Thành phần sâu nhện hại đậu bắp, đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp hóa học phòng chống rầy xanh hai chấm amrasca devastans distant năm 2014 2015 tại đông anh, hà nội - Pdf 41

MỤC LỤC
Lờı cam đoan

i

Lờı cám ơn

ii

Danh mục chữ vıết tắt trong luận văn

vi

Danh mục bảng

vii

Danh mục hình ảnh

viii

MỞ ĐẦU

1

1. Tính cấp thiết của đề tài

1

2. Mục đích, yêu cầu của đề tài


1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

4

1.2.1. Thành phần sâu nhện hại cây đậu bắp.

4

1.2.2. Phân bố ký chủ và tác hại của rầy xanh 2 chấm A. devastans

5

1.2.3. Đặc điểm hình thái của rầy xanh 2 chấm A. devastans

7

1.2.4. Đặc điểm sinh học của rầy xanh 2 chấm A. devastans

7

1.2.5. Đặc điểm sinh thái học của rầy xanh 2 chấm A. devastans

8

1.2.6. Biện pháp phòng chống rầy xanh 2 chấm A. devastans

9

1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước



15

2.3. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu và dụng cụ thí nghiệm

15

2.4. Nội dung nghiên cứu

15

2.5. Phương pháp nghiên cứu

16

2.5.1. Phương pháp điều tra thành phần sâu nhện hại và thiên địch của chúng trên
cây đậu bắp.

16

2.5.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài
rầy xanh hai chấm A. devastans

16

2.5.3. Phương pháp điều tra diễn biến mật độ rầy xanh hai chấm A. devastans
dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái tại Quan Âm, Đông Anh, Hà
Nội.

18


24
24

3.1.2. Thành phần sâu và nhện hại trên đậu bắp năm 2014 – 2015 tại HTX Quan
Âm, Đông Anh, Hà Nội

25

3.1.3. Thành phần thiên địch trên cây đậu bắp trồng tại HTX Quan Âm năm 2014
-2015

27

3.2. Đặc điểm gây hại của rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant trên cây đậu
bắp

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

29

Page iv


3.3. Đặc điểm hình thái, sinh học của rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant
trên cây đậu bắp năm 2014 – 2015 tại Đông Anh, Hà Nội

31

3.3.1. Đặc điểm hình thái của rầy xanh hai chấm Amrasca devastans

ẩm đất trồng đậu bắp

44

3.4.3. Diễn biến số lượng rầy xanh hai chấm A. devastans dưới ảnh hưởng của
thời vụ trồng đậu bắp

48

3.5. Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc BVTV trừ rầy xanh hai chấm A.
devastans

49

3.5.1. Khảo sát hiệu lực trừ rầy xanh hai chấm A. devastans của một số loại thuốc
BVTV trong phòng thí nghiệm

48

3.5.2. Khảo sát hiệu lực trừ rầy xanh hai chấm A. devastans của một số loại
thuốc BVTV trên đồng ruộng

50

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

53

1. Kết luận



Công thức

Ha

Hecta

HTX

Hợp tác xã

OD

Độ thường gặp

SD

Độ lệch chuẩn (Standard Deviation)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vi


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Thành phần sâu, nhện hại trên cây đậu bắp năm 2014 – 2015 tại HTX
Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội ................................................................. 26
Bảng 3.2. Thành phần thiên địch trên cây đậu bắp năm 2014 – 2015 tại HTX
Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội ................................................................. 28
Bảng 3.3. Triệu chứng gây hại của rầy xanh hai chấm A. devastans trên lá đậu


DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1. Hình ảnh nuôi sinh học rầy xanh hai chấm trong phòng thí nghiệm.... 17
Hình 2.2. Hình ảnh thử thuốc trong phòng thí nghiệm trừ rầy xanh hai chấm hại
cây đậu bắp ............................................................................................. 21
Hình 2.3. Sơ đồ ruộng thí nghiệm ...................................................................... 22
Hình 2.4. Một vài hình ảnh thử thuốc ngoài đồng ruộng .................................... 23
Hình 3.1. Đặc điểm gây hại của rầy xanh hai chấm A. devastans trên lá cây đậu
bắp .......................................................................................................... 29
Hình 3.2. Hình thái các pha phát dục của rầy xanh hai chấm A. devastans ........ 33
Hình 3.3. Phân bố của rầy xanh hai chấm A. devastans trên cây đậu bắp ở giai
đoạn phát triển thân lá năm 2014 tại Đông Anh, Hà Nội ......................... 35
Hình 3.4. Phân bố của rầy xanh hai chấm trên cây và trên lá đậu bắp ............... 35
Hình 3.5. Phân bố của rầy xanh hai chấm A. devastans trên cây đậu bắp ở giai
đoạn ra hoa – đậu quả năm 2014 – 2015 tại Đông Anh, Hà Nội .............. 36
Hình 3.6. Diễn biến mật độ rầy xanh hai chấm A.devastans dưới ảnh hưởng của
yếu tố công thức luân canh ...................................................................... 44
Hình 3.7. Ảnh hưởng của chân đất trồng tới diễn biến mật độ của rầy xanh hai
chấm A. devastans................................................................................... 46
Hình 3.8. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đậu bắp tới diễn biến mật độ của rầy xanh
hai chấm A. devastans ............................................................................. 48
Hình 3.9. Hiệu lực phòng trừ rầy xanh hai chấm A.devastans của 4 loại thuốc
BVTV trong phòng thí nghiệm................................................................ 50
Hình 3.10. Hiệu lực phòng trừ rầy xanh hai chấm A.devastans của 4 loại thuốc
BVTV trên đồng ruộng ........................................................................... 51

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page viii



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


Tuy nhiên trong quá trình trồng trọt thì trên cây đậu bắp lại bị nhiều loài
sâu hại như rầy xanh hai chấm (Amrasca devastans Distant, sâu khoang
(Spodoptera litura F.), bọ trĩ (Frankliniella intonsa Trybom)…trong đó loài gây
hại thường xuyên nhất là loài rầy xanh hai chấm (Amrasca devastans Dist.),
chúng gây hại chủ yếu và xuất hiện thường xuyên trên đồng ruộng. Trong những
năm qua, việc phòng trừ sâu hại đậu bắp nói chung cũng như rầy xanh hai chấm
nói riêng, người nông dân vẫn sử dụng chủ yếu là biện pháp hóa học. Điều này
không chỉ tốn kém về kinh tế mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người sản
xuất, môi trường, làm mất cân bằng sinh học trong tự nhiên và giảm an toàn nông
sản. Để nhằm tăng năng suất, sản lượng của cây đậu bắp và góp phần hạn chế tác
hại của rầy xanh 2 chấm Amrasca devastans Distant, đồng thời khắc phục những
nhược điểm trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thành phần sâu nhện
hại đậu bắp, đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp hóa học phòng chống
rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant năm 2014 – 2015 tại Đông
Anh, Hà Nội”

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 2


2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Trên cơ sở điều tra thành phần sâu nhện hại và thiên địch của chúng trên



Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Đậu bắp là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, rất dễ trồng đem lại hiệu
quả kinh tế cao hơn so với các cây trồng khác như lúa, ngô...Hiện nay ở nước ta
diện tích trồng đậu bắp chủ yếu ở các tỉnh miền Nam, nhận thấy được lợi ích mà
trồng đậu bắp đem lại mà trong những năm gần đây một số tỉnh khu vực miền
bắc đã tập trung phát triển trồng cây đậu bắp nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cho
người nông dân, đưa mặt hàng đậu bắp thành mặt hàng xuất khẩu như: Vĩnh
Phúc, Hà Nam. Tại Hà Nội diện tích trồng đậu bắp là không đáng kể chủ yếu ở
khu vực Đông Anh, tại Đông Anh diện tích trồng cây đậu bắp còn nhỏ lẻ, chủ
yếu do tự phát của người dân nên cây đậu bắp chưa thực sự phát huy được lợi ích
cũng như lợi thế của nó so với các cây trồng khác.
Trong sản xuất đậu bắp hiện nay, việc khó khăn nhất là phòng trừ các loài
sâu hại đặc biệt là loài rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant. Đây là loài
gây hại chủ yếu và khó phòng trừ nhất trên cây đậu bắp tại khu vực Đông Anh –
Hà Nội. Vì vậy nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái của rầy xanh hai
chấm trên cây đậu bắp nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát sinh, phát
triển của rầy xanh hai chấm trên đậu bắp, từ đó xây dựng biện pháp quản lý
chúng một cách hiệu quả nhằm giảm số lần sử dụng thuốc BVTV mà vẫn đem lại
hiệu quả về kinh tế và môi trường.
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2.1. Thành phần sâu nhện hại cây đậu bắp
Ở Ấn Độ, trên đậu bắp đã phát hiện được 11 loài sâu gây hại, chúng thuộc
6 bộ, trong đó có các loài như: ruồi đục lá Liriomyza trifolii, bọ cánh cứng
Phyllotreta downsei, rầy xanh hai chấm Amrasca devastants, bọ phấn Bemisia
tabasi, rệp bông Aphis gossypii... Trong đó loài rầy xanh hai chấm Amrasca
devastans xuất hiện sớm và gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng của cây đậu
bắp (Sabyasachi et al., 2013). Ở Thái Lan, theo ghi nhận của Sorapong (2013),

và từ lá đến mép lá. Đầu tiên lá bị rầy xanh hai chấm hại trở nên tái xanh, sau đó
chuyển màu vàng và cuối cùng là màu đỏ. Khi rầy xanh hai chấm hại nặng, lá
bông chuyển màu đỏ, không thể hồi phục được. Sau đó lá khô và rụng. Ở giai
đoạn cây bông còn nhỏ, tác hại của rầy xanh hai chấm làm đình trệ sự sinh
trưởng của cây. Khi cây lớn, rầy xanh hai chấm gây hiện tượng rụng nụ, hoa và
quả non, làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng xơ bông (Michael et al.,
2004; Natarajan, 2007; Murugesan và Kavitha, 2010).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


Loài rầy xanh hai chấm thuộc nhóm chích hút là một trong những loài sâu
gây hại nguy hiểm nhất trên nhiều cây trồng của nhiều nước trên thế giới. Theo
CABI (2007), rầy xanh hai chấm Amrasca devastans phân bố và gây hại nghiêm
trọng cho cây trồng như cây thầu dầu (Ricinus communis), thục quỳ (Althaea
rosea), cà gai (Solanum melongena), khoai tây (Solanum tuberosum), dâm bụt
(Hibiscus cannabinus), hướng dương (Helianthus annus), phổ biến ở các nước
thuộc Châu Á: Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Nepal, Myanmar, Philipine, Thái
Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Theo Manuelo and Ronaldo (2012), rầy
xanh hai chấm Amrasca devastans (Dist.) là loài dịch hại nguy hiểm nhất và gây
hại chủ yếu trên các cây họ đậu, bông. Trong vụ khô, rầy tồn tại trên các cây ký
chủ phụ mọc hoang dại (Vennila et al., 2007).
Theo Murugesan and Kavitha (2009), trong những năm gần đây, phạm vi
gây hại của rầy xanh hai chấm Amrasca devastans ngày càng phổ biến chúng
hại từ rau màu tới các loại cây trồng khác. Trên cây cà tím rầy xanh hai chấm A.
devastans đang trở thành loài dịch hại nguy hiểm thứ 2 gây ảnh hưởng trực tiếp
tới sinh trưởng của cây sau sâu đục quả (Sultana et al., 2012; Gopal and
Tarikul, 2014).
Tại Philipine, Manuelo and Ronaldo (2012), cho rằng rầy xanh hai chấm

xanh lá cây nhạt, cánh trước và đỉnh cánh có đốm đen (Vennila et al., 2007).
Theo Jayasimha et al. (2012), trứng rầy xanh hai chấm A. devastant có
hình bầu dục, màu vàng. Ấu trùng các tuổi của rầy xanh hai chấm ấu trùng các
tuổi có màu sắc vàng đến màu vàng xanh. Trưởng thành có kích thước trung bình
khoảng 2,28 mm cánh trước màu xanh lá cây, có hai chấm đen ở đỉnh cánh trước,
đầu màu xanh nhạt, cánh có màu xanh óng ánh.
1.2.4. Đặc điểm sinh học của rầy xanh hai chấm 2 chấm A. devastans
1.2.4.1. Thời gian phát triển của các pha và vòng đời của rầy xanh hai chấm 2
chấm A. devastans
Theo CABI (2007), ấu trùng rầy xanh hai chấm có 5 tuổi với thời gian
phát dục của mỗi tuổi kéo dài 3-5 ngày. Thời gian phát dục của trứng là 5 – 15
ngày, của ấu trùng 8 – 12 ngày và của trưởng thành 14 – 60 ngày. Ở Ấn Độ thời
gian phát dục của trứng trung bình khoảng từ 6,42 ± 0,37 ngày, của trưởng thành
đực trung bình 22,85 ± 1,87 và của trưởng thành cái trung bình 26,66 ± 1,92
ngày, của rầy non trung bình 7,41 ± 0,48 ngày, vòng đời của rầy xanh hai chấm
trung bình khoảng 30,31 ngày (Jayasimha et al., 2012).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 7


1.2.4.2. Sức sinh sản của rầy xanh hai chấm 2 chấm A. devastans
Rầy xanh hai chấm A. devastans đẻ trứng bên trong gân phần mặt dưới
lá, trứng hình bầu dục có mầu hơi vàng. Mỗi rầy đẻ khoảng 17 – 38 trứng
(CABI, 2007).
Theo Jayasimha et al. (2012), ở Ấn Độ, mỗi rầy xanh hai chấm đẻ trứng
vào mô của tế bào tại các điểm như cuống lá, gân lá. Mỗi rầy xanh hai chấm đẻ
khoảng 14 – 20 trứng. Những quả trứng hình bầu dục, màu hơi vàng. Rầy xanh
hai chấm đẻ khoảng 15 trứng, trứng hình cong, dài màu vàng trắng được đẻ trong

thành đều bị các loài thiên địch tấn công, trong đó có loài nhện lớn bắt mồi
Lycosidae (Aranecae). Barrion and Litsinger (1981), cho biết ở Pakistan loài bọ
xít Orius Albidipennis (Anthocoridae: Hemiptera) là loài bắt mồi chủ yếu của rầy
xanh hai chấm hại bông. Ở Ấn Độ, 8 loài nhện bắt mồi được quan sát đóng vai
trò tích cực trong việc hạn chế rầy xanh hai chấm gây hại đó là: Thomisus
katrajghatus Tikader, Neoscona sp., Oxyopes javanus Thorell, Plexippus
paykullii (Aud.), Thomisus sp., Cheiracanthium melanostomum (Thorell),
Oxyopes sp., Peucetia viridana Stoliczka (Rao et al., 1981).
1.2.6. Biện pháp phòng chống rầy xanh hai chấm 2 chấm
1.2.6.1. Biện pháp canh tác
Việc trồng xen đậu bắp với ngô, hướng dương và đậu Hà Lan có ý nghĩa
trong việc dẫn dụ rầy xanh hai chấm, giảm tác hại của rầy xanh hai chấm đối với
cây đậu bắp(Abdul et al., 2011; Mari, 2013).
Việc trồng xen bông với các cây trồng khác làm tăng tính đa dạng hệ sinh
thái nông nghiệp, làm tăng tính đa dạng của khu hệ côn trùng và sẽ làm giảm áp
lực của rầy xanh hai chấm trên cây bông và cây họ đậu. Theo Venkatesan et al.
(1987), mật độ rầy xanh hai chấm trên cây bông trồng xen với đậu xanh, đậu đen
hoa hướng dương thấp hơn so với bông trồng thuần.
Bón phân hợp lý cũng làm tăng khả năng chống chịu của cây bông với rầy
xanh hai chấm. Theo nghiên cứu của Baloch et al. (2013), thì bón quá nhiều đạm
hoặc bón đạm kết hợp với lân sẽ tăng sự phát sinh gây hại của rầy xanh hai chấm
trên đậu bắp so với khi sử dụng biện pháp không bón phân thì trong giai đoạn
đầu rầy xanh hai chấm phát sinh chậm và ít gây hại hơn.
1.2.6.2. Biện pháp sử dụng giống chống chịu rầy xanh hai chấm 2 chấm A.
devastans
Theo Saif et al. (2012), việc sử dụng các giống đậu bắp có nhiều lông trên
mặt lá giúp ngăn cản sự đẻ trứng, hạn chế sự có mặt và gây hại của rầy xanh hai
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 9

Dầu Admire cao hơn dầu Karajan cao hơn dầu Mahogani cao hơn dầu Neem.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


Nghiên cứu về việc ứng dụng các loại thuốc thảo mộc trong phòng trừ rầy
xanh hai chấm trên đậu bắp Solangi et al. (2013), đã tiến hành phòng trừ rầy
xanh hai chấm bằng một số loại thuốc như: Dầu Neem, bột Neem, lá thuốc lá,
dầu neem với chủng vi khuẩn có lợi. Kết quả đã chỉ ra rằng rầy xanh hai chấm bị
chết nhiều nhất bởi dầu nem với chủng vi khuẩn có lợi có hiệu lực cao nhất đạt
78,47% và rầy xanh hai chấm bị chết thấp nhất khi sử dụng lá thuốc lá với hiệu
lực đạt 63,15 %. Hiệu quả trừ rầy xanh hai chấm của các loại thuốc thảo mộc là:
Dầu Neem + Vi khuẩn cao hơn dầu neem cao hơn bột neem cao hơn lá thuốc lá.
Biện pháp hóa học là biện pháp chủ yếu để phòng chống rầy xanh hai
chấm 2 chấm khi mật độ của chúng đạt tới ngưỡng phòng trừ. Ở Nam Ấn Độ, các
giai đoạn cây trồng mẫn cảm với rầy xanh hai chấm đòi hỏi cần phải phun phòng
trừ là 21 và 35 ngày sau khi mọc mầm. Theo Muhammad et al. (2012), đã đánh
giá hiệu lực của 2 thuốc trừ sâu sinh học Biosal và Spinosad với 3 loại thuốc có
hóa chất thường dùng là Imidacloprid, Endosulfan và Profenofos. Kết quả đã chỉ
ra rằng hiệu quả trừ rầy xanh hai chấm của các loại thuốc hóa học là:
Imidacloprid cao hơn Profenofos cao hơn Endosulfan. Hai loại thuốc sinh học có
hiệu quả thấp hơn lần lượt là Biosal cao hơn Spinosad. Tuy nhiên để đảm bảo
hiệu quả cần sử dụng các loại thuốc sinh học và hóa học luân phiên nhau, tùy
từng giai đoạn của cây trồng.
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1.Thành phần sâu nhện hại cây đậu bắp
Hiện nay ở trong nước chưa có các nghiên cứu chuyên sâu về sâu hại trên
cây đậu bắp, các tài liệu đã công bố liên quan đến sâu nhện hại trên đậu bắp còn

rằng rầy xanh hai chấm phát triển và gây hại trên bông vụ khô là nặng hơn trồng
bông trong vụ mưa.
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Thị Hai (1996), rầy xanh hai chấm
Amrasca devastans là một đối tượng thường xuyên có mặt trên bông. Rầy xanh
hai chấm gây hại cho cây bông ở các vùng bông cả trong vụ khô lẫn vụ mưa.
Theo Lương Minh Khôi (1980), vào những thời kỳ bị rầy xanh hai chấm hại
mạnh, tỷ lệ lá bị hại lên đến 100%; mật độ rầy lên tới 500 – 1200 con/100 lá. Khi
nghiên cứu về quan hệ giữa mật độ quần thể của rầy xanh hai chấm và mức độ
gây hại, Nguyễn Thị Thanh Bình (1983) cho biết không có mối quan hệ âm hoặc
dương rõ ràng. Trong cùng điều kiện mùa vụ với mật độ quần thể của rầy xanh
hai chấm cao, có giống bị hại vừa và cũng có giống bị hại nặng. Ngược lại, có

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


giống bông với mật độ quần thể của rầy xanh hai chấm ở mức vừa thì bị hại ở
mức từ vừa đến nặng.
Tác giả Nguyễn Hữu Bình (1990), cho biết, thiệt hại về năng suất bông do
rầy xanh gây ra là tương đối nghiêm trọng, đối với giống nhiễm là 64,4% và với
giống kháng trung bình là 53,6%. Nghiên cứu của Lê Trọng Tình (2001), cũng
chỉ ra rằng, giữa chỉ số cấp rầy hại thấp thì năng suất cao, ngược lạ chỉ số cấp rầy
hại cao thì năng suất thấp. Nguyễn Hữu Bình (1990) cho rằng, trong điều kiện
đất xấu, thiếu ẩm, cây phát triển kém, khô hạn, ánh sáng mạnh, thích hợp cho rầy
xanh hai chấm phát triển gây hại trầm trọng cho bông. Trên những ruộng bông
trồng dày, ít ánh sáng, rầy xanh hai chấm hoạt động kém hơn.
Trứng rầy xanh hai chấm được đẻ trong mô của gân lá, và phần non của
cây. Trứng có dạng hình thoi dài, hơi nhọn ở hai đầu. Dài từ 0,8 – 1,0 mm, trứng
mới đẻ có màu trắng, khi sắp nở có màu vàng trong. Ấu trùng có 5 tuồi, pha

kali có tác dụng tăng khả năng chống chịu rầy của cây bông.
1.3.4.2. Biện pháp giống chống chịu rầy xanh hai chấm 2 chấm A. devastans
Trong điều kiện áp lực rầy cao của Việt Nam, sử dụng các giống bông lá
dày, lá nhiều lông (giống kháng rầy từ trung bình đến khá) có hiệu quả cao trong
việc làm giảm tác hại của rầy xanh hai chấm và kéo dài thời gian phải phun thuốc
đến 40 ngày sau gieo trở đi. Trong khi nếu sử dụng giống bông lá nhẵn thì ngay
giai đoạn cây bông con đã bị rầy xanh hai chấm hại nặng.
Theo Trần Thế Lâm (2007), giống bông VN01- 02 có khả năng kháng rầy
xanh hai chấm rất tốt và tốt hơn hẳn so với giống L18, VN15 đang được trồng
đại trà ngoài sản xuất.
1.3.4.3. Biện pháp hóa học
Đối với các giống bông kháng rầy trung bình và khá, việc phun thuốc hóa
học trừ rầy chỉ được khuyến cáo sử dụng sau khi cây được 40 ngày tuổi (đối với
bông vụ khô) và 60 ngày tuổi (đối với bông trồng vụ mưa). Một số loại thuốc
được khuyến cáo sử dụng luân phiên để trừ rầy xanh hai chấm là các thuốc thuộc
nhóm hoạt chất: Dinotefuran, Imidacloprid, Buprofezin (Phan Văn Tiêu, 2011).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 14


Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu trong phòng được thực hiện tại Trạm BVTV Đông Anh, Hà
Nội, đo kích thước và chụp ảnh rầy tại phòng IPM nhện gié và nghiên cứu ngoài
đồng ruộng được tiến hành tại HTX Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội .
2.2. Thời gian nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10 /2014 – 6/2015.
2.3. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu và dụng cụ thí nghiệm

Sử dụng phương pháp điều tra chung sâu bệnh hại do Cục BVTV quy định
trong QC 01-38:2010/ BNNPTNT. Toàn bộ mẫu sâu nhện hại và thiên địch bắt
gặp trong quá trình điều tra cho vào túi nilông miệng kín sau đó ngâm vào cồn
700, phân loại dưới sự hướng dẫn các thầy cô trong bộ môn Côn trùng. Các thông
tin được ghi chép lại một cách đầy đủ ngày điều tra, địa điểm điều tra, tên thiên
địch.Từ đó xác định được thành phần, độ thường gặp và quy ra mức độ phổ biến
của các loài sâu hại và thiên địch qua các kỳ điều tra.
- Chỉ tiêu theo dõi:
Số điểm bắt gặp cá thể của mỗi loài
Độ thường gặp OD(%) = ------------------------------------------------- x 100
Tổng số điểm điều tra
Ký hiệu mức độ phổ biến:
- : Rất ít phổ biến (OD 25 – 50%)
+++ : Rất phổ biến ( OD >50%)
2.5.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của
loài rầy xanh hai chấm A. devastans
2.5.2.1. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học rầy xanh hai
chấm A. devastans
Tiến hành thu các cá thể rầy xanh hai chấm trưởng thành ngoài đồng
ruộng bằng cách: lồng túi nilong vào các lá có rầy rồi vỗ nhẹ 2 – 3 cái cho rầy
nhảy sang túi, bỏ thêm các lá đậu bắp vào túi rồi sau đó mang về phòng thí
nghiệm. Chuyển rầy trưởng thành vào các lồng mica (các cây đậu bắp sau sạch
được trồng sau 25 ngày cao từ 20 – 25 cm trồng trong lồng cách ly), chuyển mỗi
lồng 10 trưởng thành. Sau 24 giờ hút rầy trưởng thành ra và tiến hành soi dưới
kính. Các lá đậu bắp đã tiếp xúc với rầy được ghi ngày và giữ lại để theo dõi thời
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 16

A.devastans trên cây đậu bắp
Nuôi rầy trong phòng thí nghiệm, khi rầy ở tuổi 3 tiến hành hút rầy xanh
hai chấm bằng ống hút để lây thả trên các cây đậu bắp sạch ở giai đoạn 3 lá thật
được trồng trong hộp mica.
Công thức 1: Thả 10 rầy non tuổi 3 vào lồng mica có cây đậu bắp sạch
Công thức 2: Thả 20 rầy non tuổi 3 vào lồng mica có cây đậu bắp sạch
Công thức 3: Thả 30 rầy non tuổi 3 vào lồng mica có cây đậu bắp sạch
Công thức 4: Đối chứng không có rầy xanh hại
Thí nghiệm lặp lại 3 lần. Tiến hành quan sát sau 3, 5, 7, 10 ngày sau khi
chuyển rầy xanh hai chấm.
Chỉ tiêu theo dõi: Mô tả sự gây hại của rầy xanh hai chấm lên cây đậu bắp
(quan sát sự thay đổi của lá cây đậu bắp sau thời gian thả rầy xanh hai chấm).
2.5.3. Phương pháp điều tra diễn biến mật độ rầy xanh hai chấm A.
devastans dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái tại Quan Âm, Đông
Anh, Hà Nội
2.5.3.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến diễn biến mật độ rầy xanh
hai chấm A. devastans
Chọn ruộng đại diện cho cây đậu bắp xanh trồng trong 2 thời vụ: Vụ xuân
hè (trồng cuối tháng 2 – đầu tháng 3) và vụ thu đông (trồng cuối tháng 10 – đầu
tháng11)
Điều tra định kỳ 7 ngày/ 1 lần trong suốt vụ cây trồng
Điều tra theo phương pháp 10 điểm trên 2 đường chéo góc, mỗi điểm điều
tra 10 lá (3 lá non, 4 lá bánh tẻ và 3 lá già phân bố ở 4 hướng), quan sát cả mặt
trên và mặt dưới lá; thời kỳ có hoa quả quan sát thêm 10 hoa, (quả)/ điểm
Chỉ tiêu điều tra: con/lá (hoa, quả) từ đó xác định thời vụ trồng nào bị rầy
xanh hai chấm hại nặng hơn
2.5.3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của chân đất trồng đậu bắp
Chọn ruộng đại diện cho 2 chân đất trồng đậu bắp: đó là chân đất vàn, và
chân đất vàn trũng, đất ẩm hơn được trồng trong cùng 1 thời vụ, cùng giống.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status