MỤC LỤC
Lời cam đoan .......................................................................................................................... i
Lời cảm ơn ............................................................................................................................. ii
Mục lục ................................................................................................................................. iii
Danh mục chữ viết tắt .............................................................................................................v
Danh mục các bảng ............................................................................................................... vi
Danh mục các hình .............................................................................................................. vii
Trích yếu luận văn .............................................................................................................. viii
Thesis abstract....................................................................................................................... ix
Phần 1. Mở đầu .......................................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề ........................................................................................................................1
1.2. Mục tiêu của đề tài ...........................................................................................................2
Phần 2. Tổng quan tài liệu và nghiên cứu ...............................................................................3
2.1. Đặc điểm sinh trưởng của cây thức ăn chăn nuôi ............................................................3
2.1.1. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển.........................................................................3
2.1.2. Đặc điểm sinh trưởng của thân, lá ................................................................................4
2.1.3. Đặc điểm tái sinh trưởng của thân, lá .........................................................................13
2.2. Đặc điểm của cây đậu nghiên cứu .................................................................................15
2.3. Tình hình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi trên thế giới và ở việt nam .................19
2.3.1. Trên thế giới ................................................................................................................19
2.3.2. Ở Việt Nam .................................................................................................................21
Phần 3. Vật liệu nội dung và phương pháp nghiên cứu ........................................................26
3.1. Vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu ....................................................................26
3.2. Nội dung nghiên cứu......................................................................................................26
3.3. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................................26
3.4. Phương pháp xử lý số liệu .............................................................................................32
Phần 4. Kết quả và thảo luận ................................................................................................33
4.1. Điều kiện khí hậu khu vực nghiên cứu ..........................................................................33
4.2. Xác định năng suất và chất lượng thức ăn của giống cỏ stylosanthes guianensis
ciat 184 và stylosanthes guianensis plus...................................................................34
4.2.1. Tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ ...........................................................................................34
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Center of International Tropical Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới
Agriculture
quốc tế
NDF
Neutral Detergent Fibre
Xơ không tan trong chất tẩy
ADF
Acid Detergent Fibre
Xơ không tan trong chất tẩy
ADL
Acid Detergent Lignin
Lignin
CT
Bảng 4.5. Khối lượng chất khô tích lũy của cây đậu (kg/ha/ngày)...................................... 42
Bảng 4.6. Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của cây đậu (trung bình chung 6 lứa cắt).. 44
Bảng 4.7. Mật độ cây và năng suất hạt của cây đậu ............................................................ 46
Bảng 4.8. Chất lượng hạt và chi phí cho sản suất hạt giống ................................................ 48
Bảng 4.9. Năng suất, chất lượng hạt và chi phí cho sản suất hạt giống............................... 50
Bảng 4.10. Năng suất, chất lượng hạt và chi phí cho sản suất hạt giống............................. 53
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Ảnh cây đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 ................................................. 17
Hình 2.2. Ảnh cây đậu Stylosanthes guianensis Plus .......................................................... 18
Hình 4.1. Năng suất chất xanh của cây đậu (tấn/ha)............................................................ 41
Hình 4.2. Năng suất chất khô của cây đậu (tấn/ha) ............................................................. 41
Hình 4.3. Năng suất protein của cây đậu (tấn/ha)................................................................ 42
Hình 4.4. Đồ thị khối lượng chất khô tích lũy của cây đậu (kg/ha/ngày) ............................ 43
Hình 4.5. Ảnh hưởng của khoảng cách hàng trồng đến năng suất hạt (kg/ha) .................... 47
Hình 4.6. Ảnh hưởng của số lứa cắt chất xanh đến năng suất hạt (kg/ha)........................... 52
Hình 4.7. Ảnh hưởng của phương pháp thu hạt đến năng suất hạt (kg/ha) ......................... 54
Hình 4.8. Một số hình ảnh về thu hoạch hạt cỏ ................................................................... 55
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
THESIS ABSTRACT
This study was conducted at the Vietnam National University of Agriculture and
Bavi Cattle and Pasture Research Center from 01/2012 to 04/2014 in order to evaluate
yield, forage quality as well as research on some methods in seed production of
Stylosanthes guianensis CIAT 184 and Stylosanthes guianensis Plus. At the Vietnam
National University of Agriculture legumes grown on 3 plots with 20m2 area of each, also
at the Bavi Cattle and Pasture Research Center legumes grown on 3 plots with 100m2 area
of each. Experimental results showed none significantly differences in yield and forage
quality between 2 legumes. Stylo CIAT 184 and Stylo Plus gave 4-5 harvest/year with
average green matter yield reached 20.41 and 20.02 tonnes/ha/harvest, respectively. The
quantity of dry matter accumulation of 2 legumes in winter-spring was about 40%
compared with the summer-autumn. Two legumes had good forage quality with high crude
protein percentage (16.8 and 16.4%), low crude fiber (24.2 and 25.5%).
For Stylo CIAT 184 and Stylo Plus one cut of green biomass and later to harvest
seed gained a considerable amount of forage and seed yield was higher compared with
treatment not cut or 2 cuts of green biomass. Seed yield in treatment with one cut of green
biomass and later to harvest seed reached 181.4kg/ha for Stylo CIAT 184 and 170.1kg/ha
for Stylo Plus, the cost of producing 1kg seed respectively 303,015 and 321,742 VND.
Although the method with vibrating blossom to harvest ripe seed was not as high-yield
method as nylon cover bottom groove but harvesting method using blossom vibrating was
suitable than method using nylon cover bottom groove and method cutting all the tree at
the time of 45 days after bloom because the cost of producing 1kg seed lowest (68,986 and
76,910 VND, respectively for Stylo CIAT 184 and Stylo Plus).
Keywords: Stylosanthes guinensis CIAT 184, Stylosanthes guianensis Plus, grass
seed production
Key words: Stylosanthes guinensis CIAT 184, Stylosanthes guianensis Plus, forage
seed production
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
thể phát triển để hạn chế việc nhập cỏ khô Alfalfa trong những năm tới. Chính vì
vây, diện tích trồng cũng như số hộ trồng hai giống cỏ này phục vụ chăn nuôi tăng
lên dẫn đến nhu cầu hạt giống cũng tăng lên nhanh chóng.
Tại Việt Nam, vấn đề sản xuất và quản lý chất lượng hạt giống cỏ từ trước đến
nay chưa được quan tâm. Các loại hạt giống cỏ hiện nay cung cấp cho sản xuất đều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
nhập khẩu thông qua một số công ty, chưa có một cơ sở nào sản xuất hạt giống cỏ mà
chủ yếu là tự phát, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún không thể đáp ứng được cho nhu cầu
sản xuất hiện nay.
Để góp phần xây dựng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất
lượng hạt giống và hoàn thiện quy trình sản xuất hạt giống cỏ Stylosanthes guianensis
CIAT 184 và Stylosanthes guianensis Plus phục vụ chăn nuôi, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Đánh giá năng suất, chất lượng thức ăn và nghiên cứu một số
biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt của giống cỏ Stylosanthes guianensis CIAT
184 và Stylosanthes guianensis Plus”.
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định được năng suất, chất lượng của 2 giống cỏ Stylosanthes
guianensis CIAT 184 và Stylosanthes guianensis Plus;
- Đưa ra những biện pháp kỹ thuật thích hợp áp dụng vào sản xuất hạt giống
của 2 giống cỏ Stylothanthes guianensis CIAT 184, Stylothanthes guianensis Plus
đạt năng suất cao, chất lượng tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
những cơ quan sinh sản có chức năng hoàn toàn thay đổi,… Trên mức độ tế bào thì
phân hoá tế bào thành các mô chức năng riêng biệt cũng được xem là quá trình phát
triển của tế bào.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
2.1.2. Đặc điểm sinh trưởng của thân, lá
- Động thái sinh trưởng của thân, lá:
Trong lĩnh vực cây thức ăn chăn nuôi thì phần thân lá được các nhà chăn
nuôi đặc biệt quan tâm vì đây là phần chính sử dụng làm thức ăn cho gia súc. Quá
trình sinh trưởng của thân lá có thể được chia thành 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn sinh trưởng chậm;
+ Giai đoạn sinh trưởng nhanh;
+ Giai đoạn sinh trưởng chậm;
Sau khi nảy mầm trọng lượng vật chất khô của cây sẽ giảm do chất dự trữ ở
hạt được sử dụng trong quá trình nảy mầm. Cây sinh trưởng chỉ dựa vào dinh dưỡng
dự trữ trong hạt nên sinh trưởng của cây lúc này chậm. Cho tới khi những lá xanh
đầu tiên xuất hiện, cây non bắt đầu hoạt động quang hợp, sự sinh trưởng tăng dần
đến khi bộ rễ và bộ lá của cây phát triển tương đối hoàn thiện, khả năng hút dinh
dưỡng trong đất và khả năng quang hợp của cây mạnh thì cây sinh trưởng rất nhanh.
Đến gần giai đoạn trưởng thành thì sinh trưởng giảm dần và ngừng hẳn, cũng có khi
ở giai đoạn này trọng lượng vật chất khô của cây bị giảm đi.
Mặc dù đồ thị sinh trưởng của thân lá cây thức ăn chăn nuôi có dạng hình
chữ S, tuy nhiên độ dài của các giai đoạn sinh trưởng chậm, nhanh, chậm sẽ khác
nhau. Dựa vào sự nghiên cứu đồ thị sinh trưởng để người chăn nuôi quyết định:
+ Thời điểm bón thúc cho cây thức ăn.
+ Thời điểm thu hoạch thích hợp sao cho thu được năng suất và chất lượng
Độ nảy mầm
P:
Độ thuần của hạt
Giá trị này phải đạt ≥ 80% hạt mới được chấp nhận đem sử dụng.
Sức nảy mầm của giống không những phụ thuộc vào bản thân hạt mà còn
vào sự chuẩn bị giống, điều kiện đất và khí hậu. Cỏ Gà (Cynodon dactylon) có thể
để sau 1 tuần kể từ khi cắt mà vẫn giữ được tỷ lệ nảy mầm cao còn cỏ Pangola
(Digitaria decumbens) chỉ sang ngày thứ 2 sau khi cắt tỷ lệ này đã giảm rõ rệt.
Những đoạn hom đầu có tỷ lệ nảy mầm cao nhất và khi tăng số đốt của hom sẽ tăng
tỷ lệ nảy mầm, tuy từ đốt thứ 3 trở đi độ tăng giảm xuống đột ngột.
+ Nhiệt độ
Nhiệt độ là một nhân tố sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đối với sinh vật nói
chung và thực vật nói riêng. Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của
cây, nhiệt độ tăng thì sinh trưởng cũng tăng và nhiệt độ giảm sinh trưởng chậm lại.
Nói chung trong khoảng từ 0 đến 30 - 350C ảnh hưởng của nhiệt độ tới cây trồng
tuân theo quy luật Vant-Hoff. Mặt khác tăng nhiệt độ tới giới hạn nhất định có tác
dụng thúc đẩy quá trình hấp thu chất khoáng của rễ. Nhiệt độ thấp nhất để cỏ nhiệt
đới nảy mầm là 15 - 200C và tối ưu là 25 - 350C. Nhiệt độ tối ưu cho quang hợp ở
cỏ ôn đới là 15 - 200C và ở cỏ nhiệt đới là 25 - 300C.
Nếu như đối với phần lớn các loài cỏ ôn đới nhiệt độ thích hợp nhất để sinh
trưởng (tính bằng sự tăng chất khô hoặc tốc độ sinh trưởng tương đối) nằm trong
khoảng 20 - 250C thì những hoà thảo nhiệt đới và cận nhiệt đới có nhiệt độ sinh
trưởng thích hợp cao hơn. Những loài cỏ như cỏ Cynodon dactylon, Sorghum
sudanense, Paspalum dilatatum… sinh trưởng rất chậm hoặc không sinh trưởng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
tổng số cũng như phân bố của nó quyết định sự thích nghi của một số giống cây
thức ăn gia súc đối với môi trường nhất định nào đó. Sự thay đổi theo mùa của sinh
trưởng do nhiều yếu tố gây ra, nhưng hạn chế nhất cho sinh trưởng trong mùa đông
vẫn là nhiệt độ và ẩm độ mà trong đó nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng ẩm độ là
nhân tố hạn chế nhất. Cho nên tưới nước cho đồng bãi cỏ là một hình thức cân bằng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
trạng mùa nhằm tăng năng suất cỏ và đáp ứng được nhu cầu cho chăn nuôi thâm
canh ở nhiều nước chăn nuôi phát triển, lý do là vì nhờ nước mà cây có thể hút được
chất dinh dưỡng.
Ẩm độ không khí có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cỏ vì ẩm độ
giảm thì cường độ thoát hơi nước tăng và ngược lại. Nước trong đất cần thiết cho
cây trong toàn bộ thời kỳ dinh dưỡng vì nhờ nước mà cây có thể hút chất dinh
dưỡng, đất thiếu nước cây không thể hoạt động mạnh mẽ được, và nếu thừa nước
thì cây có thể bị úng thối vì thiếu ôxy. Vì vậy các chế độ tưới và tiêu nước cũng là
những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sinh trưởng của cỏ.
Cây thức ăn cần nước để sinh trưởng, giữ thân nhiệt và vận chuyển dinh
dưỡng từ đất lên. Không có cây thức ăn nào có thể sinh trưởng tốt trong khi mùa
khô kéo dài, chỉ có một vài loài có thể chịu được môi trường khô hạn hơn những loài
khác mà thôi. Một số loài đậu thân gỗ, như Leucaena leucocephala, có hệ thống rễ ăn
sâu có thể giúp cây lấy nước từ tầng đất sâu hơn. Điều này cho phép cây sinh trưởng
được và giữ được màu xanh của lá trong mùa khô hơn những cây thức ăn khác. Một
vài cây hoà thảo và đậu thân bụi như Andropogon gayanus và Stylosanthes hamata…
cũng có khả năng duy trì được màu xanh của lá trong mùa khô.
Nhu cầu nước cho tạo chất khô của cây thức ăn lâu năm gấp 1,5 - 2 lần so
với cây lúa. Do vậy việc tưới nước cho đồng bãi trồng cỏ thâm canh sẽ nâng cao
Ánh sáng là nhân tố quan trọng, mối quan hệ giữa ánh sáng và sinh trưởng
của cây rất phức tạp. Ánh sáng là nguồn cung cấp năng lượng cho cây tiến hành
quang hợp, thoát hơi nước, hình thành chất diệp lục mà lục lạp chứa diệp lục là
phòng thí nghiệm duy nhất tích lũy năng lượng mặt trời dưới dạng các chất hữu cơ.
Có ánh sáng cây mới sinh thân, cành lá và ra hoa kết quả bình thường.
Ánh sáng ảnh hưởng tới sinh trưởng dưới hai hình thức khác nhau là cường
độ sáng và quang chu kỳ, nhưng khó có thể dùng thực nghiệm để tách riêng những
ảnh hưởng khác nhau giữa chúng. Ở những cường độ sáng yếu (500 - 1000 lux) thì
cường độ quang hợp tăng nhanh cùng cường độ sáng, nhưng những cường độ sáng
mạnh thì mức tăng giảm bất ngờ. Đối với nhiều loài cỏ nhiệt đới cường độ quang
hợp tiếp tục tăng, tuy không theo đường thẳng, cho đến khi năng lượng nhận được
bằng 60.000 lux hay cao hơn. Cường độ sáng thích hợp cho quá trình quang hợp ở
cỏ nhiệt đới là 50.000 - 60.000 lux, ở cỏ ôn đới là 15.000 - 25.000 lux.
Tăng quang chu kỳ kìm hãm tốc độ đẻ nhánh tuy không ảnh hướng tới việc
ra lá của cỏ. Chiều dài và đôi khi cả chiều rộng đều tăng nếu kéo dài quang chu kỳ
bằng cường độ ánh sáng yếu. Trong những ngày hè dài lá và thân sinh trưởng thẳng
hơn, giảm sự hình thành của mầm nách. Còn trong những ngày ngắn và mát của
cuối mùa hè và mùa thu sinh trưởng rộng hơn và chồi hình thành nhiều.
Hầu hết các loài cây thức ăn đều có thể sinh trưởng tốt dưới những vùng đất
bị che bóng nhẹ như Brachiaria humidicola, Arachis pintoi… Không có giống cây
thức ăn gia súc nào sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện bị che bóng nặng, chỉ
có một số loài có thể thích hợp tồn tại dưới mật độ tán cây che phủ trung bình như
Centrosema macrocarpum, Paspalum atratum, Panicum maximum, Brachiaria
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
brizantha, Brachiaria decumbens, Setaria sphacelata. Những loài này có thể trồng
lót P - K rải một lần trong năm có tác dụng trong cả năm, làm tăng năng suất cỏ so
với không bón phân. Ngược lại sự tăng năng suất do tác dụng của N chỉ xảy ra ngay
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
khi trước đó người ta bón phân, cũng chính vì vậy mà người ta có thể sử dụng đạm
một cách hợp lý nhằm cân bằng năng suất cỏ trong cả năm để khắc phục trạng mùa
do điều kiện thời tiết gây nên.
Độ pH trong đất quyết định trạng thái dễ tiêu hay không tiêu của các nguyên
tố. Nói chung, hòa thảo ưa đất trung tính còn các cây đậu ưa đất hơi kiềm vì chúng
cần nhiều Ca hơn. Đó cũng là nguyên nhân vì sao ở đồng cỏ nhiệt đới ít cây đậu.
Tất cả cây thức ăn đều sinh trưởng tốt trên đất có độ màu mỡ cao đến trung
bình. Một vài cây có tiềm năng năng suất cao như cỏ Pennisetum purpureum,
Panicum maximum… chỉ sinh trưởng tốt trên đất màu mỡ. Nhiều cây thức ăn có thể
sinh trưởng trên đất nghèo dinh dưỡng và một số như Brachiaria humidicola,
Stylosanthes guianensis còn sinh trưởng tốt trên đất chua, nghèo dinh dưỡng. Mặc dù
vậy, không có loài nào cho năng suất cao trên đất nghèo dinh dưỡng nếu không được
bón phân đầy đủ. Trên đất nghèo dinh dưỡng cây thức ăn có thể không chứa đầy đủ
các chất dinh dưỡng cần thiết cho nhu cầu sinh trưởng và sản xuất của gia súc.
Hầu hết cây thức ăn đều có thể sinh trưởng trên đất kiềm. Đặc biệt có một
vài loài thích hợp với loại đất có độ pH cao. Những loài đó là Leucaena
leucocephala, Desmanthus virgatus và Brachiaria humidicola. Loài không sinh
trưởng tốt trên đất kiềm là Stylosanthes guianensis.
Cùng với việc thu hoạch (cắt hay chăn thả gia súc) đất đồng cỏ bị lấy đi
lượng lớn các chất dinh dưỡng. Một phần các chất dinh dưỡng được trả lại đồng cỏ
do phân và nước tiểu gia súc bài tiết ra khi chăn thả. Ngoài ra các chất dinh dưỡng
trong đất đồng cỏ còn bị mất đi do rửa trôi, bay hơi, thấm xuống tầng đất sâu…
đầu tư phân bón đối với cỏ Voi, cỏ Ghi nê. Kết quả cho thấy mức bón phân urê
thích hợp đối với cỏ Voi là 100kg, cỏ Ghi nê là 50kg N/ha/lứa cắt.
Điểm rất nổi bật là bón phân urê đã cải thiện được tỷ lệ protein thô trong cây
thức ăn. Tuy nhiên ảnh hưởng của mức bón phân urê đến chất lượng của thức ăn
không rõ như ảnh hưởng đến năng suất của cây thức ăn.
Bón nhiều phân nitơ dẫn đến thực vật sinh trưởng nhanh (nhiều thân cành, lá
ít) sẽ dẫn đến xơ thô trong thức ăn tăng.
Nguyễn Văn Bình (2004) cho biết phân đạm đã có ảnh hưởng rõ rệt đến hàm
lượng các axit béo trong cỏ Timothy. Tăng lượng nitơ bón cho đồng cỏ Timothy từ
0 kg lên 120 kg/ha đã làm tăng rõ rệt axit béo tổng số trong thức ăn, đặc biệt C 18:3.
Giai đoạn sinh trưởng phát triển chiều cao ở mức nitơ là 0 kg/ha hàm lượng axit béo
của cỏ Timothy là 8,71 (mg/kg chất khô) khi tăng lên mức 120 kg/ha hàm lượng
axit béo của cỏ là 11,43 (mg/kg chất khô); Giai đoạn sinh trưởng đầu kết hoa ở mức
nitơ là 0 kg/ha hàm lượng axit béo của cỏ Timothy là 6,86 (mg/kg chất khô) khi
tăng lên mức 120 kg/ha hàm lượng axit béo của cỏ là 10,32 (mg/kg chất khô); tương
tự như vậy đối với 2 giai đoạn cuối kết hoa và đầu nở hoa cũng có hàm lượng axit
béo cao hơn khi bổ sung thêm hàm lượng nitơ cho đồng cỏ.
Ảnh hưởng của phân bón đến thành phần hoá học của thảm cỏ được Bobưlep
(1984) tổng kết trong bảng 2.1 dưới đây.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
Bảng 2.1. Ảnh hưởng của phân bón đến thành phần hoá học của thảm cỏ
Hàm lượng trong cỏ
Thành
phần
- Bón phân phôtpho
- Có nhiều clo trong đất trồng cây đậu
- Bón phân kali
- Bón nhiều phân nitơ cho cỏ hoà thảo
- Bón vôi cho đồng cỏ
- Bón nhiều phân nitơ và kali
- Bón phân phôtpho
- Nhôm trong đất tăng và đất bị chua
- Tăng cây đậu trong đồng cỏ
- Bón vôi cho đồng cỏ
P
K
Ca
Co
Mg
Mn
- Bón coban
- Tăng cây đậu trong đồng cỏ
- Bón kẽm
- Bón phân photpho
(Nguồn: Bobưlep, 1984)
Phân nitơ bón cho cỏ trồng bị tổn thất nhiều do NH3 bay hơi do vậy sử dụng
viên nén urê phân giải chậm bón dúi sâu cho hiệu quả bón phân rất cao.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Bảng 2.2. Ảnh hưởng của cách bón phân nitơ đến năng suất cỏ trồng
Giống cỏ
Cỏ Voi
Cỏ Ghi nê
Cỏ setaria
Cách bón
phân urê
NSCX
(tấn/ha)
NSCK
(tấn/ha)
15,75 ± 0,71
2,19 ± 0,10
Bón vãi
67,33 ± 4,81
9,53 ± 0,68
1,35 ± 0,09
Bón dúi sâu
81,67 ± 3,89
12,50 ± 0,59
1,82 ± 0,09
(Nguồn: Bùi Quang Tuấn, 2005d)
2.1.3. Đặc điểm tái sinh trưởng của thân, lá
Cỏ mọc lại sau thu cắt gọi là cỏ tái sinh. Quá trình tái sinh trưởng của thân lá
cũng được chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn sinh trưởng chậm;
- Giai đoạn sinh trưởng nhanh;
- Giai đoạn sinh trưởng chậm;
Giai đoạn sinh trưởng chậm của cỏ tái sinh thường ngắn vì sau khi thu hoạch
cây cỏ vẫn còn nguyên bộ rễ đã phát triển hoàn thiện và cùng với nó là các chất
dưới đất đã được phát triển, chỉ chờ cho chúng dự trữ đủ dinh dưỡng là có thể thu
hoạch. Nếu một cây cỏ bị cắt trước khi rễ và những phần còn lại của lứa cắt trước
dự trữ đủ dinh dưỡng thì sự tái sinh sẽ gặp khó khăn và có thể không xảy ra.
Tuổi thu hoạch biến động phụ thuộc vào mùa, giống, điều kiện chăm sóc…
Tuổi thu hoạch của các cây hòa thảo khoảng 30 - 40 ngày, của cây đậu khoảng 40 50 ngày trong mùa mưa, còn trong mùa khô tuổi thu hoạch sẽ dài hơn, có những
vùng quá khô hạn thì trong suốt mùa khô không cho thu cắt lứa nào. Trong điều
kiện thâm canh cao (bón phân đầy đủ, có nước tưới) cây thức ăn sinh trưởng nhanh
thì tuổi thu hoạch cũng ngắn hơn. Bởi vậy cần phải tiến hành xác định cụ thể thời
điểm thu hoạch để cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao nhất. Cũng cần nói
thêm rằng giá trị dinh dưỡng của cây thức ăn giảm dần theo giai đoạn sinh trưởng,
có nghĩa là cây thức ăn càng già thì giá trị dinh dưỡng càng kém.
Tuổi thu hoạch biến động nên việc so sánh năng suất chất xanh hay chất
khô/lứa cắt đôi khi không có ý nghĩa, khi này phải tính năng suất tích luỹ/ngày đêm.
Nghiên cứu của Bùi Quang Tuấn (2005b) chỉ ra rằng trong mùa mưa tuổi thu
hoạch của cỏ Voi thích hợp là 40 ngày, của cỏ Ghi nê là 30 ngày. Thu hoạch vào thời
điểm này cây cỏ vừa cho năng suất chất khô cao vừa cho giá trị dinh dưỡng cao.
- Độ cao thu hoạch:
Độ cao thu hoạch là khoảng cách từ mặt đất đến điểm thu cắt, tức là phần
chừa lại không thu cắt của cây thức ăn. Độ cao thu hoạch quyết định lượng chất
dinh dưỡng còn lại và khả năng quang hợp của cây sau thu cắt. Nếu độ cao thu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
hoạch cao quá sẽ mất năng suất, nhưng nếu độ cao thu hoạch thấp quá sẽ ảnh hưởng
đến tái sinh của lứa sau. Mỗi loại cây thức ăn sẽ có độ cao thu hoạch thích hợp khác
nhau. Riêng đối với cây cỏ Voi thì cần cắt sát gốc vì cỏ Voi có thân ngầm và nhánh
cỏ đẻ ra từ gốc sẽ to hơn, phát triển tốt hơn các nhánh đẻ ra từ mắt than. Đối với cây
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
CIAT 184 có thể cho gia súc ăn tươi hoặc khô. Cây không chịu được thu cắt thấp vì các
đỉnh sinh trưởng nằm trên các nách lá, do vậy khi thu cắt cần thực hiện cao hơn 25 cm
để đảm bảo tái sinh tốt cho các lứa cắt sau (Horne and Stür, 1999). Hàm lượng đạm của
Stylosanthes guianensis CIAT 184 từ 1,5 - 3% trong vật chất khô. Tỷ lệ tiêu hóa vật
chất khô của gia súc từ 60 - 70%, nhưng với tuổi của cỏ ngày càng tăng thì có thể giảm
xuống dưới 40% (Mannetje và Jones, 1992).
Năng suất của cỏ Stylosanthes guianensis CIAT 184 đạt từ 40 - 60 tấn/ha/năm.
Hàm lượng protein thô trong thức ăn từ 16 - 17%; VCK từ 22 - 24%; xơ thô từ 20 22% (Nguyễn Ngọc Hà và cs., 1985). Có thể cho gia súc ăn tươi hoặc phơi khô đóng
bánh, làm bột cỏ.
Stylosanthes guianensis CIAT 184 là giống đã chứng minh được là có thể
trồng và cho năng suất cao trên đất có độ phì kém và hơi chua tại M’Drăk (Trương
Tấn Khanh, 2003), tại 4 vùng chăn nuôi bò sữa trong điểm: Ba Vì, Hà Tây cũ; Thái
Nguyên; Đức Trọng, Lâm Đông và Lam Sơn, Thanh Hóa (Nguyễn Thị Mùi và cs.,
2005) và trồng thích hợp trên các loại đất thuộc 5 vùng sinh thái Việt Nam: đồng
bằng Bắc Bộ, núi Tây Bắc, duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ
(Nguyễn Thị Mùi, 2011). Năng suất Stylosanthes guianensis CIAT 184 đạt 21,56
tấn VCK/ha/năm tại Hòa Bình (Lê Hoa và Bùi Quang Tuấn, 2009). Theo kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Văn Quang và cs., (2011), với mức phân bón hữu cơ 20 tấn
và phân đạm 75kg N/ha/năm thì cây đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 đã cho
năng suất xanh 77,83 tấn/ha/năm. Nguyễn Thị Mùi và cs., (2008) cho thấy kết quả
nghiên cứu về năng suất chất xanh của cây đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 tại
Ba Vì (Hà Tây cũ) biến động từ 53-65 tấn/ha/năm, tại Đức Trọng, Lâm Đồng từ
71,66-92,17 tấn/ha/năm. Như vậy, giống đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 trồng
tại Ba Vì cho năng suất chất xanh thấp hơn vùng Lâm Đồng. Nguyên nhân của sự
khác nhau có thể giải thích là do sự khác nhau rất rõ rệt về tổng số giờ nắng trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17
Năng suất chất xanh của đậu Stylosanthes guianensis Plus đạt khoảng 40 - 60
tấn chất xanh/ha/năm (5 - 14,5 tấn chất khô/ha/năm) tùy điều kiện đất đai và chế độ
chăm sóc. Tại Gia Lâm - Hà Nội năng suất chất xanh của đậu Stylosanthes guianensis
Plus đạt 66 tấn/ha/năm (Bùi Quang Tuấn, 2005c). Năng suất chất khô của đậu
Stylosanthes guianensis Plus trồng tại Lương Sơn - Hòa Bình đạt 13,13 tấn/ha/năm
(Bùi Quang Tuấn, 2006a). Khi khảo sát đánh giá tập đoàn cây thức ăn gia súc cho các
vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam, Nguyễn Thị Mùi và Nguyễn Văn Quang
(2011) cho biết cây đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 và cây đậu Stylosanthes
guianensis Plus có thể cho 4-5 lứa cắt/năm. Năng suất của cây đậu Stylosanthes
guianensis Plus biến động trong khoảng từ 63,30-69,20 tấn/ha/năm.
Hàm lượng các chất dinh dưỡng của đậu Stylosanthes guianensis Plus như
sau: vật chất khô 20,89 % ;protein thô 15,46 %; xơ thô 28 %; NDF 65,70 %: ADF
33, 19%; ADL 2,75%; khoáng tổng số 10,62% (Bùi Quang Tuấn, 2006b). Với thành
phần dinh dưỡng như vậy đậu stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein tốt cho gia súc
ăn cỏ, đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ.
Hình 2.2. Ảnh cây đậu Stylosanthes guianensis Plus
Thu hoạch Stylosanthes guianensis Plus lứa đầu vào khoảng 3 - 4 tháng sau
gieo, khi thảm cỏ đã phủ kín đất và đạt độ cao của thảm cỏ 50 - 70 cm. Thu hoạch
thường từ tháng 6 đến tháng 12. Khi thu hoạch cắt cách mặt đất 15 - 20cm. Thu
hoạch các lứa tiếp theo sau 2 - 2,5 tháng. Chu kỳ kinh tế 4 - 5 năm. Ngoài tác dụng
làm nguồn thức ăn cho gia súc chất lượng cao do giàu protein (cho ăn xanh, ủ với
các loại cỏ hoặc chăn thả), nó còn được trồng xen với các cây ăn quả khác để chống
xói mòn và sử dụng triệt để lượng đạm mà hằng năm nó cung cấp cho đất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp