MỤC LỤC
Lời cảm ơn
i
Lời cam đoan
ii
Mục lục
iii
Danh mục bảng
v
Danh mục sơ đồ
vi
Danh mục hình
vii
Danh mục các từ vıết tắt
viii
MỞ ĐẦU
1.2.3. Tác hại của ô nhiễm môi trường làng nghề đến sức khỏe cộng đồng,
kinh tế - xã hội
11
1.3. Công tác quản lý môi trường làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh
13
1.3.1. Tình hình quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của tỉnh
13
1.3.2. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ
môi trường
14
1.3.3. Những thay đổi trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
từ khi Luật bảo vệ môi trường ra đời đến nay
1.3.4. Các vấn đề còn tồn tại trong quản lý môi trường tại tỉnh Bắc Ninh
15
17
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
20
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.4.4. Phương pháp chuyên gia
25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
26
3.1. Khái quát chung và tình hình sản xuất giấy tại phường Phong Khê
26
3.1.1. Điều kiện tự nhiên-kinh tế, xã hội của phường Phong Khê
26
3.1.2. Giới thiệu chung về làng nghề giấy ở phường Phong Khê
29
3.2. Hiện trạng môi trường tại làng nghề giấy Phong Khê
33
3.2.1. Hiện trạng môi trường nước
34
3.2.2. Hiện trạng môi trường không khí
3.4.2. Quy hoạch không gian làng nghề gắn với bảo vệ môi trường
65
3.4.3. Tăng cường tổ chức thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề
65
3.4.4. Giải pháp đối với các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng
66
3.4.5. Đẩy mạnh áp dụng cách tiếp cận sản xuất sạch hơn
67
3.4.6. Nâng cao vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý môi trường
68
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
73
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
2.1
Thông tin lấy mẫu quan trắc chất lượng nước
22
2.2
Phương pháp phân tích mẫu nước mặt trong phòng thí nghiệm
23
2.3
Phương pháp phân tích mẫu nước thải trong phòng thí nghiệm
23
2.4
Thông tin lấy mẫu quan trắc chất lượng không khí
24
2.5
Phương pháp phân tích mẫu không khí trong phòng thí nghiệm
24
3.5
36
Kết quả quan trắc môi trường không khí tại làng nghề giấy Phong Khê phường Phong Khê năm 2014
3.6
38
Kết quả quan trắc mẫu trầm tích tại cầu Phong Khê - phường Phong Khê
năm 2014
3.7
39
Thành phần và khối lượng chất thải rắn sản xuất phát sinh tại phường
Phong Khê
40
3.8
Sản lượng giấy các loại tại phường Phong Khê năm 2013
3.9
Ma trận đánh giá vai trò của các bên liên quan trong quản lý môi trường
1.2
Công nghệ sản xuất giấy vệ sinh, giấy hàng mã kèm theo dòng thải
7
1.3
Sơ đồ công nghệ sản xuất giấy kraft kèm theo dòng thải
8
1.4
Bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về BVMT tỉnh Bắc Ninh
13
3.1
Sơ đồ dòng của quá trình sản xuất giấy dó
31
3.2
Quy trình sản xuất giấy bằng máy kèm theo dòng thải
32
3.2 Cơ cấu ngành nghề của người dân tại phường Phong Khê
28
3.3 Khối lượng chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất giấy theo loại hình
sản phẩm năm 2013
42
3.4 Phản hồi của 30 hộ sản xuất tại CCN Phong Khê đối với các văn bản pháp
lý và đội ngũ thực hiện pháp luật về BVMT làng nghề
47
3.5 Ý kiến đánh giá của người dân về hiệu quả của hoạt động tuyên truyền
49
3.6 Hoạt động phân loại rác thải của người dân tham gia sản xuất tại làng nghề
giấy Phong Khê qua 30 hộ điều tra
49
3.7 Phản hồi của người dân về công tác quản lý môi trường tại làng nghề
Phong Khê
50
3.8 Phản ánh của người dân về việc chi trả các chi phí về vấn đề môi trường
Cụm công nghiệp
COD
Nhu cầu oxy hóa học
ĐTM
Đánh giá tác động môi trường
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
ÔNMT
Ô nhiễm môi trường
QCCP
Quy chuẩn cho phép
QLMT
Quản lý môi trường
TN&MT
Tài nguyên và Môi trường
thù của hoạt động sản xuất theo loại hình và ngành nghề sản phẩm.
Tỉnh Bắc Ninh có 62 làng nghề được công nhận, trong đó có 30 làng nghề
truyền thống và 32 làng nghề mới, chủ yếu là các làng nghề giấy, đồ gỗ mỹ nghệ,
gốm sứ, đúc đồng (Bộ TN&MT, 2008). Làng nghề giấy tại phường Phong Khê là
một trong số làng nghề đã phát triển từ lâu đời với các hoạt động sản xuất giấy tái
chế và phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tuy nhiên kéo theo sự phát
triển ấy thì vấn đề môi trường đang là mối lo ngại của các cấp quản lý cũng như
người dân nơi đây. Quá trình sản xuất đã tạo ra một lượng lớn các chất thải, trong
khi công tác quản lý chưa nghiêm ngặt dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ đến môi
trường tại đây. Theo số liệu điều tra của Sở TN&MT tỉnh Bắc Ninh năm 2014, kết
quả phân tích tại các cơ sở sản xuất giấy cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm trong
nước thải vượt nhiều lần so với quy chuẩn cho phép, trong đó chất rắn lơ lửng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
(TSS) vượt từ 5 đến 107 lần; đặc biệt các hóa chất đặc trưng vượt từ 7 đến 21 lần;
khối lượng chất thải rắn (CTR) phát sinh trong 1 ngày từ các cơ sở sản xuất, kinh
doanh dịch vụ và hoạt động sinh hoạt của người dân địa phương tại phường Phong
Khê khoảng 60 – 65 tấn bao gồm cả chất thải nguy hại. Vì vậy, làm thế nào để quản
lý môi trường làng nghề tái chế giấy hiện nay một cách tốt nhất và hiệu quả nhất
đang là một nhu cầu cấp thiết đặt ra.
Trước thực trạng trên, bảo vệ môi trường làng nghề là vấn đề được quan tâm
của cả xã hội. Nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước đã ban hành đề cập đến vấn đề
này, như: Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc
gia đến năm 2010 định hướng đến năm 2020 và các văn bản khác như: Nghị định số
66/2006/NĐ-CP ngày 7-7-2006 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển ngành nghề
nông thôn; Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26-12-2011 Quy định về bảo vệ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Làng ngh
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản
phẩm được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm trao đổi, góp
phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dư thừa lúc nông nhàn.
Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng ngàn năm, song song với quá
trình phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nước. Ví dụ như làng
đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát Tràng
(Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại, nghề chạm bạc ở Đồng Xâm (Thái Bình) hay nghề
điêu khắc đã mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng) cũng đã hình thành cách đây hơn 400
năm,…Nếu đi sâu vào tìm hiểu nguồn gốc của các sản phẩm từ các làng nghề đó, có
thể thấy rằng hầu hết các sản phẩm này ban đầu đều được sản xuất để phục vụ sinh
hoạt hàng ngày hoặc là công cụ sản xuất nông nghiệp, chủ yếu được làm trong lúc
nông nhàn. Kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm ra các sản phẩm này
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
1.1.2. Làng nghề tái chế phế liệu
Chủ yếu các làng nghề mới hình thành, số lượng ít nhưng lại phát triển nhanh
về quy mô và loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy, nhựa, vải đã qua sử dụng).
Ngoài ra, các làng nghề cơ khí chế tạo và đúc kim loại với nguyên liệu chủ yếu là
sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng được xếp vào loại hình làng nghề này. Đa số các làng
nghề nằm ở phía Bắc, công nghệ sản xuất đã từng bước được cơ khí hóa.
1.2. Làng nghề giấy và vấn đề ô nhiễm môi trường
1.2.1. Tổng quan về làng nghề giấy ở Việt Nam
1.2.1.1. Giới thiệu chung về làng nghề giấy
các sự cố làm tăng các rủi do về mặt môi trường cũng như hạn chế tính hiệu quả
kinh tế trong quá trình tiêu hao nguyên liệu.
• Nhận thức của người dân đối với việc BVMT cũng như ý thức về sức khỏe
của bản thân chưa cao, chưa ý thức rõ ràng các tác động của các chất gây ô nhiễm do
sản xuất ảnh hưởng tới sinh hoạt và cuộc sống của con người (Đặng Kim Chi, 2008).
1.2.1.3 Quy trình công nghệ sản xuất giấy
Các sản phẩm chính của các làng nghề tái chế giấy bao gồm: Giấy dó, giấy
vệ sinh, giấy ăn, giấy vàng mã, giấy kraft.
Quy trình sản xuất giấy dó
Nguyên liệu để sản xuất giấy dó chủ yếu là vỏ dó. Nguyên liệu phụ gồm có
nhựa thông, vôi, giấy mò.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Vỏ dó
Than, nước
nước vôi đặc,
nước
nước sạch
nhựa thông,điện
Khói lò (SO2, CO, NOx..)
Nước thải,
Chất thải rắn (xỉ than)
Nấu
Ngâm
Phơi giấy
Bóc, xếp
bụi, giấy rách lề
bụi, giấy vụn
Ép, cắt xén
Sản phẩm
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ công nghệ sản xuất giấy dó kèm theo dòng thải.
(Nguồn: Đặng Kim Chi, 2008)
Vỏ dó sau khi mua về sẽ được ngâm nước sau đó cho vào nấu. Sau khi nấu, vỏ
được ngâm tiếp vào nước vôi đặc. Sau khi rửa sạch nước vôi, vỏ được tiến hành
nghiền thành bột sau đó được chuyển vào bể xeo. Trong bể xeo, bột sẽ được hòa với
tỷ lệ thích hợp và đánh tơi để tạo độ mịn và đồng nhất cho mặt giấy. Giá xeo giấy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
thủ công từng tờ, bóc giấy ẩm theo từng tờ và can lên tường để phơi. Sau khi đem
phơi khô tự nhiên cho mềm đều giấy, giấy được phân loại chất lượng, sau đó mang
cán, ép phẳng hay xén…
Công nghệ sản xuất giấy dó mang tính thủ công cao, mặt khác giá thành
của sản phẩm cao, nên thực tế thị trường tiêu thụ cũng không phát triển rộng rãi
như các loại giấy vàng mã, vệ sinh, giấy kraft trong thời gian qua.
Quy trình sản xuất giấy vệ sinh, giấy ăn, giấy hàng mã
Giấy vụn các loại
Sấy khô
Bụi khói
lò
Nước thải
Bột rơi vãi
Xeo
Tiếng ồn, bụi
Xỉ than
Cuộn
Cắt
Bao gói
Tiếng ồn, bụi
Tiếng ồn, bụi, giấy
lỗi, giấy rách
Tiếng ồn, bụi, giấy
lỗi, giấy rách
Sản phẩm
Sơ đồ 1.2: Công nghệ sản xuất giấy vệ sinh, giấy hàng mã kèm theo dòng thải
(Nguồn: Đặng Kim Chi, 2008)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Than
Lò hơi
Tiếng ồn
Nghiền
Hơi nước
Xỉ than
Nước thải
Xeo
Tiếng ồn
Sấy khô
Bụi
Tiếng ồn
Bụi
Giấy cuộn
Sản phẩm
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ công nghệ sản xuất giấy kraft kèm theo dòng thải
(Nguồn: Đặng Kim Chi, 2008)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Phú Lâm
Khê
(tấn/năm)
(tấn/năm)
16.000
20.600
1
Giấy vụn, tre , nứa
2
Nhựa thông
50÷60
60÷70
82
3
Javen
15÷50
10÷15
60
7
Than
500
3.430
3
7.600
3
8
Nước
50-100 m
350.000 m
650.000m3
9
Điện
280 kWh
3.447.600 kWh
Tổng lượng chất thải rắn
81,8
76,5
53,8
212,1
(Nguồn: Đặng Kim Chi, 2008)
Bảng 1.2 thể hiện khối lượng và thành phần CTR phát sinh từ quá trình sản
xuất 1 tấn giấy. Thành phần CTR bao gồm bột giấy, giấy vụn, xỉ than, đinh ghim,
nilon. Lượng CTR phát sinh trong quá trình sản xuất ra một tấn giấy tương đối lớn
(212,1 kg). Trong đó, khối lượng giấy vụn và bột giấy phát sinh là lớn nhất (81,8
kg) và thấp nhất là khối lượng của đinh ghim, ni lông (53,8 kg).
Bảng 1.3: Lượng chất thải rắn phát sinh ở một số làng nghề giấy
tỉnh Bắc Ninh năm 2011
Làng nghề
Loại chất thải rắn
Chất thải rắn sinh hoạt
Lượng chất thải rắn
phát sinh trong 1 ngày
(tấn/ngày)
3,0
Giấy Phong Khê Chất thải rắn từ hoạt động sản xuất giấy
37,0
Tổng chất thải rắn
* Bệnh tật gia tăng, tuổi thọ người dân suy giảm tại các làng nghề ô nhiễm
Trong thời gian gần đây, tại nhiều làng nghề tỷ lệ người mắc bệnh (đặc biệt
là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng tăng cao. Theo các kết quả
nghiên cứu cho thấy, tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng
giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc và so với làng không
làm nghề tuổi thọ này thấp hơn từ 5 - 10 năm.
So sánh giữa các khu vực làng nghề và không làm nghề cho thấy, tỷ lệ mắc
bệnh của các đối tượng làng nghề cao hơn hẳn so với khu vực làng thuần nông.
Điều này cho thấy mức độ ô nhiễm môi trường của làng nghề đã có ảnh hưởng đáng
kể tới sức khỏe cộng đồng dân cư. Mỗi nhóm làng nghề thường có các yếu tố nguy
cơ ô nhiễm môi trường đặc trưng, vì vậy ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đến
người dân cũng khác nhau. Tại các làng sản xuất kim loại, tỷ lệ người mắc các bệnh
liên quan đến thần kinh, hô hấp, ngoài da, điếc và ung thư chiếm tới 60% dân số.
Tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, bệnh phụ khoa chiếm chủ yếu (13
– 38%), bệnh về đường tiêu hóa (8 – 30%), bệnh viêm da (4,5 - 23%), bệnh đường
hô hấp (6 - 18%), bệnh đau mắt (9 – 15%). Tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp ở làng nghề
Dương Liễu 70%, làng bún Phú Đô là 50% (Nguyễn Thị Kim Thái, 2011).
Trong những năm qua, có rất ít các nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ
giữa ô nhiễm môi trường làng nghề và tình hình sức khỏe, bệnh tật của người dân.
Tuy nhiên, kết quả một số ít nghiên cứu điển hình trong thời gian ngắn cũng đã
phản ánh một thực tế khác biệt về tình hình bệnh tật, sức khỏe cộng đồng giữa làng
nghề và làng không làm nghề.
* Ô nhiễm môi trường làng nghề gây tổn thất đối với phát triển kinh tế
Ô nhiễm môi trường do sản xuất và hoạt động xã hội bao giờ cũng gây ra các
thiệt hại kinh tế dù lớn hay nhỏ. Xét riêng về ô nhiễm do sản xuất ở các làng nghề
nước ta hiện nay, các thiệt hại kinh tế chủ yếu là:
- Ô nhiễm môi trường làng nghề gây tác hại xấu tới sức khỏe người lao động
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Xung đột giữa cộng đồng làm nghề và không làm nghề.
-
Xung đột giữa các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và hoạt động
nông nghiệp.
-
Xung đột giữa hoạt động sản xuất, mỹ quan và văn hóa.
-
Xung đột trong hoạt động quản lý môi trường.
Có thể thấy, người dân làng nghề đóng cả hai vai trò người làm hại môi
trường và người bị hại. Trong nhiều trường hợp, người bị hại lại bị ràng buộc bởi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
những quan hệ kinh tế hoặc quan hệ huyết thống với người gây hại môi trường. Để
giải quyết các mâu thuẫn này, tại nhiều làng nghề người dân đã dùng biện pháp thỏa
hiệp hoặc đối thoại (Ngô Đồng, 2008).
1.3. Công tác quản lý môi trường làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh
1.3.1. Tình hình quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của tỉnh
* Khái quát sơ bộ về bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về BVMT tỉnh Bắc
Ninh
có những chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả ban đầu.
- Công tác quản lý môi trường đang từng bước đi vào hoạt động có nề nếp và
ngày càng hiệu quả.
- Sự phối kết hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan ngày càng chặt chẽ
và đạt hiệu quả.
- Hoạt động thanh tra, kiểm tra ngày càng được tăng cường và có chiều sâu.
(Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, 2013).
b, Khó khăn
- Hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường chưa đồng
bộ nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện; công tác
triển khai các văn bản quy phạm còn chậm.
- Kinh phí đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường chưa tương xứng với tốc
độ phát triển kinh tế, xã hội.
- Vai trò chỉ đạo điều hành của hệ thống chính quyền các cấp chưa có sự
phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn.
- Hệ thống bộ máy quản lý môi trường cấp huyện mới được hình thành nên
chưa phát huy tác dụng. Cấp xã không có cán bộ chuyên trách về môi trường mà
đang kiêm nhiệm, chưa được đào tạo về lĩnh vực chuyên môn.
- Tình trạng ô nhiễm môi trường đang có chiều hướng gia tăng cả về mức độ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
và phạm vi. Đặt biệt là các làng nghề truyền thống, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất
và đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư.
- Công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực môi trường đối với các doanh
nghiệp thuộc các cụm công nghiệp và làng nghề chưa phát huy được hiệu lực.
- Số lượng cán bộ làm công tác quản lý môi trường các cấp còn thiếu, chưa
đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ môi trường đặt ra (Sở Tài nguyên và Môi
khoảng tiền phạt và chia khoảng tải lượng chất thải quá rộng; nhiều điểm quy định
mức phạt mang tính định tính; cách tính số lần vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép đối
với các hành vi gây ô nhiễm không đảm bảo tính khoa học; thiếu quy định và chưa
phân định rõ về thẩm quyền xử phạt của một số chức danh theo quy định của Luật
Thanh tra năm 2010; mức xử phạt quy định còn thấp, chưa tương xứng với hành vi vi
phạm; một số điều khoản bị chồng chéo, đã được quy định trong các nghị định xử
phạt thuộc các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày
14/11/2013 của Chính phủ đã bổ sung và giải quyết cơ bản các nội dung còn thiếu và
bất cập của Nghị định số 117/2009/NĐ-CP .
Cũng như các địa phương khác trong cả nước, tình trạng ô nhiễm môi trường
tại các cụm công nghiệp, làng nghề truyền thống đang có chiều hướng ngày càng
gia tăng. Nhằm ngăn chặn, từng bước hạn chế và tiến tới cải thiện chất lượng môi
trường khu vực nông thôn; Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu với UBND
tỉnh Bắc Ninh ban hành Quy chế bảo vệ môi trường làng nghề, khu công nghiệp vừa
và nhỏ (Tại Quyết định số 48/2008/QĐ-UBND ngày 09 tháng 4 năm 2008). Theo
Quy chế này trách nhiệm bảo vệ môi trường của ngành điện, ngân hàng đã được
đưa vào và phát huy hiệu quả (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2011).
c, Những thành tựu đạt được qua thay đổi công tác quản lý
- Sự quan tâm của cấp uỷ và chính quyền các cấp trong việc bảo vệ môi
trường ngày càng được nâng lên, cụ thể: quy hoạch phát triển kinh tế của tỉnh, các
địa phương đã có sự lồng ghép với hoạt động bảo vệ môi trường; nguồn kinh phí sự
nghiệp môi trường ngày càng tăng; hoạt động điều tra, đánh giá hiện trạng các thành
phần môi trường từng bước được triển khai; hoạt động bảo vệ môi trường đã trở
thành một trong các tiêu chí trong bình xét thi đua khen thưởng; các điểm ô nhiễm
môi trường trọng điểm đã được ưu tiên đầu tư xử lý; cơ chế tiếp nhận các nguồn tài
trợ, viện trợ của các tổ chức quốc tế được cởi mở.
- Nhận thức về bảo vệ môi trường của người dân và chủ các doanh nghiệp
được nâng lên, pháp luật môi trường ngày càng đi vào cuộc sống của mỗi người dân
và từng doanh nghiệp.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
nghề đều không có cơ sở hạ tầng.
- Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực môi trường đối với các doanh
nghiệp thuộc các cụm công nghiệp và làng nghề chưa phát huy được hiệu lực.
* Công tác quy hoạch các khu/CCN tập trung cho làng nghề còn nhiều vấn
đề tồn tại
Để hạn chế ô nhiễm môi trường, tỉnh Bắc Ninh đã có chủ trương xây dựng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17
CCN làng nghề hoặc khu sản xuất tập trung như CCN Phong Khê, Phú Lâm, Đại
Bái... Tuy nhiên, cho đến nay không nhiều CCN làng nghề được thành lập. Mặt
khác, do chính quyền cấp huyện, xã làm chủ đầu tư, nên trong quá trình triển khai
gặp rất nhiều khó khăn về công tác quy hoạch, chiến lược phát triển...Hầu hết, cơ
sở hà tầng trong các khu/CCN mới chỉ dừng lại ở việc cấp điện, hệ thống giao
thông nội bộ đơn giản...và hầu hết không có quy định về BVMT, không có hệ
thống xử lý nước thải tập trung.
Tại một số CCN tập trung như Đại Bái, Phong Khê..., các hộ sản xuất không
chỉ di chuyển bộ phận sản xuất mà lại di chuyển cả gia đình. Điển hình như CCN
Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn đã xuất hiện cả một khu phố với những biệt thự 3,4 tầng
kiêm rất nhiều chức năng (nơi ở, sản xuất và trưng bày sản phẩm). Vì vậy, CCN
trông giống như khu giãn dân và thực chất là việc mở rộng ô nhiễm.
Bên cạnh đó, Ban quản lý chủ yếu cấp đất, còn các cơ sở sản xuất phải
chịu trách nhiệm di dời, xây dựng hệ thống nhà xưởng và hệ thống điện nước.
Các cơ sở sản xuất nhỏ vì vậy gặp rất nhiều khó khăn về tài chính và vì không có
quy định cưỡng chế nên họ cơ bản trong công tác BVMT đối với làng nghề vẫn
tiếp tục sản xuất ở cơ sở cũ mà không vào khu tập trung (Ủy ban nhân dân tỉnh
Bắc Ninh, 2008).
* Chưa phát huy được năng lực cộng đồng trong bảo vệ môi trường
từng nhóm đối tượng; hoạt động tuyên truyền chưa được tiến hành một cách hệ
thống, thường xuyên, liên tục trên diện rộng, bao phủ khắp các nhóm đối tượng
khác nhau. Vai trò của các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội cũng như người dân
chưa được đề cao đúng mức. Khi cộng đồng hiểu được vai trò và tầm quan trọng
của họ trong việc bảo vệ môi trường thì họ sẽ hành động có ý thức hơn, giúp nâng
cao sự quan tâm và tinh thần trách nhiệm của người dân đối với môi trường (Sở Tài
nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh, 2012).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 19