đánh giá các mô hình đầu tư phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá của công ty cổ phần ngân sơn trên địa bàn huyện bắc sơn tỉnh lạng sơn - Pdf 41

MỤC LỤC

Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục bảng

vii

Danh mục sơ đồ

ix

Danh mục viết tắt

x

1

MỞ ĐẦU

1


1.3.1

Đối tượng nghiên cứu

3

1.3.2

Phạm vi nghiên cứu

3

2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÙNG NGUYÊN LIỆU THUỐC LÁ
CỦA DOANH NGHIỆP

5

2.1

Cơ sở lý luận

5

2.1.1

Một số khái niệm liên quan.

Cơ sở thực tiễn

19

2.2.1

Một số mô hình đầu tư sản xuất thuốc lá nguyên liệu trên thế giới

19

iv


2.2.2

Một số mô hình đầu tư phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá ở Việt Nam

2.2.3

Bài học rút ra trong phát triển mô hình đầu tư vùng nguyên liệu thuốc
lá cho công ty cổ phần Ngân Sơn

3

25
27

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU


39

3.2.1

Thu thập số liệu và thông tin

39

3.2.2

Phân tích số liệu

40

3.2.3

Chỉ tiêu chủ yếu dùng trong nghiên cứu và phân tích

41

4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

43

4.1

Khái quát chung về vùng nguyên liệu và các mô hình đầu tư phát triển
vùng nguyên liệu thuốc lá của công ty trên địa bàn huyện Bắc Sơn


Đánh giá phương thức đầu tư của các mô hình

52

4.2.3

Đánh giá hình thức thu mua sản phẩm trong các mô hình đầu tư

56

4.2.4

Đánh giá kết quả đạt được của các mô hình đầu tư

59

4.2.5

Đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình đầu tư phát triển vùng nguyên
liệu thuốc lá của công ty trên địa bàn

4.2.6

67

Đánh giá tình hình vi phạm hợp đồng ký kết trong các mô hình đầu tư
phát triển vùng nguyên liệu của công ty trên địa bàn

v

4.3.4

Giá thu mua sản phẩm

75

4.3.5

Điều kiện khí hậu thời tiết, địa hình

76

4.3.6

Tình hình cạnh tranh trong công tác phát triển vùng nguyên liệu, thu
mua sản phẩm của các công ty khác

76

4.3.7

Các yếu tố khác

77

4.4

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả, hiệu quả mô hình
đầu tư phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá của công ty trên địa bàn
huyện Bắc Sơn

5

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

85

5.1

Kết luận

85

5.2

Kiến nghị

86

TÀI LIỆU THAM KHẢO

88

PHỤ LỤC

89

vi


DANH MỤC BẢNG

công ty cổ phần Ngân Sơn

38

3.5

Số lượng mẫu điều tra

40

4.1

Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng thuốc lá nguyên liệu trên địa
bàn huyện Bắc Sơn

44

4.2

Định mức sử dụng vật tư đầu vào cho sản xuất thuốc lá nguyên liệu

54

4.3

So sánh phương thức đầu tư của mô hình đầu tư trực tiếp và mô hình
đầu tư gián tiếp

55


4.9

Chi phí khâu sơ chế và tiêu thụ của công ty trên địa bàn năm 2014

66

4.10

Kết quả tập huấn chuyển giao kỹ thuật của công ty trên địa bàn năm 2014

67

4.11

So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình đầu tư trực tiếp và mô hình đầu
tư gián tiếp của công ty trên địa bàn năm 2014

4.12

68

So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình đầu tư trực tiếp và mô hình đầu
tư gián tiếp tại các hộ nông dân năm 2014

vii

69


4.13

STT

Tên sơ đồ

Trang

4.1

Cơ cấu tổ chức của mô hình đầu tư và thu mua sản phẩm trực tiếp

49

4.2

Cơ cấu tổ chức của mô hình đầu tư và thu mua sản phẩm gián tiếp

51

4.3

Phương thức đầu tư của mô hình đầu tư trực tiếp và gián tiếp

52

4.4

Sơ đồ tổ chức thu mua sản phẩm thuốc lá theo mô hình đầu tư trực tiếp của
công ty cổ phần Ngân Sơn trên địa bàn huyện Bắc Sơn

4.5


BQLĐNN

:

Bình quân lao động nông nghiệp

BVTV

:

Bảo vệ thực vật

C.N

:

Chi nhánh

CC

:

Cơ cấu

CN-TTCN

:

Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp




:

Hợp đồng

HQKT

:

Hiệu quả kinh tế

HTX

:

Hợp tác xã

LĐNN

:

Lao động nông nghiệp

NLTL

:

Nguyên liệu thuốc lá


UBND

:

Ủy ban nhân dân

x


1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong ngành công nghiệp chế biến muốn tồn tại và phát triển phải gắn với
vùng nguyên liệu, nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất phải được ưu tiên
hàng đầu, ngành thuốc lá cũng không nằm ngoài thực tế đó, sản phẩm nguyên liệu
thuốc lá là đầu vào đóng vai trò hết sức quan trọng cho nền công nghiệp thuốc lá
điếu tồn tại và phát triển.... Có thể nói “Nguyên liệu thuốc lá là xương sống của
ngành công nghiệp thuốc lá điếu, nó quyết định đến sự tồn hưng của ngành thuốc
lá”(Phạm Kiến Nghiệp và Lê Đình Thụy, 1996).
Bên cạnh đó, trong những năm qua ngành thuốc lá đã đem lại hiệu quả đáng
kể cho nền kinh tế, thể hiện ở việc thu hút được khối lượng lớn lao động nông
nghiệp với hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với một số cây trồng nông nghiệp
khác. Thuốc lá nguyên liệu được sử dụng không những cho chế biến thuốc lá điếu
trong nước, mà còn được xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu nguyên liệu liên tục tăng
trong những năm gần đây, góp phần tăng thu ngoại tệ cho đất nước.
Xác định được vị trí vai trò chiến lược của cây thuốc lá trong nền kinh tế,
trong hơn 20 năm qua Ngành thuốc lá Việt Nam đã từng bước đầu tư xây dựng
vùng trồng nguyên liệu khá tập trung về quy mô, chỉ đạo canh tác và chuyển giao
công nghệ mới, năng suất chất lượng thuốc lá dần được cải thiện, đáp ứng nhu cầu
sản xuất thuốc lá điếu trong nước. Công ty Cổ phần Ngân Sơn là đơn vị trực thuộc

trồng mới thiếu cán bộ kỹ thuật quản lý vùng, nông dân thiếu kỹ thuật sản xuất,
chưa có kinh nghiệm. Vì thế người trồng gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất
thuốc lá nguyên liệu.
Ngoài ra, việc xây dựng lò sấy chưa đảm bảo kỹ thuật hoặc rút ngắn thời gian
sấy lá thuốc của các hộ nông dân ảnh hưởng đến chất lượng thuốc lá thương phẩm.
Việc đầu tư cắt khúc trong các giai đoạn (giai đoạn sản xuất cây giống, giai đoạn chăm
sóc đồng ruộng, giai đoạn thu hoạch hái sấy) không thích hợp với nông dân chưa
quen với tính chất sản xuất hàng hóa, nhất là khu vực miền núi. Ngay cả những
nông dân có nhận thức cao và kinh nghiệm truyền thống cũng vi phạm quy trình
đầu tư tiên tiến. Điều này dẫn đến năng suất, chất lượng sản phẩm chưa đạt được
ngưỡng mong muốn. Với mục tiêu nâng cao hiệu quả chương trình đầu tư phát triển
vùng nguyên liệu của Công ty cổ phần Ngân Sơn quản lý cần thiết phải có sự đánh
giá khách quan kết quả đạt được và những tồn tại từ các mô hình đầu tư phát triển

2


vùng nguyên liệu thuốc lá. Đồng thời, đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình và
đề xuất các giải pháp nâng cao kết quả, hiệu quả các mô hình đầu tư phát triển
vùng nguyên liệu thuốc lá. Nhằm góp phần vào việc giải quyết những vấn đề nêu
trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá các mô hình đầu tư phát triển
vùng nguyên liệu thuốc lá của công ty cổ phần Ngân Sơn trên địa bàn huyện Bắc
Sơn - tỉnh Lạng Sơn”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Phản ánh và đánh giá thực trạng các mô hình đầu tư phát triển vùng nguyên
liệu thuốc lá của Công ty Cổ phần Ngân Sơn trên địa bàn huyện Bắc Sơn - tỉnh
Lạng Sơn, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các mô hình
đầu tư phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá của Công ty trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể

Đề tài sử dụng tư liệu phục vụ cho nghiên cứu từ năm 2012 - 2014, đặc biệt
là số liệu năm 2014.
Đề xuất giải pháp đến năm 2020.

4


2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÙNG NGUYÊN LIỆU THUỐC LÁ
CỦA DOANH NGHIỆP
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm liên quan.
2.1.1.1. Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển
Thuật ngữ “đầu tư” có thể được hiểu đồng nghĩa với “sự bỏ ra”, “sự hy
sinh”. Từ đó có thể coi đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái gì đó ở hiện tại (tiền,
sức lao động, của cải, vật chất, trí tuệ) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho nhà
đầu tư trong tương lai. Xét trên giác độ từng cá nhân hoặc từng đơn vị, tất cả những
hành động bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm thu về một lợi ích nào đó
trong tương lai lớn hơn chi phí bỏ ra đều được gọi là đầu tư. Tuy nhiên nếu xét trên
giác độ toàn bộ nền kinh tế thì không phải tất cả những hành động của họ đều đem
lại lợi ích cho nền kinh tế và được coi là đầu tư của nền kinh tế. Đầu tư trên giác độ
nền kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra các tài sản mới cho nền
kinh tế. Các hoạt động mua bán, phân phối lại, chuyển giao tài sản hiện có giữa các
cá nhân, các tổ chức không phải là đầu tư đối với nền kinh tế. Xuất phát từ bản chất
và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại chúng ta có thể phân biệt các loại đầu tư sau
(Nguyễn Thanh Hoàn, 2008):
- Đầu tư tài chính (đầu tư tài sản tài chính): là loại đầu tư trong đó người có
tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước
(gửi tiết kiệm hoặc mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào tình hình
sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư tài sản tài chính không tạo ra tài

Như vậy, đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là quá trình
chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn bằng hiện vật nhằm tạo ra những yếu tố cơ bản
của quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống, tạo ra những tài sản mới, năng
lực sản xuất mới cũng như duy trì những tiềm năng sẵn có của nền kinh tế (Nguyễn
Thanh Hoàn, 2008).
2.1.1.2. Khái niệm về vùng nguyên liệu
Đó là vùng chuyên môn sản xuất một loại sản phẩm hàng hoá chủ yếu trên
cơ sở cầu thị trường và lợi dụng triệt để lợi thế so sánh của mình để sản xuất ra
khối lượng sản phẩm hàng hoá đáp ứng cầu thị trường (Phạm Văn Khôi, 2007).

6


Việc phát triển vùng nguyên liệu là hướng đi đúng đắn để thúc đẩy sản xuất
công nghiệp chế biến và tham gia xuất khẩu nông sản. Chính vì vậy, cần tạo mối
liên kết bền vững giữa sản xuất công nghiệp chế biến và vùng nguyên liệu, để nền
công nghiệp chế biến thực sự trở thành người bạn đồng hành của người dân vùng
nguyên liệu. Các doanh nghiệp chế biến nên làm tốt việc ứng trước vật tư, phân
bón, giống đồng thời tiến hành việc bao tiêu và chế biến sản phẩm cho người
trồng cây nguyên liệu.
2.1.1.3. Khái niệm về đầu tư phát triển vùng nguyên liệu
Là quá trình sắp xếp, bố trí công việc để tiến hành sản xuất nguyên liệu. Nói
một cách cụ thể hơn đó là quá trình xác định số lượng, cơ cấu các yếu tố cần cho
một quá trình sản xuất ra sản phẩm( giống, vốn, phân bón, địa điểm…). Tổ chức sản
xuất nhằm thực hiện đầy đủ yêu cầu của các quá trình sản xuất sản phẩm từ khâu
đầu cho đến khâu tạo ra sản phẩm.
Để tổ chức sản xuất tốt cần tập trung những nội dung chính sau đây:
Xây dựng kế hoạch sản xuất nguyên liệu có thể tiến hành như kế hoạch diện
tích, năng suất, sản lượng, kế hoạch khối lượng sản phẩm và doanh thu dựa trên cơ
sở các yếu tố sản xuất cho phép và nhu cầu của thị trường.

cầu, đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế,
đầu tư thường chiếm khoảng 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên
thế giới. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Khi tổng cung chưa kịp
thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm tổng cầu tăng. Đối với cung, khi thành quả của
đầu tư chưa phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung đặc
biệt là tổng cung dài hạn tăng lên.
• Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế: Sự tác động không
đồng đều về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và đối với tổng cung của nền
kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư dù tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa
là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi
quốc gia. Khi đầu tư tăng khiến cho các yếu tố liên quan tăng theo khi mức tăng
vượt quá giới hạn thì dẫn đến tình trạng lạm phát, khi đó sẽ dẫn đến sẹ trì trệ của
nền kinh tế, ngược lại đầu tư tăng sẽ thu hút lạo động tạo công ăn việc lầm nâng cao
đời sống xã hội. Khi đầu tư giảm các hoạt động diễn ra nguợc lại.
• Đầu tư tác động đến tốc độ phát triển và tăng trưởng kinh tế: Kết quả
nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức độ
trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15-25% so với GDP tuỳ thuộc vào
ICOR( hệ số sử dụng vốn hay hệ số đầu tư tăng trưởng) của mỗi nước.

8


Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư. ở
nước ta do tình trạng kinh tế còn chưa được phát triển nên có hiện tượng thiếu vốn
thừa lao động nên hệ số này thường thấp.Kinh nghiệm cho thấy chỉ tiêu ICOR phụ
thuộc mạnh vào cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong các ngành, các vùng lãnh
thổ cũng như phụ thuộc vào hiệu quả của các chính sách kinh tế nói chung. Thông
thường ICOR trong nông nghiệp thường thấp hơn ICOR trong công nghiệp, ICOR
trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu do tận dụng năng lực sản xuất. Do đó ở
các nước phát triển tỷ lệ đầu tư thấp thường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp. Đối

tiến hành công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự
hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa tạo ra. Các hoạt
động này chính là hoạt động đầu tư đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ
đang còn tồn tại: sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ
sở này bị hao mòn, hư hỏng. Để duy trì được hoạt động bình thường cần định kì tiến
hành sửa chữa lớn hay thay mới các cơ sở vật chất kỹ thuật này hoặc đổi mới để
thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học kỹ thuật và nhu
cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế
cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá nguyên liệu thì việc đầu tư máy
móc nhà xưởng cũng rất quan trọng. Nhưng là đặc thù ngành sản xuất nguyên liệu
nên việc đầu tư phát triển vùng nguyên liệu của công ty là vấn đề sống còn với từng
doanh nghiệp trong ngành. Việc đầu tư vùng trồng nguyên liệu phải tính đến sự ổn
định, bền vững, lâu dài và có sự đầu tư phát triển mới liên tục đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao về sản lượng, chất lượng nguyên liệu phục vụ cho thị trường.
2.1.3. Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật sản xuất thuốc lá nguyên liệu
2.1.3.1. Khái niệm thuốc lá nguyên liệu
Thuốc lá nguyên liệu là một loại thuốc lá, được tạo ra trong suốt quá trình
sản xuất nông nghiệp, được sơ chế bởi công nghệ sấy, phơi nắng hoặc hong gió, tuỳ
theo giống và mục đích sử dụng. Là nguyên liệu chính để cung cấp đầu vào cho các
nhà máy sản xuất thuốc lá điếu và người tiêu dùng (Phạm Kiến Nghiệp và Lê Đình
Thụy, 1996).
2.1.3.2. Một số đặc điểm, yêu cầu kỹ thuật của sản xuất thuốc lá nguyên liệu
* Đất đai, thổ nhưỡng và khí hậu thời tiết:
Thuốc lá là loại cây công nghiệp ngắn ngày dễ trồng và thích nghi trên
những loại đất nghèo dinh dưỡng. Tuy nhiên, đất đai trồng thuốc lá nguyên liệu

10




11


sang giai đoạn lá thuốc hàng hóa phải qua giai đoạn sơ chế: sấy lá thuốc trong lò sấy
khí nóng (đối với thuốc lá Virginia) hay phơi gió (đối với Burley), phơi nắng (đối
với thuốc Oriental).
Vì vậy, người sản xuất ngoài đầu tư vốn cho các giai đoạn trồng còn phải đầu
tư cho xây dựng cơ bản: lò sấy cho thuốc vàng Virginia, nhà phơi cho thuốc Burley,
thuốc lá Oriental, cũng như các chi phí trong quá trình sơ chế như than, củi cho
thuốc lá vàngVirginia, sào cuốn thuốc lá, dây buộc...
Lá thuốc lá nguyên liệu là dạng nông sản khó bảo quản trong điều kiện bình
thường, do khối lượng cồng kềnh dễ hút ẩm nên người sản xuất thường tập trung
gấp cho thị trường ngay sau khi thu hoạch.
Chi phí công lao động để trồng thuốc lá khá cao, trung bình 600 - 650
công/1ha, bao gồm từ khi gieo hạt đến khi thành lá thuốc thương phẩm gấp 2 - 2,5
lần chi phí công đối với lúa và nhiều cây hoa mầu khác. Đây là đặc điểm có thể tạo
ra nhiều việc làm trong nền kinh tế nông thôn.
Chi phí thu mua nguyên liệu, bảo quản, chế biến thành nguyên liệu đủ tiêu
chuẩn cho công nghiệp sản xuất thuốc lá điếu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản
phẩm, thông thường từ 60 - 65%. Tỷ lệ hao hụt trong quá trình này cũng chiếm tỷ lệ
37 - 55% gồm: Thu mua, phân loại, đóng kiện, Bảo quản 5 - 7%; Chế biến dạng
tách cong 28 - 45%; Chế biến sợi 4 - 5% (Nguyễn Văn Hiếu, 2005).
2.1.4. Nội dung đánh giá mô hình đầu tư phát triển vùng nguyên liệu của doanh
nghiệp
2.1.4.1. Đánh giá cơ cấu tổ chức
Đây là yếu tố rất quan trọng trong quá trình quản lý các mô hình đầu tư phát
triển vùng nguyên liệu. Cơ cấu tổ chức của mô hình ảnh hưởng trực tiếp đến việc
quản lý đầu tư gieo trồng trong sản xuất nguyên liệu, cụ thể là: Nếu cơ cấu tổ chức
phù hợp, chặt chẽ, khoa học sẽ phát huy được lợi thế, điểm mạnh của từng nhân tố

xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời hạn chế được việc không thu hồi được
vốn đầu tư.
2.1.4.4. Đánh giá các kết quả đạt được của mô hình
Kết quả phát triển vùng nguyên liệu: Kết quả phát triển vùng nguyên liệu thể
hiện ở các tiêu chí như: Diện tích, năng suất, sản lượng. Trong việc phát triển vùng
nguyên liệu của doanh nghiệp, việc đánh giá kết quả phát triển vùng nguyên liệu là
việc làm cần thiết và nên làm liên tục theo từng năm để có cái nhìn chính xác, đưa
ra được các dự báo về xu hướng. Từ đó có được các định hướng phát triển phù hợp
vùng nguyên liệu cho doanh nghiệp.

13


Chi phí vật tư đầu vào: Các phương án đầu tư khác nhau sẽ có mức chi phí
đầu tư khác nhau, trước khi so sánh về lợi nhuận từng phương án ta cần phải có sự
tổng hợp đánh giá về chi phí bỏ ra đầu tư. So sánh chi phí đầu vào, để thấy được
mức chi phí đầu tư cho từng phương án, giải thích được lý do chi phí phương án
này lại cao hơn phương án kia và với mức chi phí nguồn lực đó thì nên triển khai
theo phương án nào.
Chi phí lao động: Đối với sản xuất nông nghiệp nói chung lao động rất cần
thiết cho mọi quá trình sản xuất. Lao động không chỉ được tính về số lượng mà còn cần
có chất lượng. Trong việc đầu tư phát triển vùng nguyên liệu của doanh nghiệp, số
lượng lao động ảnh hưởng hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp nhưng cũng ảnh hưởng
đến hiệu quả xã hội - phương án nào giải quyết được việc làm cho nhiều lao động
trong xã hội. Do vậy việc đánh giá chi phí lao động trong việc phát triển vùng nguyên
liệu chủ yếu đánh giá về hiệu quả xã hội.
2.1.4.5. Đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình
Hiệu quả kinh tế của mô hình là minh chứng rõ nhất để khẳng định tính đúng
đắn của việc đầu tư vùng nguyên liệu của một doanh nghiệp. Do vậy cần làm rõ
việc mô hình nào có hiệu quả kinh tế cao hơn để tiếp tục mở rộng đầu tư, mô hình

Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,
nhưng chúng ta vẫn không thể phủ nhận một thực tế dù máy móc tối tân đến đâu
cũng không thể thay thế được vai trò của con người trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Máy móc dù hiện đại đến đâu cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức,
trình độ kỹ thuật, trình độ sử dụng máy móc của người lao động. Trình độ lao
động không phù hợp với loại máy móc thiết bị thì hiệu quả sản xuất kinh doanh
đạt được cũng không thể cao được. Vì vậy có thể nói con người là yếu tố quyết
định sự thành công của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó là đội ngũ các nhà quản trị lãnh đạo bằng phẩm chất và năng
lực của mình có vai trò quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự thành bại của doanh
nghiệp. Nhà quản trị phải xác định hướng đi đúng đắn cho doanh nghiệp trong
một môi trường kinh doanh ngày càng biến động. Chiến lược đầu tư phát triển
đúng đắn, hoàn hảo sẽ mang lại cho doanh nghiệp một hiệu quả cao. Định hướng
đúng là cơ sở thực hiện hiệu quả lâu dài của doanh nghiệp. Do vậy cần tổ chức bộ
máy quản trị sao cho phù hợp với yêu cầu doanh nghiệp.
Trong quá trình sản xuất nguyên liệu, các hộ nông dân cũng là lực lượng lao
động quan trọng, họ là người trực tiếp lao động trên đồng ruộng, tiếp thu, nắm bắt

15


những biện pháp kỹ thuật mới của Công ty truyền tải xuống để nâng cao năng suất,
chất lượng làm tăng hiệu quả mô hình đầu tư của DN.
Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của con người trong hoạt động đầu tư phát
triển vùng nguyên liệu là cực kỳ quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả cho DN.
• Yếu tố vốn
Tất cả các doanh nghiệp dù hoạt động trong bất kỳ ngành nghề kinh tế nào
thì mục tiêu theo đuổi hàng đầu vẫn phải là lợi nhuận. Lợi nhuận chỉ có được khi
doanh nghiệp tiêu thụ được nhiều sản phẩm. Để đáp ứng được nhu cầu về số lượng
sản phẩm tiêu thụ, doanh nghiệp phải sản xuất được ra các sản phẩm có chất lượng

liệt, để đạt được thành công, mỗi doanh nghiệp cần có thông tin chính xác về thị
trường, hàng hoá, đối thủ cạnh tranh…để nắm lấy cơ hội, tránh các nguy cơ, rủi ro.
Muốn dành được thắng lợi trong cạnh tranh thì DN phải hiểu rõ mình, đối
thủ cạnh tranh, nắm bắt kịp thời các thông tin, biết cách xử lý, sử dụng thông tin
một cách hợp lý chính xác. Những thông tin này cũng là cơ sở cho việc định hướng
kinh doanh, xây dựng chiến lược. Vì vậy mỗi DN cần xây dựng cho mình một hệ
thống thông tin hợp lý dưới nhiều hình thức khác nhau như mạng lưới thông tin nội
bộ, mạng lưới thông tin liên lạc với các đơn vị trong nước và quốc tế.
2.1.5.2. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
• Môi trường đầu tư kinh doanh
Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh là các yếu tố khách quan mà doanh
nghiệp không kiểm soát được.
- Yếu tố đối thủ cạnh tranh.
Bao gồm các đối thủ cạnh tranh trong hiện tại và tương lai. Các đối thủ cạnh
tranh này sẽ ảnh hưởng đến việc đầu tư phát triển cũng như kế hoạch sản xuất. Cụ
thể là nếu như các đối thủ cạnh tranh mạnh hơn thì việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh càng là vấn đề cấp thiết đối với doanh nghiệp, song cũng rất khó khăn cho
doanh nghiệp. Bởi vì, doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả của mình bằng
cách nâng cao chất lượng , giảm giá thành sản phẩm…. Để đẩy mạnh tiêu thụ tăng
doanh thu, tăng vòng quay vốn nhưng phải cạnh tranh với một đối thủ có ưu thế hơn
mình nên quá trình nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp diễn ra khó khăn.
Như vậy đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu
quả kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời tạo sự tiến bộ trong kinh doanh,
tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp.

17


- Yếu tố thị trường.
Bao gồm thị trường các yếu tố đầu vào và thị trường đầu ra của doanh




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status