chống lụt bão tại huyện Đầm Dơi; tổ
chức diễn tập chiến đấu trị an tại 25/25 xã, phường, thị trấn.
1.2.3. Đánh giá chung
1.2.3.1. Những mặt làm được
Những năm qua, trong điều kiện không ít khó khăn, thách thức, nhưng Đảng bộ và
quân, dân tỉnh đã nỗ lực quyết tâm lãnh đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ
XIII Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2005 – 2010, đạt được thành tựu khá toàn diện và quan trọng, có
những mặt rất quan trọng, tạo đà cho sự phát triển của những giai đoạn tiếp theo. Kinh tế
tăng trưởng cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh, đúng hướng; tiềm lực kinh tế tăng lên
đáng kể; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển nhanh, có bước tiến quan trọng. Nhiều
công trình, dự án của Trung ương và địa phương đầu tư tiếp tục phát huy hiệu quả, như: khu
công nghiệp khí – điện – đạm Cà Mau, các công trình giao thông, thủy lợi, lưới điện, bệnh
viện, trường học…, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Văn
ĐVTV: Trung tâm Phát triển quỹ đất Cà Mau
20
Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
hóa – xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội và đời sống của nhân dân tiếp tục cải thiện.
Quốc phòng, an ninh được giữ vững. (Trích: Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIV Đảng
bộ tỉnh Cà Mau nhiệm kỳ 2010 - 2015).
1.2.3.2. Những hạn chế tồn tại
Bên cạnh những thành tựu đạt được từ phát triển kinh tế - xã hội thì vẫn còn tồn tại
không ít các vấn đề bất cập ảnh hưởng đến đời sống xã hội và môi trường sinh thái trong
khu vực cần được quan tâm khắc phục, đó là:
- Việc định cư của các hộ dân trong tỉnh Cà Mau (cũng như các tỉnh khác trong vùng
ĐBSCL) chủ yếu ở ven sông rạch, các vàm sông và dọc theo các tuyến đường giao thông,
số cụm dân cư định cư tập trung không nhiều; tình trạng một bộ phận khá đông hộ dân xây
21
Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
CHƯƠNG 2
HIỆN TRẠNG CÁC NGUỒN PHÁT SINH CHẤT THẢI CHÍNH GÂY
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
Cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau năm 2009 có tỉ trọng ngành công nghiệp chiếm 39,01%,
tỉ trọng ngành dịch vụ chiếm 25,7% tỉ trọng ngành ngư nông lâm nghiệp chiếm 35,29%.
Trong tỉnh Cà Mau bên cạnh Nhà máy điện Cà Mau thì hoạt động công nghiệp chủ yếu là
ngành công nghiệp chế biến thủy sản và các phụ phẩm; Các hoạt động dịch vụ chủ yếu diễn ra
trong các khu dân cư tập trung (bao gồm cả các họat động dịch vụ trong khu dân cư như y tế, dịch
vụ cung cấp giống thủy sản, dịch vụ trao đổi hàng hóa, ... ) và các khu du lịch. Sản xuất nông
nghiệp chủ yếu là nuôi trồng thủy sản, trồng lúa và chăn nuôi (chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ quy
mô hộ gia đình). Với đặc tính xả thải thường xuyên và lưu lượng thải lớn, chất thải tại các khu
dân cư tập trung và khu du lịch chưa được quan tâm đúng mức, chất thải từ sản xuất nông nghiệp
chỉ mang tính thời vụ nhưng thải lượng lớn và mức độ tuân thủ các quy định trong các hoạt động
xử lý chất thải chăn nuôi, cải tạo ao đầm, ... chưa được tuân thủ đúng mức. Dựa trên đặc điểm xả
thải và mức độ tác động của của các nguồn thải đến môi trường nước mặt, Dự án tiến hành điều
tra chi tiết hiện trạng các nguồn thải trên địa bàn tỉnh và phân theo nguồn thải điểm và nguồn thải
phân tán, đồng thời sắp theo thứ tự mức độ tác động đến môi trường nước mặt.
2.1 HIỆN TRẠNG CÁC NGUỒN THẢI ĐIỂM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU.
2.1.1. Công nghiệp chế biến thuỷ sản (CBTS), thức ăn gia súc và đầu vỏ tôm
(CBĐVT)
2.1.1.1. Nguồn thải
a. Đặc điểm phân bố nguồn thải
Hiện nay trong tỉnh Cà Mau có 66 cơ sở chế biến thủy sản và các phụ phẩm, cụ thể
gồm: 31 nhà máy CBTS XNK, 22 cơ sở thu mua và sơ chế tôm nguyên liệu, 5 nhà máy bột
cá, 5 cơ sở sản xuất Chitin + glusamin, 1 nhà máy chế biến thức ăn gia súc, 1 điểm trung
Chất hữu cơ, vi sinh vật
22
Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
– Đặc điểm phát thải:
+ Chất thải rắn sinh hoạt: Phần lớn các cơ sở sản xuất đều không có căn tin phục vụ
cơm, công nhân không được phép ăn uống trong căn tin nên rác sinh hoạt trong các cơ sở
sản xuất chủ yếu là bao bì và văn phòng phẩm. Đây là loại chất thải ít gây mùi và dễ dàng
thu gom.
+ Chất thải rắn sản xuất: Đối với các nhà máy sản xuất CBTS thì có thêm chất thải
rắn sản xuất đặc thù là đầu vỏ tôm, vây và da cá. Lượng chất thải rắn này dao động tuỳ theo
lượng nguyên liệu và quy mô sản xuất của từng cơ sở. Trong mỗi cơ sở lượng chất thải
tương đối lớn từ vài trăm kg đến vài tấn chất thải/ngày. Đây là loại chất thải có khả năng
gây ô nhiễm môi trường rất lớn nếu không có biện pháp thu gom và xử lý hợp lý. Đối với
các nhà máy chế biến bột cá (CBBC), chế biến chitin và glusamin (CBĐVT) cần dùng nhiên
liệu cho nồi hơi, nên có thể phát sinh thêm bụi tro từ nhiên liệu đốt cháy (tro trấu, tro củi,
tro than đá).
+ Chất thải nguy hại: Dẻ lau dầu nhớt và dầu nhớt phát sinh từ máy móc, thiết bị
phục vụ sản xuất, kim tim từ tổ y tế trong nhà máy, bao bì chứa hóa chất phục vụ vệ sinh
nhà xưởng, pin - acquy - bóng đèn từ các hoạt động sinh hoạt trong nhà máy. Lượng phát
sinh tùy vào quy mô phân xưởng, tuy nhiên các cơ sở CBTS hầu hết đều có diện tích rộng,
sử dụng hóa chất hàng ngày và có động cơ trong phân xưởng nên chất thải nguy hại có thể
phát sinh hàng ngày, nhưng lượng phát thải là không nhiều.
+ Chất thải lỏng:
Hiện tại tất cả các cơ sở sản xuất trong tỉnh đều có chế độ xả chảy tràn tự nhiên, lưu
lượng xả có thể ít hay nhiều tuỳ thuộc vào lượng nguyên liệu. Tuy nhiên do đặc thù sản xuất
của ngành là cần nhiều nước (35m3/tấn sản phẩm – nguồn: Sở TNMT) nên lưu lượng xả thải
của các cơ sở CBTS thường rất lớn. Nguồn tiếp nhận nước thải của 99% cơ sở là các tuyến
BOD
Dầu
Ntổng Ptổng
TSS
mỡ
5
Coliforms
(MPN/100ml)
CBTS1
44,7
8
133
35
29
KPH
7,9x103
CBTS2
CBTS3
CBTS4
23
Dự án: Điều tra thống kê các nguồn thải và đánh giá sức chịu tải của môi trường tỉnh Cà Mau
T
T
Tên cơ sở thuỷ sản
5
6
7
8
9
10
11
12
13
II
14
15
16
17
18
III
19
20
IV
Ký hiệu
DNTN CBTS XK Ngọc Sinh CBTS16
Xí nghiệp V
CBTS17
Cty TNHH CBTS & XNK
CBTS18
Phú Cường
Chế biến bột cá có HTXL
Cty TNHH CBBC Quốc
CBBC1
Hiệp
Cty chế biến bột cá Sinh CBBC2
Việt
Chế biến bột cá không HTXL
21 DNTN Khải Hoàn
CBBC3
V
Chế biến đầu vỏ tôm có HTXLNT
22 Cty TNHH Kim Hồng
ĐVT1
Cty TNHH một thành viên
23
ĐVT2
Đại Phát
24 DNTN CBĐVT Quốc Bình
ĐVT3
QCVN11:2008/BTNMT, Cmax,cột B
QCVN24:2009/BTNMT, Cmax,cột B
70,7
50
350
73
1,8
1,6x109
94,9
9,71
14,1
15
52
KPH
1,6x106
63
5,1
7
26
KPH
8,0x103
14,3
11
208
7
26
KPH
8,0x103
564
73,6
425,5
380
5,2
1,6x106
752,1
110,2
129,2
504
59
2
7,9x106
128,1
406
47,6
51,7
129,5
38,5
52
200
145
KPH
3,3x103
270,8
39,2
0,57
95
136
KPH
1,1x103
18.73
6
3.009
25,7
2.400
KPH
7,9x102
123
79,2
-
38,2
59,4
1
5,94
-
25
49,5
-
28
99
-
KPH
19,8
-
1,6x105
5.000
-