NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ TỔN HẠI VỀ SỨC KHỎE DO NGẬP ÚNG GÂY RA Ở QUẬN BÌNH THẠNH TP.HỒ CHÍ MINH - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ TỔN HẠI VỀ
SỨC KHỎE DO NGẬP ÚNG GÂY RA Ở QUẬN BÌNH THẠNH
TP.HỒ CHÍ MINH

HOÀNG VĂN NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 06/2009


Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Nghiên cứu tình trạng
và đánh giá tổn hại về sức khỏe do ngập úng gây ra ở quận Bình Thạnh
TP.HCM” do Hoàng Văn Nam, sinh viên khóa 2005 – 2009, ngành Kinh Tế Tài
Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày
_____________________________.

TS. Đặng Thanh Hà
Người hướng dẫn,

____________________________
Ngày
tháng
năm

Xin chân thành cảm ơn!
TP. Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 6 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Hoàng Văn Nam


NỘI DUNG TÓM TẮT
HOÀNG VĂN NAM, Khoa Kinh Tế, Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí
Minh. Tháng 6 năm 2009. “Nghiên Cứu Thực Trạng Và Đánh Giá Tổn Hại Về Sức
Khỏe Do Ngập Úng Gây Ra ở Quận Bình Thạnh Thành Phố Hồ Chí Minh”
HOANG VAN NAM, economic faculty, Nong Lam University of Ho Chi
Minh city. June 2009.”Stydying the situation and accessing health damages caused
by waterlog in Binh Thanh district – Ho Chi Minh city “

Sự đô thị hóa và công nghiệp hóa đang phát triển mạnh mẽ tại Thành phố Hồ
Chí Minh và đặc biệt là những quận có tốc độ phát triển cao như quận Bình Thạnh, đã
khiến cho các vấn đề môi trường của vùng trở nên gay gắt hơn và đặt ra hàng loạt
những thách thức to lớn cần phải giải quyết trên bước đường phát triển bền vững.
Trong quá trình phát triển chung của xã hội, cùng với việc gia tăng dân số thì
nhu cầu về nhà ở đã tăng mạnh làm thu hẹp dần diện tích đất nông nghiệp, việc bê
tông hóa các yếu tố mặt đệm đã làm giảm khả năng thấm của nước xuống đất, sự lấn
chiếm kênh rạch và thiếu ý thức của người dân như vứt rác xuống kênh rạch đã làm
cản trở dòng chảy; bên cạnh đó sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng còn hạn chế, hệ thống
cống thoát nước quá tải ..... đã gây nên hiện tượng ngập úng khi có mưa và triều cao,
gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của quần chúng và đang làm suy thoái dần môi
trường sống.
Vì vậy, việc thực hiện đề tài “Nghiên Cứu Thực Trạng Và Đánh Giá Tổn
Hại Về Sức Khỏe Do Ngập Úng Gây Ra Ở Quận Bình Thạnh Tp.Hcm” là một yêu
cầu cấp bách cả về phương diện môi trường, mỹ quan đô thị cũng như nhu cầu xã hội
tại quận Bình Thạnh. Đề tài đã thu thập và tổng hợp được các số liệu tương đối đầy đủ

1.1. Đặt vấn đề

1

1H

10H

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

3

2H

102H

1.2.1. Mục tiêu chung của đề tài

3

3H

103H

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

3

4H


8H

108H

1.3.4. Phạm vi nội dung nghiên cứu

3

9H

109H

1.4. Cấu trúc khóa luận

4

10H

10H

1.5. Ý nghĩa đề tài

4

1H

1H

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN


2.2.2. Văn hóa - xã hội

9

16H

16H

2.2.3. Giáo dục

14

17H

17H

2.2.4. Kinh tế

14

18H

18H

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

18

19H


23H

3.1.4. Ô nhiễm không khí

123H

22

24H

124H

v


3.1.5. Ô nhiễm môi trường nước

23

25H

125H

3.2. Phương pháp nghiên cứu

29

26H

126H


130H

3.2.5. Phương pháp phân tích hồi qui

29

31H

13H

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

32

32H

132H

4.1. Hiện trạng trong khu vực

32

3H

13H

4.1.1. Tình trạng ngập úng ở quận Bình Thạnh – TP.HCM

32


43

38H

138H

4.2.2. Cơ cấu ngành nghề

45

39H

139H

4.2.3. Thu nhập theo đầu người

46

40H

140H

4.2.4. Sự lựa chọn nơi ở mới

47

41H

14H


145H

4.4. Thiệt hại về phương tiện giao thông

53

46H

146H

4.5. Mức sẵn lòng trả của người dân để cải thiện hệ thống cống rãnh, cải thiện tình
47H

hình ngập úng.

54
147H

4.6. Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của người dân

56

48H

4.6.1. Xác định và nêu các giả thuyết về mối quan hệ các biến trong mô hình

148H

56

53H

4.7. Một số giải pháp chống ngập úng trên địa bàn quận
54H

vi

61
153H

62
154H


CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5H

67
15H

5.1. Kết Luận

67

56H

156H

5.2. Kiến nghị


TNMT

Tài Nguyên Môi Trường

TP.HCM

Thành Phố Hồ Chí Minh

TP

Thành Phố

TB

Trung Bình

PA

Phương Án

GT

Giao Thông

UBND

Ủy Ban Nhân Dân

DT



60H

Bảng 2.4. Tình Hình Thực Hiện Năm 2006 Xuất Nhập Khẩu

160H

17

61H

16H

Bảng 3.1. Giá Trị Giới Hạn Cho Phép của Các Thông Số và Nồng Độ Các Chất Ô
62H

Nhiễm trong Nước Mặt (TCVN 5945-1995).

28

Bảng 4.1 Thu Nhập Bình Quân/Tháng Theo Hộ Gia Đình

162H

46

63H

Bảng 4.2. Ý Kiến Những Người Được Phỏng Vấn Về Sự Lựa Chọn Nơi ở Mới


Bảng 4.6. chi phí bệnh bình quân của một hộ trong năm

167H

52

68H

168H

Bảng 4.7. Mô Tả Lượng Người Và Xe Tham Gia Lưu Thông Khi Có Ngập Và Không
69H

54

Ngập
169H

Bảng 4.8. Tỷ Lệ Mức Sẵn Lòng Trả Của Người Dân Để Cải Thiện Ngập Úng( Mức
70H

Thu Được Tính Trong Năm 2009)

55
170H

Bảng 4.9. Tổng Mức Sẵn Lòng Trả Của Người Dân Quận( Hình Thức Thu Tiền Mặt
71H

Trên Một Năm)

60

75H

Bảng 4.14. Kiểm Tra Dấu Kì Vọng Của Mô Hình
76H

ix

175H

61
176H


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Bản Đồ Hành Chính Quận Bình Thạnh

8

7H

Hình 2.2. Cổng Lăng Lê Văn Duyệt

17H

11

78H


82H

Hình 4.3. Ngập Úng Trên Đường Nguyễn Hữu Cảnh

182H

35

83H

183H

Hình 4.4. Biểu Đồ Nhóm Tuổi Quận Bình Thạnh Qua Cuộc Điều Tra Và Thu
84H

Hình 4.5. Biểu Đồ Trình Độ Học Vấn quận Bình Thạnh

44

85H

Hình 4.6. Biểu Đồ Về Dân Số Trong Tuổi Lao Động Quận Bình Thạnh

184H

45

86H

Hình 4.7. Biểu Đồ Cơ Cấu Ngành Nghề

49
189H


DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Một số hình ảnh về ngập úng trên địa bàn quận Bình Thạnh và TP.HCM
91H

Phụ lục 2: Kết suất mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả
92H

Phụ lục 3: Kết suất các mô hình bổ sung
93H

Phụ lục 4: Kết suất hàm hồi quy nhân tạo
94H

Phụ lục 5: Các kiểm định cho giả thuyết mô hình
95H

Phụ lục 6: Kiểm tra các viphạm giả thuyết trong mô hình
96H

Phụ lục 7: Bảng câu hỏi phỏng vấn
97H

xi



Vương, Kinh Dương Vương, Minh Phụng. Nhiều người và phương tiện đi qua khu vực
này đều "ngán ngẩm" khi gặp mưa lớn. Tại quận Bình Thạnh, các đường Chu Văn An,
Bùi Ðình Túy, Ðinh Bộ Lĩnh, Bạch Ðằng cũng thường xuyên bị ngập nặng do mưa và
triều cường. Ông Huỳnh Văn Bốn, ngụ tại đường Bùi Ðình Túy phàn nàn, nhà ông đã
hai lần nâng nền nhà mà vẫn chưa thoát ngập. Ở khu vực ngã tư Bốn Xã, thuộc quận
Bình Tân, nơi có tốc độ đô thị hóa cao, tình trạng ngập úng còn kinh hoàng hơn. Một
hộ dân trên đường Phan Anh cho biết: Nơi đây trước kia vốn là vùng nông thôn ngoại
thành, nhiều vườn, ao, kênh, rạch, nay bị lấp đi, thay vào đó là hàng trăm căn nhà,
nhiều công trình mới mọc lên theo kiểu mạnh ai nấy làm, trong khi hệ thống thoát
nước chưa được chú ý đúng mức nên cứ mưa xuống là các đường Lê Văn Quới, Phan
Anh, Bình Long lại chìm sâu trong nước cả mét và phải 2-3 ngày nước mới rút hết,
gây khổ cực, phiền phức cho hàng nghìn hộ dân sinh sống ở đây. Khu vực bán đảo
Thanh Ða (Bình Thạnh), đường Mễ Cốc 1, 2 (quận 8), khu Ba Bò (Thủ Ðức) cũng là
những nơi khá "nổi tiếng" vì ngập úng.
Là một quận mắt xích thuộc trunng tâm thành phố, Bình Thạnh cũng đang gặp
rất nhiều vấn đề nan giải vì ngập úng. Với các đường như Nguyễn Hữu Cảnh, Bạch
Đằng…ngập úng đang diễn ra giai giẳng và trầm trọng vào mùa mưa và mỗi khi triều
cường dâng cao gây tổn thất về thời gian, tiền bạc. Mặc dù có rất nhiều dự án cải tạo
với lượng kinh phí khổng lồ nhưng dường như nới đây vẫn chưa có gì là khả quan.
Thực tế đó đã đặt ra cho chính quyền, các ban ngành có liên quan yêu cầu bức thiết là
tìm ra giải pháp thích hợp cho việc xử lí và quản lý vấn đề này. Trong quá trình hoạch
định chính sách, hàng loạt câu hỏi được đặt ra như: đâu là nguyên nhân?, các cơ quan
chịu trách nhiệm thật sự có năng lực hay không?, lòng tin của quần chúng liệu có đặt
hết vào khả năng cũng như kinh nghiệm lẫn các bài học sau những lần ngập trước của
cơ quan chức trách?, kinh phí mỗi lần bỏ ra để xử lí cải tạo là bao nhiêu?, liệu tình
trạng ngập úng có được giả quyết dứt điểm hay mãi chỉ là các biện pháp tạm thời?, tổn
thất về tài sản, sức khỏe, tinh thần của người dân là bao nhiêu và có được cải thiện?...
rất nhiều câu hỏi tương tự như vậy được đặt ra và vẫn chưa có một nghiên cứu rõ ràng
nào có thể trả lời dứt khoát cho những câu hỏi trên.


1.3.4. Phạm vi nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tổn hại về mặt kinh tế, ảnh hưởng tới các mặt tài sản, đất đai,
giao thông, nhưng tập trung chủ yếu và đi sâu về mặt sức khỏe người dân.
3


1.4. Cấu trúc khóa luận
Chương 1. Chương mở đầu
Chương này gồm năm phần đó là đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi
nghiên cứu, ý nghĩa đề tài và cuối cùng là cấu trúc khóa luận.
Chương 2. Tổng Quan
Trình bày tổng quan về tài liệu nghiên cứu, tổng quan về TP.HCM, quận Bình
Thạnh, cùng với những tác động của biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam, tổng
quan về triều cường và sự biến đổi mực nước trên các con sông. Phần tổng quan về tài
liệu nghiên cứu sẽ trình bày về tác giả, năm nghiên cứu, tên đề tài và kết quả của
nghiên cứu đó. Phần tổng quan về quận Bình Thạnh sẽ trình bày về vị trí địa lí, đặc
điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cũng như chất lượng dân số và nguồn nhân lực,
kinh tế - xã hội của quận. Phần tổng quan về TP.HCM sẽ trình bày về tình hình phát
triển kinh tế - văn hóa – xã hội.
Chương 3. Chương nội dung và phương pháp nghiên cứu.
Về nội dung nghiên cứu có các định nghĩa, khái niệm và các vấn đề liên quan
đến đề tài nghiên cứu. Phần phương pháp nghiên cứu trình bày những phương pháp
chủ yếu mà đề tài ứng dụng để tìm ra kết quả chính như dùng giá trị thị trường để tính
toán các tổn hại.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Tiến hành phản ánh thực trạng tại địa điểm nghiên cứu. Sau đó tiến hành đánh
giá tổn hại về giá trị đất đai, giao thông, tài sản, và đi sâu vào vấn đề sức khỏe. Từ đó
tính tổng thiệt hại do ngập nước gây ra. Cuối cùng đề ra các giải pháp, chính sách
thích ứng trên phương diện cả nước và tại địa bàn quận
Chương 5. Chương kết luận và kiến nghị.

Tổng quan là phần thứ hai cũng là phần khá quan trọng của khóa luận. Phần
này sẽ mô tả về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu. Việc hiểu rõ ràng nội dung
của chương này sẽ giúp người thực hiện khóa luận tiến hành điều tra phỏng vấn được
thuận lợi hơn, đồng thời làm nền tảng cho việc kiến nghị sau này. Trong phần này tôi
chủ yếu trình bày về các tài liệu nghiên cứu có liên quan và các đặc điểm cụ thể ở địa
bàn nghiên cứu.
2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu.
Nghiên cứu về vấn đề ngập úng luôn là đề tài nóng, sát với thực tế đang diễn ra
nghiêm trọng trên địa bàn quận Bình Thạnh nói riêng và cả nước nói chung. Nhưng
nó còn khá mới mẻ. Các bài viết trước đây chủ yếu là phóng sự, trực quan trực địa,
quan trắc các động thái của nước sông, mực nước biển và viết ra bài luận mà chưa đi
phân tích sâu vào các vấn đề như kinh tế xã hội, giao thông…Các tài liệu trên thế giới
cũng không nhiều, lí do là thiếu nguồn số liệu thứ cấp sẵn có và khó thu thập. Vì vậy
trong quá trinh thực hiện đề tài tôi tiến hành tham khảo các nguồn tài liệu sau:
Internet, một nguồn cung cấp tài liệu dồi dào
Các bài luận văn liên quan đến đánh giá tổn hại của khóa 30 ngành Kinh Tế
Tài Nguyên Môi Trường, cụ thể gồm:
Nguyễn Thị Tâm, 2008, đánh giá tổn hại và xây dựng chính sách thích ứng khi
mực nước biển dâng lên tại huyện Long Điền tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, mặc dù đề tài
này nghiên cứu ở khía cạnh khác nhưng cũng đã cung cấp cho tôi rất nhiều ý tưởng
cũng như phương pháp khi làm bài đánh giá tổn hại.
Đỗ Thùy Nhân, 2008, đánh giá tổn hại do ô nhiễm kênh rạch Bà Phường Rạch
Dừa TP Vũng Tàu. Kết quả đề tài cho thấy TP Vũng Tàu có vai trò là kênh thoát nước,


chịu ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều từ biển Đông nên chất bẩn không được đẩy xa
xuống hạ lưu, khả năng tự làm sạch nguồn nước bị hạn chế rất nhiều. Bên cạnh đó do
hệ thống thoát nước xuống cấp, cùng với việc phải tiếp nhận nhiều nguồn nước thải
chưa được xử lý, đặc biệt là lượng nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp cùng
với việc vứt rác bừa bãi trên kênh, đã khiến chất lượng nước bị suy giảm nghiêm

Nguồn: pgdbinhthanh.tphcm.googlepages.com/BandoBinhThanh.htm
a) Địa lý
Quận Bình Thạnh nằm về phía Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh. Phía Đông
Bắc giáp với quận 2 và Thủ Đức; ở phía Nam, Bình Thạnh và quận 1 cách nhau bởi
con rạch Thị Nghè; về phía Tây - Tây Bắc giáp với quận Gò Vấp và Phú Nhuận.
Quận Bình Thạnh có sông Sài Gòn bao quanh mạn Đông Bắc. Cùng với sông
Sài Gòn các kinh rạch: Thị Nghè, Cầu Bông, Văn Thánh, Thanh Đa, Hố Tàu, Thủ
Tắc... đã tạo thành một hệ thống đường thủy đáp ứng lưu thông cho xuồng, ghe nhỏ đi
sâu vào các khu vực trên khắp địa bàn Bình Thạnh, thông thương với các địa phương
khác.
b) Khí tượng - thủy văn
Quận Bình Thạnh có khí hậu của miền Đông Nam Bộ, thuộc vùng nhiệt đới gió
mùa, mang tính chất cận xích đạo. Khí hậu được phân làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa

8


bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa trung bình là 1.979 mm/năm. Mùa khô từ
tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Thời tiết có tính ổn định, ít xảy ra thiên tai.
Nhiệt độ trung bình năm: khoảng 270C, biên độ trung bình giữa các tháng
trong năm thấp là điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển quanh năm của
động thực vật.
Độ ẩm không khí: mùa mưa ẩm độ từ 82% đến 84% và mùa khô ẩm độ từ
77% đến 80%.
Chế độ nắng và bức xạ: lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng
140 kcal/cm2/năm, nắng trung bình 6,8 giờ/ngày.
2.2.2. Văn hóa - xã hội
Bình Thạnh là một trong những khu vực có người cư trú khá cổ xưa của thành
phố, nơi qui tụ của nhiều lớp cư dân qua các thời kỳ lịch sử hình thành thành phố Hồ
Chí Minh ngày nay. Ở Bình Thạnh, cho đến nay, hầu như có mặt nhiều người từ Bắc,

11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

ĐƠN VỊ HÀNH
CHÍNH
Phương 1
Phương 2
Phương 3
Phương 4
Phương 5
Phương 6
Phương 7
Phường 11
Phường 12
Phường 13
Phường 14
Phường 15
Phường 16
Phường 17
Phường 18
Phường 19
Phường 20

(người)
15.605
15.063
25.677
12.862
11.2
13.879
24.65
28.664
15.392
11.312
19.45
22.429
16.111
23.236
19.441
19.946
27.733
23.039
23.631
5.099
46.4397

Nguồn: phòng dân số quận Bình Thạnh (2005)
Lao động: Trong tổng nguồn lao động hiện nay thì lao động đang làm việc
luôn chiếm tỷ lệ cao (64,2%) chủ yếu ở khu vực phi nông nghiệp. Điều này phù hợp
với địa bàn đang được đô thị hóa như Bình Thạnh.
Tổ chức hành chính: Toàn quận có 28 phường, với trụ sở UBND quận đặt tại
số 4 đường Phan Đăng Lưu.
b) Lịch sử


12


Hình 2.4. Khu Du Lịch Bình Quới – Thanh Đa

Nguồn: pgdbinhthanh.tphcm.googlepages.com
d) Y tế
Nhân sự :
Cho đến nay đội ngũ cán bộ y tế ở Trung tâm có phát triển hơn trước, hiện có
185 cán bộ, bình quân một cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe cho 2.183 người dân (so với
năm 1994 là 6.800 người dân). Trong đó, có 52 bác sỹ bình quân 1 bác sỹ chăm sóc
sức khỏe cho 7.769 người dân
Trang thiết bị dụng cụ y tế và thiết bị văn phòng :
Trong những năm qua Trung tâm cố gắng tập trung đầu tư cơ sở vật trang thiết
bị cho tuyến điều trị cấp quận và tuyến y tế cơ sở. Hiện nay Trung tâm có máy siêu âm
chẩn đoán, máy X. quang hiện đại, xét nghiệm HIV, nồi hấp dụng cụ theo tiêu chuẩn
vô trùng, xe cấp cứu hiện đại … Đặc biệt tuyến y tế phường có đầy đủ trang bị cụng cụ
như tuyến điều trị ở quận máy hấp ướt, bàn khám phụ khoa, xe đẩy thuốc bằng inox,
dụng cụ hủy kim bằng điện, tủ lạnh, casstte … máy vi tính, máy in EPSON LQ 300 (là
quận đầu tiên của thành phố Hồ Chí Minh trang bị cho tuyến phường), bàn làm việc
bằng ván Okal, ghế quay cho bác sỹ khám chữa bệnh, xây dựng mới và nâng cấp sửa
chữa cho 20/20 trạm y tế phường.
13


2.2.3. Giáo dục
Nhìn chung việc phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo là mặt công tác được
quận đặc biệt quan tâm. Hàng năm quận luôn có sự đầu tư cho việc xây dựng mới
trường lớp, nâng cấp trường học, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tay nghề đội ngũ giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status