MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục chữ viế*t tắt
vii
Danh mục các bảng
viii
Danh mục các hình
x
MỞ ĐẦU
1
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.2.1 Khái quát chung qua một số thời kỳ
10
1.2.2 Những quy định hiện hành về giao đất, cho thuê đất
14
1.2.3 Tình hình sử dụng đất đai của cả nước
24
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
30
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
30
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
30
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
31
2.3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
32
2.3.3 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp
32
2.3.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý tài liệu, số liệu
32
2.3.5. Phương pháp đánh giá
32
2.3.6 Phương pháp so sánh
33
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Ninh Bình
34
34
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất của các tổ chức
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn thành phố Ninh
Bình
3.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
56
58
3.3.3 Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức điều tra
trên địa bàn thành phố Ninh Bình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
73
Page v
3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của
các tổ chức trên địa bàn thành phố Ninh Bình
85
3.4.1 Giải pháp về chính sách pháp luật
85
3.4.2 Giải pháp về kinh tế
86
94
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
1
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghiã
2
CQ
Cơ quan
3
GCNQSD
Trách nhiệm hữu hạn
9
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
10
UBND
Uỷ ban nhân dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Hiện trạng sử dụng đất cả nước năm 2014
57
3.5
Hiện trạng sử dụng đất của các loại hình tổ chức thành phố Ninh Bình
58
3.6
Diện tích đất của các tổ chức phân theo đơn vị hành chính thành
phố Ninh Bình
59
3.7
Tình hình giao đất của các tổ chức trên địa bàn thành phố Ninh Bình
60
3.8
Tình hình thuê đất của các tổ chức trên địa bàn thành phố Ninh Bình
61
3.9
3.14
68
Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức trên địa bàn
thành phố Ninh Bình
3.15
69
Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các tổ chức
trên địa bàn thành phố Ninh Bình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
70
Page viii
3.16
Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức điều tra trên địa bàn thành
74
phố Ninh Bình
3.16
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hình
Tên hình
Trang
1.1
Cơ cấu sử dụng đất phân theo vùng trên cả nước năm 2014
26
3.1
Cơ cấu các loại đất chính thành phố Ninh Bình năm 2014
52
3.2
Cơ cấu sử dụng đất của các tổ chức tại thành phố Ninh Bình
59
3.3
Diện tích đất sử dụng đúng mục đích so với tổng diện tích đang sử
dụng của các tổ chức trên địa bàn thành phố Ninh Bình
Nhà nước giao đất, cho thuê đất (Chính Phủ, 2007). Đây là việc làm có ý
nghĩa thiết thực trong việc tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với nguồn
tài nguyên đặc biệt quan trọng về đất đai nói chung và diện tích đất đang giao
cho các tổ chức quản lý sử dụng nói riêng.
Đất đai là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất xã hội - hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, là điều kiện vật chất đầu tiên để mọi doanh nghiệp
hoạch định chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh, là điều kiện vật chất không
thể thiếu để đảm bảo cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
…). Đất đai vừa là tài sản, vừa là tư liệu sản xuất của các doanh nghiệp; là điều
kiện đầu tiên là cầu nối cho sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong nước với các
nhà đầu tư.
Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình nằm cách thủ đô Hà Nội 90 km về
phía Nam, là vị trí giao điểm của quốc lộ 1A với quốc lộ 10 đi qua các tỉnh vùng
duyên hải Bắc Bộ. Với vị trí địa lý và giao thông thuỷ bộ thuận tiện thành phố
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
Ninh Bình rất có điều kiện để phát triển kinh tế xã hội như: Trao đổi hàng hoá,
tiếp thu thông tin, khoa học kỹ thuật, công nghệ và vốn đầu tư tạo điều kiện tạo
điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đa dạng, nông - lâm nghiệp, công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, du lịch.
Với lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thành phố Ninh Bình đã và
đang có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế đa dạng. Chính vì vậy dẫn đến nhu
cầu về đất đai gia tăng, gây sức ép lớn đến quỹ đất. Điều này đòi hỏi UBND thành
phố Ninh Bình phải nắm được tình hình quản lý sử dụng đất của các tổ chức để có
những biện pháp để quản lý, sử dụng đất đai phù hợp nhằm khai thác hiệu quả quỹ
đất, đồng thời sử dụng tiết kiệm và hợp lý.
Xuất phát từ thực tiễn khách quan đó, việc nghiên cứu đề tài “Đánh giá
thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của
tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất;
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu
tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất.
- Tổ chức sự nghiệp công là tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền của
Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có chức năng
thực hiện các hoạt động dịch vụ công do ngân sách nhà nước chi trả.
Theo Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây
dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất thì Loại hình tổ chức được phân thành (Bộ
Tài nguyên và Môi trường, 2007):
- Cơ quan, đơn vị của Nhà nước là các tổ chức trong nước sử dụng đất
bao gồm: cơ quan của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (trừ
các cơ quan cấp xã); tổ chức sự nghiệp công; đơn vị quốc phòng, an ninh.
- Tổ chức kinh tế là tổ chức trong nước (kể cả trường hợp người Việt
Nam định cư ở nước ngoài lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất
hoặc thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm) được thành lập theo Luật Doanh
nghiệp, Luật Hợp tác xã sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh nông
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ.
- Uỷ ban nhân dân cấp xã là người sử dụng đất được Nhà nước giao đất
sử dụng vào các mục đích: đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích công ích;
đất làm trụ sở Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội của cấp xã; đất được Nhà nước giao cho Uỷ ban nhân dân cấp
xã xây dựng các công trình công cộng về văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục - thể
thao, vui chơi giải trí, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình công cộng
khác của địa phương.
Đối với các công trình công cộng do các tổ chức được công nhận là pháp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
1.1.3 Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất
Từ thập niên 80 trở lại đây, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
đáng kể. Nền kinh tế tự cung, tự cấp đã dần chuyển sang nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần với định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế ngày càng phát triển
dẫn đến sự đa dạng hóa các thành phần kinh tế và các hình thức sản xuất. Từ chỗ
kinh tế quốc doanh chiếm đa số thì đến nay kinh tế tư nhân, liên doanh liên kết
phát triển đóng vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân.
Nhờ có chính sách đổi mới đó mà đời sống người dân ngày càng cải thiện.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó thì vấn đề đặt ra với cơ quan quản
lý đất đai là làm thế nào để đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia
tăng của các ngành sản xuất và của đời sống nhân dân. Đây là vấn đề được
Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, chú trọng giải quyết. Sự quan tâm đó
được thể hiện qua Luật Đất đai và hàng loạt các văn bản của Chính phủ và các
Bộ, Ngành có liên quan. Cụ thể như:
Luật Đất đai năm 1993 quy định hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất
đối với đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và giao đất không thu tiền
sử dụng đất đối với đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân trực tiếp sản
xuất nông nghiệp, tổ chức trong nước sử dụng không vì mục đích lợi nhuận. Hình
thức cho thuê đất đối với các đối tượng như: tổ chức kinh tế trong nước; tổ chức
nước ngoài có chức năng ngoại giao (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 1993).
Luật Đất đai sửa đổi bổ sung năm 1998, có bổ sung hình thức giao đất có
thu tiền sử dụng đất cho tổ chức kinh tế trong nước đối với các dự án xây dựng
kinh doanh nhà ở và các dự án sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng
(Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 1998).
Luật Đất đai năm 2003, quy định cụ thể về hình thức cho thuê đất như sau:
công trình sự nghiệp.
- Bổ sung quy định tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất thực hiện dự
án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất
gắn với hạ tầng thì thuộc trường hợp giao đất có thu tiền sử dụng đất
Để cụ thể hóa những nội dung trên Chính phủ đã ban hành các văn bản
hướng dẫn cụ thể như sau:
- Nghị định số 85/CP ngày 17 tháng 12 năm 1996 quy định việc thi
hành pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được Nhà
nước giao đất, cho thuê đất và Chỉ thị số 245/TTg ngày 22 tháng 4 năm 1996;
(Chính phủ, 1996)
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành
Luật Đất đai năm 2003; (Chính phủ, 2004)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 quy định việc
sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng
10 năm 2004 về thi hành Luật Đất đai năm 2003;
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ
quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ
quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ tái định cư;
- Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. (Chính
phủ, 2009)
Trước thế kỷ XV ở Việt Nam chưa có hệ thống địa chính theo đúng nghĩa.
Tính chất hành chính của quản lý đất đai thể hiện qua việc chính quyền thu các
loại thuế bằng hình thức cống nạp. Hệ thống địa chính sơ khai thời phong kiến
chỉ được thiết lập vào đầu thế kỷ XV (Nhà Hậu Lê) và được hoàn chỉnh vào đầu
thế kỷ XIX (Nhà Nguyễn) (Nguyễn Đình Bồng và cs., 2012).
Các hệ thống địa chính hiện đại được hình thành dần trong nhiều giai
đoạn, bị xáo trộn phức tạp qua nhiều cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
* Hệ thống địa chính sơ khai
Trong thời kỳ Nhà Trần, Nhà nước phong kiến đã có tư tưởng thành lập hệ
thống địa bạ để quản lý đất đai. Vào cuối Nhà trần và đầu thời kỳ Nhà Hồ (1398
– 1402) nhà nước đã có những cải cách táo bạo của Hồ Quý Ly về “hạn danh
điền”, “hạn nô” và đo đạc lập sổ ruộng đất. Hệ thống địa chính đầu tiên được
thiết lập chính thức có quy mô toàn quốc do vua Lê Thái Tổ khởi xướng (năm
1428) và được hoàn chỉnh dưới thời Lê Thánh Tông (1460 – 1491) cùng với việc
ban hành luật Hồng Đức. Hệ thống này bao gồm một số nội dung chủ yếu như
sau (Nguyễn Đình Bồng và cs., 2012):
-Đo đạc các thửa đất, làm sổ ruộng đất toàn quốc vào năm 1428
-Ban hành “Quốc triều hình luật” hay còn gọi là Luật Hồng Đức năm 1483
gồm 722 điều, trong đó 59 điều quy định về ruộng đất.
-Thực hiện phép “Quân điền” (bắt đầu từ năm 1429) theo đó các làng xã
phải thực hiện việc chia cấp ruộng công cho các dân đinh sử dụng theo thời gian,
nhân khẩu và quy chế của Nhà nước.
-Có chính sách cụ thể về xác định quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Hệ thống địa chính thời Hậu Lê đã góp phần tăng cường quyền lực cho
nhà nước phong kiến, tăng cường quyền lực cho bộ máy hành chính, điều chỉnh
Page 11
sắc lệnh năm 1925 với chế độ điền thổ và bảo thủ điền thổ mà theo đó các chủ sở
hữu đất sau khi đăng ký được cấp bằng khoán điền thổ.
Ở Trung Kỳ, Pháp áp dụng chế độ cai trị nửa bảo hộ. từ năm 1930 hoạt
động địa chính là công tác ”Bảo tồn điền trạch”
* Quá trình hình thành phát triển Chính sách đất đai từ 1945 – Đến
Luật đất đai 2013
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công thành lập Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Hiến pháp lần thứ nhất năm 1946 được ban hành.
Quyền sở hữu đất đai tư nhân vẫn được thừa nhận và bảo hộ (Nguyễn Đình
Bồng và cs., 2012).
Năm 1946, Nhà nước tập trung chủ yếu vào việc ban hành chính sách tận
dụng đất để phát triển sản xuất nông nghiệp cứu đói. Trong 9 năm kháng chiến
chống thực dân Pháp, chính sách đất đai tập trung vào phát triển sản xuất nông
nghiệp, giao đất vô chủ cho người có điều kiện sử dụng, tịch thu ruộng đất thuộc
quyền sở hữu của người Pháp, khuyến khích đóng thuế nông nghiệp.
Năm 1953, Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất nhằm đánh đổ
giai cấp địa chủ, thực hiện chính sách “người cày có ruộng” mặc dù có
những sai lầm nhất định nhưng cuộc cải cách ruộng đất đã hoàn thành, ruộng
đất được chia đến tay nông dân.
Cuối năm 1958, cuộc vận động thành lập tổ đổi công và xây dựng hợp
tác xã nông nghiệp bắt đầu. Đất nông nghiệp chủ yếu thuộc sở hữu tập thể
của hợp tác xã nông nghiệp. Một số ruộng đất thuộc đồn điền cũ hoặc đất
chuyên canh được tổ chức thành các nông trường quốc doanh thuộc sở hữu
nhà nước. Đất rừng sản xuất được tổ chức thành các lâm trường quốc doanh
thuộc sở hữu nhà nước.
Năm 1959, Hiến pháp lần thứ hai được ban hành đã xác nhận 3 hình
thức sở hữu đất đai : Sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Sở
Năm 1992, Hiến pháp lần thứ tư được ban hành trong đó tiếp tục
khẳng định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Nhà nước thống nhất quản lý
đất đai bằng pháp luật và quy hoạch, Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, cá
nhân sử dụng ổn định và lâu dài.
Năm 1993, Quốc hội thông qua Luật Đất đai lần thứ hai (gọi là Luật Đất
đai 1993) trong đó người sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở được
thực hiện 5 quyền chuyển đổi chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp. Đất có
giá và giá đất do nhà nước quy định, từ đây như một làn gió mới thổi vào người
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
dân được yên tâm đầu tư trên mảnh đất của mình đồng thời được thực hiện các
quyền giao dịch trên mảnh đất của mình đã được nhà nước thừa nhận.
Năm 2003, Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 nhằm
đổi mới chính sách đất đai cho phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước. Luật Đất đai 2003 định hướng tốt hơn cho quá trình chuyển dịch cơ
cấu sử dụng đất, phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu
đầu tư, tạo hiệu quả thực sự trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế nông
nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp dịch vụ.
Năm 2013, Luật đất đai được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013 vừa
tiếp tục kế thừa, luật hoá những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc
sống của Luật đất đai năm 2003 nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy
định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật đất đai năm 2003. Luật
Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua là sự kiện quan trọng đánh dấu
những đổi mới về chính sách đất đai, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -xã
hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thể hiện
được ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân. Để các quy định đổi mới của
Luật sớm đi vào cuộc sống, các bộ, ngành và địa phương vẫn đang khẩn trương
quyền sử dụng đất còn khá thấp, khả năng chuẩn hóa dữ liệu để quản lý bằng
phần mềm chuyên ngành còn gặp rất nhiều khó khăn,...
Việc sử dụng quỹ đất này không phù hợp đã gây lãng phí trong việc sử
dụng tài nguyên đất, thất thu cho ngân sách nhà nước, tạo nhiều tiêu cực trong
quản lý sử dụng đất và gây khiếu kiện trong nhân dân.
* Chính sách giao đất
- Căn cứ giao đất (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2003):
Giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành
chính cho người có nhu cầu sử dụng đất. Việc giao đất dựa vào các căn cứ theo
Điều 31 của Luật Đất đai năm 2003 như sau:
+ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy
hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền xét duyệt;
+ Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất.
- Đối tượng giao đất (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2003):
Nhà nước giao đất cho người sử dụng đất dưới hai hình thức là giao đất
không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất. Và một trong các đối
tượng được giao đất là các tổ chức gồm: UBND xã, cơ quan nhà nước, tổ chức
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức sự nghiệp công, tổ chức kinh tế và tổ chức ngoại giao.
Nếu như việc Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất là để đảm bảo
lợi ích chính đáng của người trực tiếp lao động sản xuất, bảo vệ tốt quỹ đất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản,... Nhằm bảo đảm cho hoạt động bình
thường của các cơ quan Nhà nước hoặc sử dụng đất vào lợi ích chung, lợi ích công
cộng,... thì việc Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất là đảm bảo nguồn thu
Nam, 2003):
+ Hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở;
+ Tổ chức kinh tế được giao đất sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở để
bán hoặc cho thuê;
+ Tổ chức kinh tế được giao đất sử dụng vào mục đích đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê;
+ Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được giao đất làm mặt bằng xây
dựng cơ sở sản xuất kinh doanh;
+ Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để xây dựng công
trình công cộng có mục đích kinh doanh;
+ Tổ chức kinh tế được giao đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,
nuôi trồng thủy sản, làm muối;
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được giao đất để thực hiện các
dự án đầu tư;
- Thời hạn giao đất (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2003):
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì thời hạn giao đất được
chia theo loại đất sử dụng đất gồm đất sử dụng ổn định lâu dài và đất sử dụng
có thời hạn.
Theo Điều 66 Luật Đất đai năm 2003, người được sử dụng đất ổn định lâu
dài trong các trường hợp sau đây (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2003):
+ Đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
+ Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng
+ Đất ở
+ Đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh của hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng ổn định được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất
+ Đất làm trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp
+ Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh
+ Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho
đối tượng có nhu cầu sử dụng đất. Việc cho thuê đất dựa vào các căn cứ theo
Điều 31 của Luật Đất đai năm 2003 như sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 18