Phát triển sản xuất cây vụ đông trên địa bàn huyện tam dương, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục các từ viết tắt

vii

Danh mục hộp

viii

PHẦN I MỞ ĐẦU

1

1.1

Tính cấp thiết của Đề tài

1


4

2.1

4

Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

4

2.1.2 Các cây trồng vụ đông chủ yếu và đặc điểm kinh tế - kỹ thuật

7

2.1.3 Nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất cây vụ đông

10

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất cây vụ đông

11

2.2

14

Cơ sở thực tiễn


Phương pháp nghiên cứu

iv


3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

30

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

31

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

33

3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin

33

3.2.5 Phương pháp ma trận SWOT

33

3.2.6 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

34

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN


Đặc điểm hộ sản xuất cây vụ đông

47

4.2.1 Thông tin chung về hộ điều tra

47

4.2.2 Nguồn lực đất đai của hộ

48

4.2.3 Nguồn lực lao động của hộ

49

4.3

Kết quả sản xuất cây vụ đông ở hộ điều tra

50

4.3.1 Năng suất, diện tích, sản lượng cây vụ đông tại các hộ điều tra

50

4.3.2 Chi phí sản xuất ở các hộ điều tra

51


4.4.6 Thị trường đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm cây vụ đông

63

4.4.7 Những khó khăn trong sản xuất vụ đông theo đánh giá của hộ

66

Giải pháp phát triển sản xuất cây vụ đông huyện Tam Dương

67

4.5

v


4.5.1 Cơ sở để đưa ra giải pháp

67

4.5.2 Các giải pháp phát triển sản xuất cây vụ đông.

69

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

77



: Bình quân

CC

: Cơ cấu

ĐBSH

: Đồng bằng sông Hồng

ĐVT

: Đơn vị tính

GTSX

: Giá trị sản xuất

HĐND

: Hội đồng nhân dân

HQ

: Hiệu quả

HQKT

: Hiệu quả kinh tế


: Quyết định

SXHH

: Sản xuất hàng hóa

SP

: Sản phẩm

SXNN

: Sản xuất nông nghiệp

SL

: Số lượng

TT

: Thị trường

UBND

: Ủy ban nhân dân

VietGAP

: Quy trình thực hành nông nghiệp tốt


25

3.3

Tình hình dân số và lao động huyện Tam Dương qua 3 năm

26

3.4

Diện tích sản xuất cây vụ đông của các xã, thị trấn huyện Tam Dương
năm 2014

31

3.5

Số lượng cán bộ quản lý cấp huyện và xã được điều tra

32

4.1

Diện tích cây vụ đông huyện Tam Dương qua 3 năm

37

4.2


4.7

Diện tích đất sản xuất của các hộ dân năm 2014

49

4.8

Tình hình lao động tại các hộ điều tra

49

4.9

Diện tích, năng suất, sản lượng cây vụ đông tại các hộ điều tra

50

4.10 Diện tích, năng suất, sản lượng cây vụ đông theo từng nhóm hộ

51

4.11 Chi phí sản xuất cây vụ đông năm 2014 của các hộ dân

52

4.12 Chi phí sản xuất cây vụ đông theo nhóm hộ năm 2014

53



DANH MỤC HỘP
Số hộp

Tên hộp

Trang

4.1

Luân canh gối vụ ở xã Vân Hội, huyện Tam Dương

44

4.2

Niềm vui từ cây dưa chuột

55

ix


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của Đề tài
Ở Việt Nam, nông nghiệp được xác định là ngành mũi nhọn trong chiến
lược phát triển nền kinh tế đất nước. Trong những năm qua, ngành nông nghiệp
nước ta đã đạt được nhiều thành tựu lớn, đóng góp một phần quan trọng vào sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Bên cạnh nhiều ngành hàng nông nghiệp có thế

dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực đất đai, lao động và tiền vốn. Cũng giống
như các địa phương khác, việc trồng cây vụ đông trên đất 2 lúa và đất chuyên
màu của huyện được chú trọng vì những loại cây này cho giá trị kinh tế cao hơn.
Nhiều xã trước đây chưa có truyền thống trồng cây vụ đông, trong những năm
qua đã phát triển và trở thành vụ sản xuất chính trong năm.
Bên cạnh những kết quả đạt được sản xuất vụ đông của huyện cũng đã bộc
lộ một số mặt hạn chế: Thứ nhất diện tích cây vụ đông tuy lớn nhưng chưa tương
xứng với tiềm năng đất đai của huyện, vẫn còn những diện tích có khả năng canh
tác cây vụ đông nhưng lại chưa sử dụng tới; Thứ hai việc sản xuất cây vụ đông
trong các hộ dân còn mang tính bị động, sản xuất manh mún, phụ thuộc nhiều
vào điều kiện thời tiết, cơ sở hạ tầng; Thứ ba thị trường đầu ra cho sản phẩm cây vụ
đông còn bấp bênh, chưa có một hệ thống kênh thị trường đồng bộ phục vụ cho việc
tiêu thụ các sản phẩm phụ đông cho nông dân. Ngoài ra các thể chế chính sách,
nguồn lực lao động, vốn sản xuất cũng tác động đến việc sản xuất vụ đông của các
hộ trong huyện.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, để góp phần định hướng cho sản xuất
cây cây vụ đông nhằm nâng cao đời sống của người nông dân trên địa bàn huyện Tam
Dương và các huyện lân cận, rộng khắp Vĩnh Phúc nên tôi thực hiện đề tài: “Phát triển
sản xuất cây vụ đông trên địa bàn huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá tình hình phát triển cây vụ đông và các yếu tố ảnh
hưởng đến sự phát triển đó nhằm đề xuất một số giải pháp để phát triển hơn nữa
sản xuất cây vụ đông trên địa bàn huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

2


1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất cây vụ đông.

hoàn thiện hơn của sự vật. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa
tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Quan điểm này cũng cho rằng, sự phát
triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về
chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại
dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn (Nguyễn Ngọc Long và
Nguyễn Hữu Vui, 2009).
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về phát triển, nhưng các ý kiến đều
cho rằng đó là phạm trù triết học và phát triển được hiểu theo nghĩa chung nhất
đó là việc làm ra nhiều sản phẩm hơn cái vốn có của sự vất hiện tượng, làm
phong phú về chủng loại cũng như thay đổi về chất lượng tùy vào người sử dụng.
Và mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân.
Tóm lại có thể hiểu phát triển là việc tạo điều kiện cho con người sinh
sống ở bất cứ nơi đâu đều thõa mãn các nhu cầu sống của mình, đảm bảo chất
lượng cuộc sống, có môi trường sống lành mạnh, được hưởng các quyền cơ bản
của con người và đảm bảo an ninh, an toàn, không có bạo lực, không có chiến
tranh. Nói cách khác phát triển là việc nâng cao hạnh phúc của người dân, bao
hàm nâng cao các chuẩn mực sống, cải thiện các điều kiện giáo dục, sức khỏe, sự
bình đẳng về cơ hội; đảm bảo các quyền chính trị và công dân là những mục tiêu
rộng hơn phát triển.

4


* Khái niệm về phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh
tế. Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất;
nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế
và xã hội ở mỗi quốc gia (Phạm Ngọc Linh, 2008).
Quá trình biến đổi về lượng là sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh

+ Sản phẩm cận biên (MP) của yếu tố đầu vào thay đổi. Đây là sự biến đổi
lượng đầu ra do tăng thêm chút ít yếu tố đầu vào thay đổi được biểu thị bằng đơn
vị riêng của nó. Khi sản phẩm cận biên bằng 0 thì tổng sản phẩm là lớn nhất.
+ Sản phẩm bình quân (AP) của yếu tố đầu vào thay đổi. Đem chia tổng
sản phẩm có số lượng yếu tố đầu vào thay đổi ta sẽ có AP. Khi một yếu tố đầu
vào được sử dụng ngày một nhiều hơn, mà các yếu tố đầu vào khác không thay
đổi thị mức tăng tổng sản phẩm ngày càng nhỏ đi.
Tóm lại: Sản xuất là hoạt động có mục đích của con người nhằm phối hợp
tối ưu các yếu tố tham gia sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm hữu ích phục vụ cho
nhu cầu con người và xã hội.
Sản xuất trong nền kinh tế thị trường thường trả lời các câu hỏi như: Sản
xuất cái gì?; Sản xuất cho ai?; Sản xuất như thế nào?
* Khái niệm về phát triển sản xuất
Phát triển sản xuất là quá trình vận động của đối tượng sản xuất tiến lên từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, nó
cũng bao hàm việc phát triển về cả mặt lượng và mặt chất của sản xuất (Nguyễn
Thực Huy, 2009).
Phát triển sản xuất cũng được coi là một quá trình tái sản xuất mở rộng,
trong đó qui mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước trên cơ sở thị trường
chấp nhận.
Phát triển sản xuất (PTSX) có thể diễn ra theo hai xu hướng là phát triển
theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu.
PTSX theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng bằng cách mở rộng diện
tích đất trồng, với cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ PTSX không đổi, sử dụng kỹ
thuật giản đơn. Kết quả PTSX đạt được theo chiều rộng chủ yếu nhờ tăng diện
tích và độ phì nhiêu của đất đai và sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên.
PTSX theo chiều rộng bao gồm mở rộng diện tích trong cả vùng, có thể
bao gồm việc tăng số hộ dân hoặc tăng quy mô diện tích của mỗi hộ nông dân,
hoặc cả hai.


ngày. Cây trồng vụ đông chủ yếu là các loại cây cạn và ngắn ngày như : ngô, bí
xanh, đỗ tương, dưa chuột, lạc, khoai lang ... cùng với đó là một số loại rau.

7


b. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật sản xuất cây vụ đông
Cây vụ đông lúc đầu được người dân sử dụng với mục đích cung cấp
lương thực trước lúc giáp hạt, vụ đông chưa thực sự được coi là vụ sản xuất
chính trong năm. Nhưng với trình độ khoa học kỹ thuật tiến bộ, ngày càng có
nhiều giống cây trồng cho năng suất cao, chống chịu tốt với điều kiện khắc
nghiệt của thời tiết, chính vì vậy trong nông nghiệp nước ta chính thức hình
thành thêm một vụ sản xuất mới – vụ đông.
Tuy nhiên để khai thác tối đa tiềm năng của vụ đông giúp cho việc phát
triển sản xuất cây vụ đông đạt hiệu quả cao hơn chúng ta cần phải nghiên cứu
một số đặc điểm cơ bản của cây vụ đông:
- Cây trồng vụ đông chủ yếu là các loại cây cạn và ngắn ngày có đặc tính
sinh lý và sinh hoá khác nhau. Hầu hết những loại cây trồng này có yêu cầu về
thời vụ tương đối nghiêm ngặt và rất dễ bị các loại sâu bệnh hại. Do đó, việc lựa
chọn giống cây trồng cho phù hợp với chất đất của từng vùng và thích nghi với
sự biến động về điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu là hết sức cần thiết. Bên
cạnh đó, các hộ nông dân cần đầu tư thích đáng cho khâu lựa chọn giống tạo ra
một tập đoàn giống đa dạng và phong phú đảm bảo cho nâng cao năng suất cũng
như chất lượng của sản phẩm khi thu hoạch, đồng thời các khâu sản xuất phải
làm đúng và kịp thời để không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển
của cây trồng vụ đông, không ảnh hưởng đến vụ sản xuất kế tiếp (Trần Đức
Toàn, 2008).
- Vụ đông là vụ trồng nhiều loại cây khác nhau, do vậy, các hộ nông dân
cần bố trí cơ cấu cây trồng sao cho phù hợp với sự đầu tư của mình nhằm tạo ra
năng suất cao đáp ứng tốt cho nhu cầu tiêu dùng và có sản phẩm cung ứng cho

nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả (Đinh Văn Đãn, 2002).
- Sản xuất vụ đông là vụ sản xuất còn rất nhiều tiềm năng, nếu được khai
thác đúng đắn hợp lý sẽ đóng góp đáng kể vào chuyển nền nông nghiệp sang sản
xuất hàng hóa, đồng thời đây cũng là vụ sản xuất có nhiều rủi ro:
+ Tiềm năng sản xuất vụ đông gồm: Tiềm năng về diện tích, lao động,
tiềm năng tăng khối lượng hàng hóa, tiềm năng về thu nhập.
+ Rủi ro trong sản xuất vụ đông gồm: Rủi ro về thời tiết, thị trường, công
tác trình độ tổ chức sản xuất: Công tác quản lý, công nghệ…

9


2.1.3 Nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất cây vụ đông
Từ khái niệm, bản chất, vai trò và đặc điểm, cũng như xuất phát từ các
vấn đề thuộc nội dung kinh tế, xã hội và môi trường của phát triển sản xuất
cây vụ đông sẽ cung cấp cho chúng ta nội dung của phát triển sản xuất cây vụ
đông bao gồm các vấn đề:
- Gia tăng về quy mô sản xuất
Đó là sự tăng lên về quy mô diện tích, quy mô các hộ sản xuất cây vụ
đông. Do quỹ đất có hạn nên để gia tăng về quy mô sản xuất cần phải chú trọng
đến việc bố trí các cây trồng hợp lý, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá lớn...
- Gia tăng về năng suất, chất lượng sản phẩm
Trong nghiên cứu phát triển sản xuất cây vụ đông sự gia tăng về năng suất
cây trồng rất cần được quan tâm ngoài ra thị trường tiêu thụ luôn đòi hỏi sản
phẩm có chất lượng, cây vụ đông có đặc điểm đặc thù đó là sản phẩm hàng hóa
có tính thời vụ, có thời gian tích trữ ngắn. Do đó cần có biện pháp thu hoạch, bảo
quản chế biến và tiêu thụ kịp thời để đảm bảo chất lượng sản phẩm.
- Gia tăng hiệu quả kinh tế, thu nhập cho người dân
Để gia tăng hiệu quả kinh tế, thu nhập cho người dân cần đánh giá chi phí
sản xuất để thấy được mức độ đầu tư của người dân trong sản xuất vụ đông: Chi

vào mùa đông gây hại nhiều cho sản xuất. Cây trồng vụ đông là một trong những
đối tượng sản xuất chính của nông nghiệp là những cơ thể sống dựa vào điều
kiện tự nhiên (đất, nước, thời tiết, khí hậu, môi trường...), có quy luật sinh tồn,
phát triển độc lập với ý muốn của con người. Cây vụ đông chỉ phát triển tốt, cho
năng suất và chất lượng cao khi có điều kiện tự nhiên về thời tiết, khí hậu, đất,
nước, phân bón, môi trường phù hợp.
2.1.2.2 Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội
*) Chủ trương chính sách
Các chính sách ban hành của Đảng và Nhà nước liên quan đến phát triển
sản xuất cây vụ đông luôn là một tác động quan trọng nhằm khuyến khích, thúc
đẩy hoặc kìm hãm người dân bảo tồn và phát triển các sản phẩm của ngành. Đó
là một số chính sách như bảo tồn và phát triển ngành trồng trọt nói chung,cây vụ
đông nói riêng. chính sách cho vay vốn sản xuất với lãi suất thấp, chính sách
khuyến khích phát triển, chính sách hỗ trợ người dân trồng cây vụ đông, chính
sách tiêu thụ sản phẩm...

11


Như vậy hệ thống chính sách Nhà nước và các đường lối chủ trương của
Đảng chính là những định hướng trong sản xuất, phát triển cây vụ đông, định
hướng tiêu thụ các sản phẩm, là cơ sở pháp lý, chỗ dựa để người dân tiến hành
sản xuất thông qua việc quy hoạch các vùng sản xuất nhất định.
*) Cơ sở hạ tầng
- Về thuỷ lợi: Hệ thống thuỷ lợi có ảnh hưởng rất lớn tới năng suất, sản
lượng cây trồng vụ đông. Nếu như không chủ động trong vấn đề dự trữ nước
tưới, tiêu thoát nước sẽ không phòng tránh được những rủi do về thời tiết cho sản
xuất cây vụ đông.
- Về giao thông: Hệ thống giao thông thôn xóm ảnh hưởng nhiều đến việc
tiêu thụ sản phẩm, nhất là những sản phẩm hàng hoá tiêu thụ ngắn ngày như một

Giống là yếu tố đầu vào đối với các hộ sản xuất cây vụ đông. Nếu có
nguồn giống tốt, cung cấp đầy đủ với giá cả hợp lý sẽ khuyến khích người dân
đầu tư phát triển sản xuất. Giống là một trong những yếu tố quan trọng quyết
định tới năng suất, chất lượng cây vụ đông. Do đó, để đẩy mạnh phát triển sản
xuất cây vụ đông, cần tháo gỡ khó khăn về giống và có biện pháp hoàn thiện
công tác sản xuất giống cây trồng.
*) Công tác khuyến nông,chuyển giao khoa học kỹ thuật
Công tác khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật ảnh hưởng đến sự
phát triển sản xuất cây vụ đông, khi công tác này thực hiện tốt nó tác động đến
các mặt như sau:
- Tạo ra các giống cây mới có năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn
nhưng vẫn đảm bảo tính truyền thống, bản sắc của chúng nhằm cải thiện thu nhập
từ cây vụ đông cho người dân.
- Làm phương thức trồng trọt ngày càng hiệu quả, áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào nhằm giúp sản phẩm cây vụ đông có chất lượng tốt hơn,
làm tăng lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm cây vụ đông so với sản phẩm của các
địa phương khác.
- Trình độ chuyên môn của người dân ngày càng được nâng cao sẽ làm
cho việc tăng việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất cây vụ đông
làm cho năng suất lao động ngày càng cao.

13


2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất cây vụ đông ở Việt Nam
2.2.1.1 Sự hình thành phát triển cây vụ đông ở Việt Nam
Lúc đầu khi mới đưa vào sản xuất, các cây trồng vụ đông chỉ mang tính
chất tận dụng đất đai, giải quyết nhu cầu lương thực cho người dân trước vụ thu
hoạch lúa. Trải qua hơn 20 năm vụ đông trở thành một vụ sản xuất chính trong năm,

suất đạt 15,09 tạ/ha và sản lượng đạt 298,6 nghìn, năm 2014 diện tích đạt 111,2
nghìn ha, năng suất đạt 21,8 tạ/ha, sản lượng đạt 160 nghìn tấn. Diện tích, năng
suất, sản lượng khoai tây cả nước liên tục tăng trong những năm gần đây. Năm
2010 diện tích là 36,6 nghìn ha với sản lượng là 394, 8 nghìn tấn, đến năm 2014
diện tích đạt khoảng 50 nghìn ha, sản lượng ước khoảng 750 nghìn tấn (Nguyên
Bình, 2014 ).
2.2.2 Kinh nghiệm sản xuất cây vụ đông ở một số địa phương của Việt Nam
* Tại Hải Dương
Ở khu vực đồng bằng sông Hồng, Hải Dương là một trong những địa
phương đi đầu việc mở rộng và thâm canh cây vụ đông. Với 70 nghìn ha đất canh
tác, những năm gần đây, diện tích cây vụ đông ở Hải Dương luôn ở mức hơn 20
nghìn ha. Năm 2009, cả tỉnh gieo trồng 24.715 ha, chiếm 35,3% diện tích đất
canh tác, vượt 105 ha so với kế hoạch và tăng 16% so với vụ đông năm 2008. Để
đạt được kết quả này là do cây vụ đông đang hấp dẫn nông dân chuyển dịch cây
trồng, chuyển đổi mùa vụ. Các huyện có diện tích gieo trồng cây vụ đông lớn
như Gia Lộc, Kinh Môn, Tứ Kỳ, Nam Sách, Kim Thành... (Sở nông nghiệp và
PTNT tỉnh Hải Dương, 2011).
Vụ đông 2010, các địa phương đã tập trung hỗ trợ cho 3 loại cây trồng là:
Ngô nếp, bí xanh, khoai tây. Việc thực hiện các chính sách hỗ trợ đã khuyến khích
mở rộng sản xuất, toàn tỉnh đã gieo trồng được 14.233 ha cây vụ Đông trong đó ngô
534 ha, cà rốt 988 ha, khoai lang, khoai tây 33 ha, đậu tương 10 ha, hành tỏi 3.900
ha, rau các loại 8.768 ha (Sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Hải Dương, 2011).
Để khuyến khích mở rộng sản xuất chuyên canh các loại cây trồng có quy
mô lớn, Hải Dương có chính sách hỗ trợ 50% giá giống cho các loại cây gieo
trồng tập trung với diện tích từ 10 ha trở lên. Mục đích là tạo ra những vùng
chuyên canh có khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, thuận lợi cho việc thu gom,

15



16


đông năm 2006 đã đạt được những kết quả khá tốt, vụ đông 2006 diện tích đậu
tương là 387,4 ha, ngô ngọt 40 ha, năng suất đạt 94,6 tạ/ha, diện tích ớt xuất khẩu
đạt 5,5 ha. Có được kết quả như trên là do có sự chỉ đạo quan tâm của các cấp
ngành, có một số chính sách hỗ trợ cho sản xuất vụ đông phát triển như chính
sách trợ giá vật tư, chính sách đất đai...đồng thời người dân đã tích cực áp dụng
các tiến bộ k học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao
cho gia đình. Vụ đông 2007 Hoa Lư cũng như các địa phương khác trong tỉnh bị
thiệt hại nặng nề sau cơn bão số 4 và số 5 làm cho diện tích vụ đông giảm mạnh,
tuy nhiên nhờ sự hỗ trợ của UBND tỉnh, huyện và các phòng chức năng, Hoa Lư
được hỗ trợ 01 công trình phục vụ tiêu nước và 400kg hạt giống để khôi phục lại
diện tích vụ đông (Sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Ninh Bình, 2011).
Từ năm 2009 đến năm 2012 diện tích vụ đông trên đất 2 vụ lúa tăng
mạnh, đặc biệt là diện tích đậu tương năm 2010 đạt 865,4 ha, ngô ngọt là 60,20
ha. Đến năm 2012 tổng diện tích vụ đông toàn huyện là 1287 ha, trong đó ngô
ngọt là 48,5 ha, chủ yếu là diện tích rau đậu và đậu tương trên đất 2 vụ lúa (Sở
nông nghiệp và PTNT tỉnh Ninh Bình, 2011).
Như vậy có thể nói vụ đông thực sự là vụ sản xuất chính của người dân
Hoa Lư, nó góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn
mới cho toàn huyện.
* Tại Thanh Hóa
Thanh Hóa có diện tích cây vụ đông khá cao,vụ đông trong những năm
qua thực sự trở thành vụ sản xuất thứ 3 của các hộ dân trong toàn tỉnh.
Từ năm 2006 đến nay, vụ đông của tỉnh đã đem lại nhiều giá trị to lớn. Tổng
diện tích vụ đông năm 2006 toàn tỉnh gieo trồng 58816 ha, năm 2010 là 49321 ha và
năm 2011 là 52345 ha. Bình quân giai đoạn 2006 – 2010 tổng diện tích gieo trồng
vụ đông của tỉnh là 52953 ha. Sản xuất vụ đông năm 2012 tuy gặp đôi chút khó
khăn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hỗ trợ của Trung ương và của các cấp, các


Khoai lang

7.300

64,9

47.415

Lạc

1.542

17,4

2.683

Đậu tương

3.467

15,8

5.188

Rau đậu các loại

16.500

116,5

thành vùng chuyên canh tập trung sản phẩm hàng hoá lớn, đảm bảo tiêu chuẩn an
toàn, gắn với chế biến và tiêu thụ, có như vậy vụ đông mới phát triển bền vững và
hiệu quả. Vì vậy tỉnh đã tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp gồm giải pháp về
quy hoạch vùng cho các cây trồng vụ đông. Giải pháp về cơ chế, chính sách phát
triển vụ đông: chính sách hỗ trợ đậu tương giống và giống cho nhóm cây rau quả
xuất khẩu (ớt, ngô ngọt, dưa bao tử, ki tây). Định mức hỗ trợ: 50% giá giống đậu
tương, khoai tây, ớt, ngô ngọt và dưa bao tử tại thời điểm mua giống phục vụ cho
sản xuất vụ đông. Riêng đối với nhóm cây: ớt, ngô ngọt, dưa bao tử, ki tây, nông
dân chỉ được hỗ trợ tiền giống khi UBND huyện hoặc UBND xã ký hợp đồng với
các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để thu mua, bao tiêu sản phẩm. Ngoài ra
thực hiện tốt các giải pháp kỹ thuật, nâng cao chất lượng dịch vụ công và làm tốt
công tác tổ chức chỉ đạo của các cấp, ngành trong tỉnh (Sở nông nghiệp và PTNT
tỉnh Thanh Hóa, 2011).
2.2.3 Các bài học, kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn cho phát triển sản xuất cây
vụ đông
Qua những cơ sở thực tiễn về phát triển cây vụ đông cho thấy:
- Phát triển sản xuất cây vụ đông đang là sự lựa chọn để làm giàu kinh tế gia
đình của khá nhiều hộ nông dân trong giai đoạn hiện nay.
- Cần có sự liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp với nông dân, trong
sản xuất cây vụ đông chú trọng đến nâng cao chất lượng và đảm bảo các tiêu
chuẩn về an toàn thực phẩm. Mở rộng các cơ sở chế biến cây vụ đông nhằm chủ
động khâu tiêu thụ, nâng cao giá trị hàng hóa và tạo thêm việc làm cho khu vực
nông thôn.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status