MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục chữ viết tắt
v
Danh mục bảng
vi
Danh mục sơ đồ
vi
Danh mục biểu đồ
vii
PHẦN I MỞ ĐẦU
2.1
Cơ sở lý luận
5
2.1.1
Các khái niệm
5
2.1.2
Vai trò, yêu cầu của dân số trong phát triển kinh tế
2.1.3
Các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta đối với công tác
12
DS-KHHGĐ
14
2.1.4
Đặc điểm hoạt động của cán bộ DS-KHHGĐ cơ sở
2.2.3
Bài học kinh nghiệm rút ra
39
2.3
Tổng quan các nghiên cứu có liên quan
41
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
42
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
42
3.1.1
Điều kiện tự nhiên
42
3.1.2
3.2.4
Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
52
3.2.5
Phương pháp phân tích số liệu
53
3.2.6
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
53
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
55
4.1
Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ huyện Gia Bình
55
4.1.1
4.2.2
Về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn
92
4.2.3
Về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực và kỹ năng cho cán bộ
93
4.2.4
Về tổ chức bộ máy ngành dân số - KHHGĐ
93
4.2.5
Về quy hoạch, quản lý, kiểm tra, đánh giá cán bộ
94
4.2.6
Về cơ chế chính sách, đãi ngộ
94
101
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
107
5.1
Kết luận
107
5.2
Kiến nghị
108
TÀI LIỆU THAM KHẢO
110
PHẦN PHỤ LỤC
112
iv
:
Biện pháp tránh thai
CTMT
:
Chương trình mục tiêu
CTV
:
Cộng tác viên
DS-KHHGĐ
:
Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
GDP
:
Tổng sản phẩm quốc nội
GTKS
:
Kinh tế - xã hội
PLDS
:
Pháp lệnh Dân số
PTTT
:
Phương tiện tránh thai
SKSS
:
Sức khỏe sinh sản
SLSS
:
Sàng lọc sơ sinh
THCS
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
3.1
Tình hình đất và sử dụng đất của huyện Gia Bình năn 2012 - 2014
43
3.2
Tình hình dân số, lao động của huyện Gia Bình năm 2012 - 2014
46
3.3
Kết quả phát triển kinh tế - xã hội huyện Gia Bình năm 2012 - 2014
48
3.4
Phân bổ mẫu điều tra
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số biểu đồ
4.1
Tên biểu đồ
Trang
Đánh giá mức độ phù hợp của công việc và một số hoạt động đối
với cán bộ DS-KHHGĐ huyện Gia Bình
4.2
Đánh giá của cán bộ DS-KHHGĐ được điều tra về điều kiện làm
việc và chính sách đối với cán bộ DS-KHHGĐ
4.3
81
Đánh giá của cán bộ DS-KHHGĐ được điều tra về chất lượng làm
việc của cán bộ DS-KHHGĐ
4.5
80
Đánh giá của cán bộ DS-KHHGĐ được điều tra về sự tham gia hỗ
trợ của địa phương đối với công tác DS-KHHGĐ
88
Đánh giá mức độ hài lòng của người dân về đội ngũ cán bộ DSKHHGĐ huyện Gia Bình
4.10
86
90
Đánh giá của các đối tượng điều tra về nguyên nhân ảnh hưởng đến
chất lượng cán bộ DS-KHHGĐ
91
vii
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân số đóng vai trò quyết định trong quá trình phát triển. Một mặt dân số là
lực lượng tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ cho xã hội. Mặt khác, dân số là lực
lượng tiêu thụ sản phẩm. Bởi vậy, quy mô, cơ cấu dân số có ảnh hưởng lớn đến quy
mô, cơ cấu sản xuất, tiêu dùng và tích luỹ xã hội. Vấn đề dân số và phát triển luôn là
mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, sự bùng nổ và gia tăng dân số
sẽ có ảnh hưởng xấu tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), sẽ dẫn tới đói
nghèo một cách nhanh chóng (Tổng cục DS-KHHGĐ, 2011a).
Đối với nước ta, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) luôn
các chỉ tiêu giảm sinh, giảm sinh con thứ 3 trở lên, góp phần phát triển KT-XH, nâng
cao đời sống nhân dân trong những năm qua (Tổng cục DS-KHHGĐ, 2011b).
Nằm trong tình trạng chung của cả nước và của tỉnh Bắc Ninh, trong những
năm qua công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn huyện Gia Bình luôn được sự quan tâm
lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) huyện, nhiều văn bản
được ban hành để chỉ đạo, thực hiện công tác DS-KHHGĐ. Đội ngũ cán bộ DSKHHGĐ trên địa bàn huyện luôn kiên trì, bền bỉ đi từng nhà để tuyên truyền, vận
động các cá nhân và cặp vợ chồng thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ, không sinh
con thứ 3 để có thời gian làm kinh tế, chăm sóc con cái học tập tốt, xây dựng gia
đình no ấm, hạnh phúc. Nên công tác DS-KHHGĐ đã đạt được kết quả đáng khích
lệ, luôn hoàn thành đạt và vượt chỉ tiêu về tỷ suất sinh, tỷ lệ sinh con thứ 3, tỷ suất
tăng dân số tự nhiên luôn giảm trong nhiều năm, tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các
biện pháp tránh thai (BPTT) đều đạt ở mức cao, tỷ số giới tính khi sinh (GTKS) đã
giảm dần qua các năm…
Tuy nhiên, tình hình dân số đang có diễn biến không bình thường, nhiều bất
cập diễn ra giữa lý thuyết và thực tiễn trước sự biến đổi KT-XH tác động đến từng
gia đình, từng con người, nhất là đối với dân số trẻ đang trong độ tuổi sinh đẻ.
Những bất cập đang gây ra những khó khăn cho hoạt động dân số nói chung và đội
ngũ cán bộ làm công tác dân số nói riêng trong cả nước và huyện Gia Bình. Hiện tại
tỷ suất sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 vẫn còn ở mức cao so với mặt bằng chung của
tỉnh và cả nước (năm 2014 tỷ suất sinh là 17‰, tỷ lệ sinh con thứ 3 là 16,9%), tỷ số
2
GTKS cao ở mức 117 bé trai/100 bé gái ..., nguy cơ tăng dân số có thể sẽ xảy ra
(Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Gia Bình, 2014). Chất lượng công tác DS-KHHGĐ
chưa được đảm bảo, nguồn kinh phí đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ còn eo hẹp.
Vấn đề đặt ra đối với công tác DS-KHHGĐ của huyện Gia Bình đó là: Muốn thực
hiện tốt công tác DS-KHHGĐ, trước hết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
DS-KHHGĐ trên địa bàn huyện Gia Bình. Do vậy phải đánh giá được thực trạng và
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ
trên địa bàn huyện Gia Bình đến năm 2020.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
chất lượng đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ.
- Đối tượng điều tra: Cán bộ, viên chức dân số thuộc biên chế nhà nước, đội
ngũ CTV DS-KHHGĐ thôn và người dân thuộc địa bàn nghiên cứu.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu và đánh giá chất lượng đội ngũ
cán bộ DS-KHHGĐ (bao gồm cả đội ngũ cán bộ, viên chức và CTV DS-KHHGĐ);
những yếu tố tác động đến chất lượng đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ và một số giải
pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ trên địa bàn huyện Gia Bình.
+ Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Gia Bình,
tỉnh Bắc Ninh.
+ Về thời gian: Số liệu được thu thập từ năm 2012 đến 2014. Đề tài được
thực hiện từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 10 năm 2015. Đề xuất một số giải pháp
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ giai đoạn 2015 - 2020.
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cán bộ DS-KHHGĐ là gì?
Thực trạng chất lượng cán bộ DS-KHHGĐ hiện nay ra sao? Yếu tố nào ảnh
hưởng tới chất lượng cán bộ DS-KHHGĐ?
Những giải pháp được khuyến cáo áp dụng trong thời gian tới?
4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
6
như vậy sẽ làm cho đời sống kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn hơn; đồng thời trẻ
em khi sinh ra không được chăm sóc đầy đủ và toàn diện.
Có nhiều biện pháp để thực hiện KHHGĐ như đặt vòng, uống thuốc tránh
thai, thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy tránh thai, đình sản và sử dụng bao cao su.
Trong đó bao cao su được sử dụng như là một công cụ vừa để ngừa thai, vừa để
ngăn ngừa các bệnh lây qua đường tình dục nhất là HIV/AIDS, gồm có bao cao su
cho người nam và bao cao su cho người nữ (Tổng cục DS-KHHGĐ, 2013).
c) Công tác DS-KHHGĐ
Công tác dân số là việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động tác động
đến quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và nâng cao chất lượng dân số.
Công tác KHHGĐ là biện pháp chủ yếu để điều chỉnh mức sinh góp phần
bảo đảm cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Các biện pháp thực hiện
KHHGĐ bao gồm:
+ Tuyên truyền, tư vấn, giúp đỡ, bảo đảm để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ
động, tự nguyện thực hiện KHHGĐ;
+ Cung cấp các dịch vụ KHHGĐ bảo đảm chất lượng, thuận tiện, an toàn và
đến tận người dân;
+ Khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần, thực hiện các chính sách bảo
hiểm để tạo động lực thúc đẩy việc thực hiện KHHGĐ sâu rộng trong nhân dân
(Quốc hội, 2003).
Công tác DS-KHHGĐ không phải là công tác nghiệp vụ kỹ thuật đơn thuần,
mà là công tác mang tính xã hội cao. Nhiệm vụ cơ bản của công tác này là cung cấp
thông tin, kiến thức cho người dân, làm chuyển biến thái độ từ tiêu cực đến tích cực
và cuối cùng là họ chuyển đổi hành vi, thực hiện KHHGĐ. Đây là một quá trình
phức tạp, lâu dài bởi vì quá trình này diễn ra ở từng gia đình, từng người sống trong
cộng đồng làng, xã và chịu ảnh hưởng trực tiếp của cộng đồng ấy về mọi mặt kinh
việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ
quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Mặt khác, theo Thông tư số 05/2008/TT-BYT của Bộ Y tế qui định: Trung tâm
DS-KHHGĐ huyện là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Chi cục DS-KHHGĐ đặt tại huyện,
có chức năng triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật, truyền thông
giáo dục về DS-KHHGĐ trên địa bàn huyện. Trung tâm DS-KHHGĐ huyện chịu sự
quản lý toàn diện của Chi cục DS-KHHGĐ, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn,
kỹ thuật về dịch vụ KHHGĐ, truyền thông giáo dục của các Trung tâm liên quan ở cấp
tỉnh và chịu sự quản lý nhà nước theo địa bàn của UBND huyện.
8
Do vậy cán bộ DS-KHHGĐ huyện là Viên chức, được tuyển dụng theo vị trí
việc làm, làm việc tại Trung tâm DS-KHHGĐ huyện theo chế độ hợp đồng làm việc,
hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị theo quy định của pháp luật (Bộ Y tế, 2008).
Viên chức Dân số có các ngạch chức danh: Dân số viên chính, mã số: 16.304;
Dân số viên, mã số: 16.305; Dân số viên cao đẳng, mã số: 16.306; Dân số viên trung
cấp, mã số: 16.307; Dân số viên sơ cấp, mã số: 16.308 (Bộ Nội vụ, 2011).
Cán bộ DS-KHHGĐ cấp huyện có nhiệm vụ triển khai, thực hiện công việc của
Trung tâm DS-KHHGĐ huyện theo sự phân công của Giám đốc và theo đề án vị trí
việc làm của Trung tâm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, các nhiệm vụ gồm:
+ Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, kỹ
thuật về DS-KHHGĐ và truyền thông giáo dục về DS-KHHGĐ trên cơ sở kế hoạch
của Chi cục DS-KHHGĐ thuộc Sở Y tế và tình hình thực tế trên địa bàn huyện,
trình cấp có thẩm quyền phê duyệt;
+ Triển khai, phối hợp thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật, cung
cấp dịch vụ về DS-KHHGĐ theo phân cấp và theo quy định của pháp luật;
+ Triển khai, phối hợp thực hiện các hoạt động truyền thông, giáo dục, vận
động, phổ biến các sản phẩm truyền thông về DS-KHHGĐ theo phân cấp và theo
Nhiệm vụ của cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ xã:
+ Xây dựng kế hoạch công tác năm, chương trình công tác quý, tháng, tuần về
DS-KHHGĐ. Sau khi kế hoạch được Trưởng Trạm Y tế xã trình cấp có thẩm quyền
phê duyệt, cán bộ DS-KHHGĐ có trách nhiệm tham mưu, phối hợp với các ngành,
đoàn thể tổ chức thực hiện nhiệm vụ, giám sát hoạt động của CTV DS-KHHGĐ thôn,
các ngành, đoàn thể theo đúng nhiệm vụ được phân công;
+ Hướng dẫn CTV DS-KHHGĐ thôn lập chương trình công tác tuần, tháng;
thực hiện chế độ ghi chép ban đầu về DS-KHHGĐ, thu thập số liệu về DSKHHGĐ, lập báo cáo tháng, lập các sơ đồ và biểu đồ quản lý các chỉ tiêu DSKHHGĐ của xã; phương pháp tuyên truyền, vận động, tư vấn; cung cấp bao cao su,
thuốc uống tránh thai;
+ Kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của CTV DS-KHHGĐ thôn;
giúp Trưởng trạm Y tế xã tham mưu cho UBND cấp xã kiểm tra, giám sát việc thực
hiện công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn xã;
+ Tổ chức giao ban CTV DS-KHHGĐ thôn hàng tháng để đánh giá kết quả
10
hoạt động về DS-KHHGĐ của từng thôn. Kịp thời giải quyết hoặc xin ý kiến cấp có
thẩm quyền để giải quyết những vấn đề phát sinh. Dự giao ban cán bộ chuyên trách
tại cấp huyện hàng tháng;
+ Tham dự đầy đủ các khoá đào tạo, tập huấn về DS-KHHGĐ do cơ quan
cấp trên tổ chức;
+ Đề xuất với cấp trên vấn đề cần thực hiện về DS-KHHGĐ (Bộ Y tế, 2008).
CTV DS-KHHGĐ thôn: CTV DS-KHHGĐ thôn hoạt động theo chế độ tự
nguyện, có thù lao hàng tháng, chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của
Trạm y tế xã. Có trách nhiệm cùng cán bộ y tế thôn tuyên truyền, vận động về DSKHHGĐ, vệ sinh phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu.
CTV DS-KHHGĐ thôn có nhiệm vụ:
+ Xây dựng chương trình công tác tháng, tuần về DS-KHHGĐ; phối hợp với
các tổ chức triển khai các hoạt động quản lý và vận động tới từng hộ gia đình;
+ Trực tiếp tuyên truyền, vận động, tư vấn về DS-KHHGĐ và cung cấp bao
trên tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh gồm: Viên chức DS-KHHGĐ cấp huyện,
cấp xã và CTV DS-KHHGĐ thôn. Xong trong quá trình nghiên cứu, có phần tác giả
xin được gọi chung là cán bộ DS-KHHGĐ.
2.1.2 Vai trò, yêu cầu của dân số trong phát triển kinh tế
Dân số vừa là lực lượng sản xuất, vừa là lực lượng tiêu dùng. Vì vậy, quy
mô, cơ cấu và sự gia tăng của dân số liên quan mật thiết tới nền kinh tế và sự phát
triển của mỗi quốc gia, là một trong những vấn đề tác động trực tiếp đến nền KTXH, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Chính vì
vậy, dân số vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.
Yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển KT-XH là nguồn nhân lực, mà
nguồn nhân lực luôn luôn gắn liền sự biến đổi dân số về số lượng và chất lượng.
Mục tiêu của sự phát triển là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của con người. Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được khi quy mô dân
số, tốc độ tăng trưởng dân số, sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực thật sự phù hợp,
có tác động tích cực đến sự phát triển (Lê Cảnh Nhạc, 2013).
Ðể có sự phát triển bền vững, việc đáp ứng tăng nhu cầu và nâng cao chất
lượng cuộc sống của các thế hệ hiện tại, không làm ảnh hưởng đến các thế hệ tương
lai trên cơ sở sử dụng tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái. Trong thực tế,
các yếu tố dân số có ảnh hưởng rất lớn đến tài nguyên thiên nhiên và trạng thái môi
trường. Dân số phù hợp sự phát triển đòi hỏi sự điều chỉnh các xu hướng dân số phù
12
hợp sự phát triển nền KT-XH của đất nước.
Sự phù hợp đó là yếu tố quan trọng kích thích sự phát triển nhanh và bền
vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nâng cao tiềm lực của
lực lượng sản xuất, là yếu tố cơ bản để xóa đói, giảm nghèo, giảm tình trạng thất
nghiệp, giảm tỷ lệ mù chữ, tỷ lệ suy dinh dưỡng, nâng cao trình độ học vấn, nâng
cao vị thế của người phụ nữ, giảm rủi ro về môi trường, mở rộng dịch vụ y tế, xã
hội và huy động nguồn lực đầu tư cho phát triển sản xuất, kinh doanh, khoa học và
tốc độ gia tăng dân số và đầu tư phát triển kinh tế mạnh hơn vào những vùng nghèo thì
sự chênh lệch về khoảng cách giàu nghèo ở nước ta sẽ ngày càng lớn.
Trên đây là những tác động của dân số đến phát triển kinh tế. Nhận rõ tác
động to lớn này, cần đẩy mạnh nghiên cứu trong lĩnh vực xây dựng và thực hiện
chính sách dân số nhằm sớm hạ thấp mức sinh, ổn định quy mô dân số, phân bố dân
cư hợp lý và nâng cao chất lượng dân số nhằm phát triển bền vững đất nước.
2.1.3 Các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta đối với công tác DSKHHGĐ
Giai đoạn 1961 - 1975:
Trong giai đoạn này, đất nước tạm bị chia cắt, hoà bình được tái lập ở
miền bắc, hiện tượng tăng bù dân số sau chiến tranh đã xuất hiện. Chính sách
DS-KHHGĐ giai đoạn này là cuộc vận động “hướng dẫn sinh đẻ” và sau đó là
“sinh đẻ có kế hoạch”, được triển khai ở miền bắc. Thông qua các chính sách
DS-KHHGĐ gồm: Quyết định số 216/CP ngày 26/12/1961 của Hội đồng Chính
phủ về việc sinh đẻ có hướng dẫn; Chỉ thị số 99/TTg ngày 16/10/1963 của Hội
đồng Chính phủ về công tác hướng dẫn sinh đẻ; Quyết định số 94/CP ngày
13/5/1970 của Hội đồng Chính phủ về cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch.
Mục tiêu của cuộc vận động là hướng tới quy mô gia đình 3 con, đẻ thưa, đẻ
muộn nhằm bảo vệ sức khỏe bà mẹ, nuôi dạy con cái được chu đáo, bảo đảm hạnh
phúc và sự hòa thuận của gia đình (Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông, 2011).
Giai đoạn 1975 - 1991:
Sau ngày thống nhất đất nước, số dân cả nước đã tăng gần gấp đôi. Chính
sách DS-KHHGĐ triển khai thông qua Chỉ thị số 265/CP ngày 19/10/1978 của
Hội đồng Chính phủ về đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong phạm
vi cả nước; Chỉ thị số 29/HĐBT ngày 12/8/1981 của HĐBT về đẩy mạnh cuộc vận
động sinh đẻ có kế hoạch trong 5 năm (1981 - 1985); Quyết định số 58-HĐBT ngày
11/4/1984 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập Uỷ ban quốc gia Dân số và
Sinh đẻ có kế hoạch; Quyết định số 162-HĐBT ngày 18/10/1988 của Hội đồng
Bộ trưởng về một số chính sách DS-KHHGĐ
14
được trình Chính phủ,... (Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông, 2011).
15
2.1.3.1 Mục tiêu của công tác DS-KHHGĐ
Công tác quản lý dân số thực chất là điều tiết mức sinh thông qua các hoạt
động chương trình KHHGĐ để tạo ra quy mô, cơ cấu dân số ổn định phù hợp với
điều kiện địa lý, KT-XH của mỗi quốc gia; là cơ sở quan trọng nâng cao chất lượng
dân số và nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ nhu cầu phát triển của đất
nước. Đồng thời thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ còn là cơ sở thực hiện các
chính sách xã hội như thực hiện công bằng xã hội, giải quyết các tệ nạn xã hội, ô
nhiễm môi trường, giảm chi phí do hạn chế được mức sinh, tăng tích luỹ cho xã hội,
là nguồn lực đáng kể để đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho
dân cư (Tổng cục DS-KHHGĐ, 2011b).
Vì vậy làm tốt công tác DS-KHHGĐ, thực hiện gia đình ít con, giảm nhanh tỷ
lệ phát triển dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số là vấn đề rất quan trọng đối với
nước ta. Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện rõ những quan điểm chỉ đạo tại Nghị
quyết Hội nghị lần thứ tư, BCH TƯ Đảng (khoá VII): “Công tác DS-KHHGĐ là bộ
phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề KTXH hàng đầu của nước ta, là yếu tố cơ bản để nâng cao nâng cao chất lượng cuộc
sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội”.
Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hoạch định và thực thi chính
sách dân số quốc gia, nhằm làm giảm mức sinh, mức chết, nâng cao chất lượng dân
số và phân bố dân cư hợp lý. Chính sách dân số hướng tới giảm mức sinh ở nước ta
được đánh dấu bằng Quyết định 216/CP, ngày 26/12/1961 của Hội đồng Chính phủ.
Tại Quyết định này Chính phủ đã sớm thấy được tầm quan trọng của việc kiểm soát
mức sinh và có tầm nhìn chiến lược đối với công tác DS-KHHGĐ, khi xác định mục
tiêu của sinh đẻ có hướng dẫn không chỉ đơn thuần là để hạn chế quy mô dân số, mà
mục đích quan trọng của nó là: "Vì sức khoẻ của người mẹ, vì hạnh phúc và sự hoà
thuận của gia đình, để cho việc nuôi dạy con cái được tốt...”.
quả này đã góp phần giảm bớt chi ngân sách nhà nước cho dịch vụ phúc lợi xã hội
như giáo dục, y tế, trực tiếp góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho
những gia đình thực hiện tốt KHHGĐ (Bộ Y tế, 2013).
Việc thực hiện công tác DS-KHHGĐ ở nước ta đã có tác dụng trực tiếp đối
với việc phát triển kinh tế của đất nước, vì giảm được tỷ lệ gia tăng dân số sẽ góp
phần nâng cao mức tăng trưởng kinh tế. Vì vậy phải tiếp tục nâng cao nhận thức
tiến tới chuyển đổi hành vi của mỗi cặp vợ chồng thực hiện KHHGĐ, xây dựng gia
đình ít con (1 hoặc 2 con) khoẻ mạnh, có cuộc sống ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh
17
phúc tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước.
2.1.3.2 Tổ chức đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ
Để triển khai thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
về công tác DS-KHHGĐ đến các tầng lớp nhân dân, nhất là các cặp vợ chồng trong
độ tuổi sinh đẻ, phải nói đến sự đóng góp tích cực của đội ngũ cán bộ làm công tác
DS-KHHGĐ ở cơ sở. Mạng lưới này bao gồm cán bộ chuyên trách và CTV DSKHHGĐ có ở toàn bộ các thôn, xã, thị trấn trong huyện. Họ luôn nhiệt tình, tích cực
đi tuyên truyền, vận động, tư vấn trực tiếp về DS-KHHGĐ, cung cấp bao cao su,
thuốc uống tránh thai đến từng hộ gia đình. Kiểm tra việc duy trì thực hiện các nội
dung DS-KHHGĐ của các hộ gia đình. Thực hiện chế độ ghi chép ban đầu, thu thập
số liệu, lập báo cáo tháng về DS-KHHGĐ theo quy định, lập các sơ đồ và biểu đồ,
quản lý sổ hộ gia đình về DS-KHHGĐ tại địa bàn quản lý (Bộ Y tế, 2008).
Từ nghiên cứu thực tế cho thấy, tổ chức đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác
DS-KHHGĐ là một trong những thành tố không thể thiếu trong công tác tuyên
truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, nhất là những người trong độ tuổi sinh
đẻ về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về DSKHHGĐ. Họ là những người có vai trò rất quan trọng, trực tiếp đến tận hộ gia
đình để tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thực hiện các quy định của
pháp luật về DS-KHHGĐ, tư vấn vận động các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ
Nguồn: Tổng cục Dân số, 2009
20