BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LƯU THỊ THU HIỀN
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐĂK LĂK
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
ĐĂK LĂK – 2016
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LƯU THỊ THU HIỀN
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐĂK LĂK
phát triển về kinh tế, thời gian vừa qua tình hình vi phạm pháp luật về
thuế giá trị gia tăng trên địa bàn tỉnh có diễn biến ngày càng phức tạp,
hành vi vi phạm pháp luật về thuế giá trị gia tăng bị phát hiện ngày càng
nhiều nhưng việc xử lý chưa đạt hiệu quả.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả xin chọn đề
tài “Xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế tỉnh
Đăk Lăk” để thực hiện luận văn thạc sỹ của mình với hy vọng những
đóng góp của đề tài sẽ phần nào giải quyết được khó khăn, tồn tại trong
công tác xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng, nâng cao hiệu
quả của hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế, hướng tới một
hệ thống thuế hiệu quả và công bằng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn
Qua tìm hiểu những công trình đã được nghiên cứu có thể thấy
một số công trình đã nghiên cứu có liên quan về thuế giá trị gia tăng như:
Pháp luật về thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam, luận văn thạc sỹ luật học
(2013), Trương Thị Hồng Nhung, Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa luật.
Luận văn đi sâu nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật về thuế
giá trị gia tăng và hướng hoàn thiện; Những vấn đề pháp lý về việc áp
1
dụng thuế Giá trị gia tăng ở Việt Nam (2002), luận án tiến sỹ Luật học,
Nguyễn Thị Thương Huyền, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật;
Pháp luật về thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam – những vấn đề
lý luận và thực tiễn (2012), Luận án tiến sỹ Luật, Vũ Văn Cương, Đại học
Luật Hà Nội; Pháp luật về thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, thực trạng và
hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sỹ luật học, Trần Thị Minh Hiền, người
hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Thu Giang; Pháp luật về thuế giá trị
gia tăng và các biện pháp bảo đảm thực hiện (2002), luận văn thạc sỹ, Lê
2
Đối tượng của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt
động xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế tỉnh
Đăk Lăk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Cục thuế tỉnh Đăk Lăk.
- Về thời gian: Từ năm 2013 đến nay (tháng 6 năm 2016).
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ
bản của hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế giá trị
gia tăng tại Cục thuế tỉnh Đăk Lăk, các văn bản pháp luật và chủ trương,
chính sách đảm bảo cho hoạt động xử lý vi phạm hành chính của Cục
thuế tỉnh Đăk Lăk được nghiêm minh, chính xác và kịp thời trong giai
đoạn hiện nay, cụ thể:
+ Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước đối với
hoạt động xử phạt vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng hiện nay;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng xử lý vi phạm hành chính về
thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế tỉnh Đăk Lăk;
+ Nghiên cứu và đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả
của việc xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế
tỉnh Đăk Lăk.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về
nhà nước và pháp luật, về tuyên truyền, giáo dục và thực hiện pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, như phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phân
1.1. Quan niệm chung về xử lý vi phạm hành chính
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính được coi là một loại vi phạm pháp luật diễn
ra phổ biến hằng ngày trong đời sống xã hội của một quốc gia, từ khía
cạnh nhỏ nhất, phạm vi ảnh hưởng ít nhất của đời sống như vượt đèn đỏ,
hút thuốc nơi công cộng, bỏ rác không đúng nơi quy định đến những khía
cạnh lớn hơn, phạm vi ảnh hưởng rộng hơn, bao quát hơn như gây ô
nhiễm môi trường biển, ô nhiễm nguồn nước, trốn thuế,… Vi phạm hành
chính có thể hiểu là việc không tuân theo hoặc làm trái lại những điều
quy định trong hoạt động chỉ đạo, quản lý việc chấp hành luật pháp,
chính sách của nhà nước. Hành vi vi phạm hành chính xâm phạm trực
tiếp đến trật tự quản lý hành chính của một quốc gia, là cơ sở của việc xử
phạt vi phạm hành chính.
Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực
hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải
là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành
chính.
Mặc dù khái niệm vi phạm hành chính được thể hiện khác nhau
nhưng về bản chất không thay đổi và đều có chung các đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi vi phạm pháp luật, vi
phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước, phá vỡ trật tự hành
chính đang được duy trì và bảo vệ.
4
- Thứ hai, chủ thể của vi phạm hành chính là cá nhân hoặc tổ
chức. Tuy nhiên, không phải mọi cá nhân đều là chủ thể của vi phạm
hành chính mà chỉ có những cá nhân có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm
hành chính.
quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp
luật phải bị xử lý về vi phạm hành chính.
Xử lý vi phạm hành chính có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, xử lý vi phạm hành chính là một loại hoạt động
cưỡng chế của nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước. Xử lý vi phạm
5
hành chính chỉ được thực hiện bởi cơ quan hoặc cán bộ do nhà nước trao
quyền
- Thứ hai, xử lý vi phạm hành chính chỉ được thực hiện khi có
hành vi vi phạm hành chính.
- Thứ ba, hoạt động xử lý vi phạm hành chính phải được thực
hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.
1.2. Xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị
gia tăng.
Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng là
hành vi do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm
đến các lợi ích mà Luật thuế giá trị gia tăng bảo vệ nhưng chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử
phạt vi phạm hành chính.
Trong luận văn này, để thống nhất với các quy định của pháp luật
hiện tại và phù hợp với đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực
thuế giá trị gia tăng nói riêng và trong lĩnh vực thuế nói chung, người viết
sẽ sử dụng thuật ngữ xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng
trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về
xử phạt vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng cũng như thực trạng
của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng trên địa
đăng, hậu kiểm” trong quản lý thuế giá trị gia tăng, đặc trưng chủ thể của
thuế giá trị gia tăng, hạn chế trong công tác quản lý …
- Thứ tám, trong xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng
hành vi vi phạm có thể được chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác dựa
vào hậu quả của hành vi.
- Thứ chín, xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng gắn
liền với xử lý vi phạm hành chính về thuế thu nhập doanh nghiệp vì thuế
giá trị gia tăng được tính dựa trên doanh thu tăng thêm.
1.2.2. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia
tăng
* Nguyên tắc pháp chế:
* Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời, xử lý
công minh, nhanh chóng theo đúng pháp luật
* Nguyên tắc bình đẳng, công khai, nhân đạo trong xử lý vi phạm
hành chính về thuế giá trị gia tăng
1.2.3. Các hành vi vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng
* Hành vi vi phạm thủ tục thuế
* Hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng
số tiền thuế được hoàn
* Hành vi trốn thuế, gian lận thuế
* Hành vi chậm nộp tiền thuế
1.2.4. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng
1.2.4.1. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia
tăng của cơ quan thuế
- Công chức thuế đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh cáo;
Phạt tiền đến 1.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm về thủ tục thuế
giá trị gia tăng.
- Đội trưởng Đội thuế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ có
quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi
vi phạm về thủ tục thuế.
1.2.5.1. Xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng theo
thủ tục không lập biên bản
Thủ tục xử lý hành vi phạm hành chính không lập biên bản là loại
thủ tục đơn giản được áp dụng đối với các trường hợp vi phạm hành
chính về thuế giá trị gia tăng có tính chất, mức độ vi phạm ít phức tạp và
theo quy định của pháp luật chỉ cần sử dụng hình thức xử phạt là cảnh
cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối
với tổ chức. Trong trường hợp này người có thẩm quyền xử lý phải ra
quyết định xử lý tại chỗ.
1.2.5.2. Xử lý hành chính vi phạm hành chính về thuế giá trị gia
tăng theo thủ tục có lập biên bản
* Lập biên bản vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng
* Giải trình của tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính về thuế
8
* Xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính về thuế giá
trị gia tăng
* Ra quyết định xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng
1.2.5.3. Thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính về thuế giá
trị gia tăng
Đối với Quyết định xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia
tăng không lập biên bản thì cá nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt tại chỗ
cho người có thẩm quyền xử phạt.
Đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia
tăng có lập biên bản thì cá nhân, tổ chức bị xử lý phải chấp hành quyết
định xử lý trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử lý vi
phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng.
1.2.6. Vai trò của xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng
1.3.2. Năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức ngành
thuế
Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức ngành thuế cũng như
công tác tổ chức, tuyển dụng cán bộ có ảnh hưởng quan trọng và quyết
định đến hiệu quả của việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế
giá trị gia tăng. Chỉ khi cán bộ, công chức ngành thuế thực hiện đúng
chức năng, nhiệm vụ của mình, nắm vững các quy định của pháp luật về
thuế và xử phạt vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng, giữ tâm trong
sáng, vô tư trong khi làm nhiệm vụ mới đảm bảo việc xử phạt được khách
quan, công bằng từ đó tạo được lòng tin cho người nộp thuế vào cơ quan
thuế, vào chính sách pháp luật về thuế của Đảng và nhà nước ta.
1.3.3. Hoạt động phối hợp liên ngành
Để đảm bảo hiệu quả của hoạt động xử lý vi phạm hành chính về
thuế giá trị gia tăng, Cục thuế tỉnh cần có sự phối hợp kịp thời của lực
lượng khác như quản lý thị trường, công an, các tổ chức, đoàn thể và cá
nhân, … điều này đòi hỏi Cục thuế tỉnh phải là lực lượng chủ động, tích
cực đề xuất các phương án, biện pháp để thực hiện công tác phối hợp.
1.3.4. Hội nhập kinh tế quốc tế
Nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế cũng có mặt
trái là nó tạo cơ hội cho người nộp thuế dễ dàng thông đồng, câu kết và
lợi dụng chính pháp luật để trốn thuế, gian lận thuế, vì vậy cần chủ động
xây dựng một môi trường hội nhập mới, một môi trường trong sạch cho
các chủ thể quản lý thuế và người nộp thuế bởi chỉ trong một môi trường
trong sạch, các chủ thể tham gia trong môi trường đó mới tự giác thực
hiện pháp luật đồng thời tạo dư luận để toàn xã hội phòng chống các hành
vi vi phạm pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
1.3.5. Điều kiện vật chất phục vụ hoạt động xử lý vi phạm về
thuế giá trị gia tăng
Cơ sở vật chất, kỹ thuật bao gồm cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ
thuật, nghiệp vụ …của cơ quan thuế phục vụ cho công tác quản lý thuế.
2.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị của tỉnh Đăk Lăk
Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, có diện tích
13.125,37 km2, dân số toàn tỉnh tính đến năm 2012 đạt 1.796.666 người,
mật độ dân số đạt hơn 137 người/km². Trong đó, dân số sống tại thành thị
đạt 432.458 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.364.208 người. Dân
số nam đạt 906.619 người, dân số nữ đạt 890.047 người. Cộng đồng dân
cư Đắk Lắk gồm 47 dân tộc. Trong đó, người Kinh chiếm trên 70%; các
dân tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Thái, Tày, Nùng... chiếm gần 30%
dân số toàn tỉnh.
Đăk Lăk được coi là một trong những tỉnh năng động trong các
hoạt động đầu tư. Trong 06 tháng đầu năm 2016, toàn tỉnh có 344 doanh
nghiệp dân doanh đăng ký, nâng tổng số doanh nghiệp của toàn tỉnh lên
6263 doanh nghiệp (tăng 12,05% so với cùng kỳ năm 2015), với tổng số
vốn đăng ký 1.438 tỷ đồng (tăng 52,09% so với cùng kỳ năm 2015), bình
quân 3,2 tỷ đồng/doanh nghiệp. Trong đó có: 26 doanh nghiệp tư nhân,
vốn đăng ký 28,5 tỷ đồng; 210 công ty TNHH một thành viên, vốn đăng
ký 441,6 tỷ đồng; 82 công ty TNHH hai thành viên trở lên, vốn đăng ký
407,4 tỷ đồng; 26 công ty cổ phần, vốn đăng ký 560,5 tỷ đồng. Cấp giấy
chứng nhận đăng ký hoạt động cho 65 chi nhánh và văn phòng đại diện
của doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của suy
11
thoái kinh tế nên số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động tăng
cao, toàn tỉnh có 761 doanh nghiệp giải thể, bỏ địa chỉ kinh doanh và
ngừng hoạt động.
2.1.2. Cục thuế tỉnh Đăk Lăk
Kể từ ngày 01/10/1990 khi hợp nhất 3 tổ chức thu (theo Quyết
định số 314 TC/QĐ, ngày 21/8/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) là Chi
2014
2015
6 th đầu
2016
THU NGÂN SÁCH (TỶ ĐỒNG)
Hình 2.1: Hoạt động thu ngân sách của Cục thuế tỉnh Đăk Lăk
(nguồn: do tác giả tự tổng hợp)
Hoạt động quản lý thuế trong những năm gần của Cục thuế tỉnh
Đăk Lăk được triển khai trong bối cảnh nền kinh tế của tỉnh nhà trên đà
hồi phục, đạt tốc độ tăng trưởng so với kế hoạch đề ra, năm sau cao hơn
năm trước, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Chỉ tính riêng
trong 06 tháng đầu năm 2016, ngành thuế tỉnh đã ban hành 70 quyết định
xử lý sau thanh tra, truy thu và phạt vi phạm hành chính lĩnh vực thuế 18
tỷ 200 triệu đồng, giảm khấu trừ thuế giá trị gia tăng 2 tỷ 240 triệu đồng;
12
thực hiện kiểm tra 370 đơn vị qua đó, truy thu và phạt vi phạm hành
chính gần 21 tỷ 597 triệu đồng, bình quân đạt 69 triệu đồng/cuộc kiểm
tra thuế.
2.1.3 Tình hình vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng trên địa
bàn tỉnh Đăk Lăk
Từ năm 2013 đến 30/06/2016, Cục thuế tỉnh Đăk Lăk đã phát
hiện và lập 2.487 biên bản vi phạm hành chính về thuế trong đó có 1037
trường hợp vi phạm pháp luật về thuế giá trị gia tăng chiếm 41,69%.
giá trị gia tăng (chiếm tỷ lệ 2,25%) trong đó có 283 trường hợp người nộp
13
thuế có hành vi vi phạm các quy định về cung cấp thông tin liên quan đến
xác định nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng nhưng không thuộc trường hợp xác
định là khai thiếu thuế, trốn thuế, gian lận về thuế; 258 trường hợp người
nộp thuế có hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng so với thời
hạn quy định; chỉ có 08 trường hợp người nộp thuế có hành vi chậm nộp
hồ sơ đăng ký thuế giá trị gia tăng. Không có trường hợp nào bị xử lý về
hành vi chậm thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế so
với thời hạn quy định, khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ thuế
và vi phạm quy định về chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra, cưỡng
chế thi hành quyết định hành chính thuế giá trị gia tăng. Tổng số tiền xử
phạt thuế giá trị gia tăng thu được là 1.699 triệu đồng, số tiền truy thu,
truy hoàn vào ngân sách nhà nước là 34.150 triệu đồng, tiền chậm nộp
tiền thuế là 5.116 triệu đồng.
Hình 2.2: Tình hình xử lý vi phạm hành chính về thủ tục thuế GTGT
(nguồn: tác giả tự tổng hợp)
Hoạt động xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng trong
thời gian qua cũng cho thấy những bất cập trong các quy định pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng. Từ năm 2013 đến
nay, Cục thuế tỉnh đã ban hành 549 quyết định xử lý vi phạm hành chính
về thuế giá trị gia tăng nhưng chỉ có 500 quyết định xử phạt đã được thi
hành xong hoặc thi hành một phần, chiếm tỷ lệ 91,15%; 05 quyết định bị
khởi kiện ra toà và bị toà án tuyên huỷ quyết định do không phù hợp với
các quy định của pháp luật; 44 quyết định Cục thuế chủ động thu hồi và
huỷ bỏ do không có căn cứ vững chắc.
- Thứ hai, hoạt động quản lý thuế trong những năm gần đây đạt
được những thành tựu nhất định.
- Thứ ba, trong nhiều trường hợp thường gặp khó khăn khi xác
định hành vi trốn thuế, gian lận thuế.
2.2.4. Xử lý về hành vi chậm nộp thuế giá trị gia tăng
Buộc người nộp thuế phải nộp khoản tiền chậm nộp là biện pháp
xử phạt vi phạm hành chính hay biện pháp xử lý hành chính theo quan
điểm của tác giả đều không phù hợp, bởi lẽ:
- Thứ nhất, nếu coi đây là một hình thức xử phạt chính thì việc áp
dụng hình thức này đồng thời với hình thức xử phạt bằng tiền theo quy
định đối với từng hành vi vi phạm hành chính về thuế giá trị hiện nay sẽ
vi phạm nguyên tắc đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi
phạm hành chính chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính.
- Thứ hai, Việc buộc người nộp thuế ngoài việc bị xử phạt ra còn
phải nộp một khoản tiền chậm nộp tính theo tỷ lệ của số tiền thuế giá trị
gia tăng chậm nộp hiện nay cũng không được coi là một biện pháp xử lý
hành chính hay biện pháp thay thế biện pháp xử lý vi phạm hành chính.
* Nguyên nhân của tình trạng vi phạm hành chính về thuế giá trị
gia tăng trong thời gian qua:
Thứ nhất, pháp luật về thuế giá trị gia tăng quy định diện được
hoàn thuế rộng trong khi ý thức pháp luật của người nộp thuế chưa tương
xứng, số tiền hoàn thuế thường lớn dẫn đến nảy sinh lòng tham của người
nộp thuế.
Thứ hai, hoạt động quản lý thuế chưa tương xứng với yêu cầu của
công tác quản lý cũng như sự chuyển dạng ngày càng tinh vi của hành vi
vi phạm; thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng với cơ
quan thuế nên không phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi gian lận
thuế.
Thứ ba, phương thức thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt giúp đối
cáo, 03 đơn còn lại do người nộp thuế khởi kiện vụ án ra toà hành chính
và không yêu cầu Cục thuế giải quyết khiếu nại.
2.3. Đánh giá chung về công tác xử lý vi phạm hành chính về thuế
giá trị gia tăng tại cục thuế tỉnh Đăk Lăk
2.3.1. Thành tựu và nguyên nhân
* Thành tựu
- Hoạt động xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng tại
Cục thuế tỉnh Đăk Lăk trong những năm gần đây đã nhận được sự chỉ đạo
kịp thời của Tổng cục thuế, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk cũng như các
cơ quan ban ngành trong tỉnh.
- Xử lý các hành vi vi phạm của người nộp thuế về thủ tục hồ sơ
kê khai thuộc phạm vi quản lý góp phần hạn chế các hành vi vi phạm
hành chính về thủ tục thuế.
- Trình tự, thủ tục xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia
tăng đã từng bước được hoàn thiện theo quy định của pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính về thuế được quy định tại các văn bản pháp luật.
- Công tác xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng đã
góp phần không nhỏ trong việc thay đổi nhận thức của cán bộ ngành thuế,
nâng cao trách nhiệm của cán bộ ngành thuế khi thực hiện công tác kiểm
tra, thanh tra và xử lý vi phạm hành chính về thuế.
* Nguyên nhân
- Thứ nhất, Cục thuế tỉnh luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo kịp
thời của Bộ Tài chính, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và Tổng cục thuế, cùng sự
17
phối hợp của cơ quan kiểm toán nhà nước, một số cơ quan ban ngành
trong tỉnh.
- Thứ hai, nhận thức của người nộp thuế về thuế giá trị gia tăng
phát hiện hành vi vi phạm hành chính.
* Nguyên nhân
- Thứ nhất, thể chế pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật về thuế
giá trị gia tăng còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ.
- Thứ hai, trình độ quản lý thuế của một số cán bộ còn yếu về
nghiệp vụ và kỹ năng quản lý, chưa chủ động tham mưu, đề xuất các biện
18
pháp xử lý vi phạm hành chính phù hợp, ý thức chấp hành pháp luật của
người nộp thuế chưa cao.
Công tác tuyên truyền chính sách pháp luật cho người nộp thuế
còn mang nặng tính hình thức, chưa có chiều sâu.
Công tác tổ chức thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
về thuế giá trị gia tăng chưa đồng bộ, thiếu thống nhất.
- Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động xử lý vi phạm
hành chính về thuế giá trị gia tăng chưa được quan tâm đúng mức.
- Thứ tư, hoạt động phối kết hợp giữa Cục thuế với các lực lượng
khác còn rời rạc, thiếu đồng bộ.
- Thứ năm, chưa quan tâm sử dụng công cụ tin học vào hoạt động
xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng.
Tiểu kết chương 2
Vi vi phạm pháp luật hành chính cũng như mọi hành vi vi phạm
pháp luật khác đều trực tiếp xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp
luật bảo vệ, gây nguy hiểm cho xã hội. Việc đấu tranh phòng chống các
vi phạm pháp luật hành chính luôn là một nhiệm vụ trọng yếu của quốc
gia.
Để đảm bảo cho hoạt động xử lý vi phạm hành chính về thuế giá
trị gia tăng được hiệu quả tại Cục thuế tỉnh Đăk Lăk thời gian tới cần phải
3.1.2. Hoàn thiện hoạt động xử lý vi phạm hành chính về thuế
giá trị gia tăng nhằm bảo đảm tính hệ thống và phù hợp với thực tiễn
Xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng phải phù hợp
với thực tiễn phát triển của xã hội và trong một trật tự thống nhất.
Hoạt động xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng chỉ
có thể phát huy tác dụng khi nó được vận dụng một cách hợp lý.
3.2. Giải pháp hoàn thiện hoạt động xử lý vi phạm hành
chính về thuế giá trị gia tăng
3.1.1. Giải pháp hoàn thiện thể chế pháp luật xử lý vi phạm
hành chính về thuế giá trị gia tăng
* Đối với Chính Phủ, Bộ Tài chính: Rà soát các quy định pháp
luật chưa đồng bộ, thiếu tính thực tiễn hoặc vi hiến, vi pháp tiến hành sửa
đổi, bổ sung hoặc thay thế cho phù hợp với chủ trương, chính sách pháp
luật của nhà nước và xu hướng phát triển của nền kinh tế quốc gia.
Xây dựng các quy định pháp luật phải rõ ràng, chi tiết, dễ diểu,
dễ áp dụng. Các hành vi vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng cần
mô tả chi tiết giúp cho việc phân định và nhận dạng hành vi được dễ
dàng, không quy định chung chung, hạn chế các quy định tuỳ nghi.
Quy định rõ trình tự, thủ tục xử lý hành vi vi phạm hành chính về
thuế giá trị gia tăng trong trường hợp xử lý vi phạm hành chính theo báo
cáo kết luận của cơ quan kiểm toán nhà nước, kết luận của các cơ quan có
thẩm quyền khác về hành vi vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng.
* Đối với Tổng Cục thuế: Hướng dẫn chi tiết, cụ thể, kịp thời và
thống nhất quy trình thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Đối với các quy định pháp luật chưa rõ ràng cần giải thích, hướng dẫn kịp
thời để ngành thuế áp dụng thống nhất.
* Đối với Cục thuế tỉnh Đăk Lăk: Tổng kết công tác thi hành
pháp luật xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng trong toàn
ngành, rà soát các quyết định xử lý vi phạm hành chính về thuế bị Toà án
- Tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn cho người nộp thuế về thực
hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng, khái
quát các hành vi vi phạm, hính thức và mức độ xử lý để người nộp thuế
dễ nắm bắt và phòng ngừa.
- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật xử lý vi phạm hành
chính về thuế giá trị gia tăng cho người nộp thuế, khuyến khích, khen
thưởng người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
- Phối hợp với các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền (Ban tuyên
giáo, Uỷ ban mặt trận tổ quốc, Hiệp hội doanh nghiệp), cơ quan truyền
thông trong và ngoài tỉnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật xử lý vi phạm
hành chính về thuế giá trị gia tăng cho người nộp thuế cũng như cộng
21
đồng dân cư để kịp thời phát hiện, xử lý hành vi vi phạm hành chính về
thuế giá trị gia tăng.
3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động xử lý
vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng.
Kiểm tra, thanh tra hoạt động xử lý vi phạm hành chính về thuế
giá trị gia tăng là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với việc thực
hiện nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng của người nộp thuế và thực hiện pháp
luật xử lý vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng.
Kiểm tra, đánh giá hồ sơ đăng ký thuế đăng ký áp dụng phương
pháp tính thuế giá trị gia tăng phù hợp với mô hình, loại hình kinh doanh
của doanh nghiệp (phương pháp khấu trừ hay trực tiếp). Tổ chức rà soát
toàn bộ hồ sơ khai thuế, tập trung phân tích, xác định các lĩnh vực, doanh
nghiệp có rủi ro cao về thuế để thực hiện thanh tra, kiểm tra tại trụ sở
người nộp thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những hành
vi vi phạm hành chính về thuế giá trị gia tăng.
Cục thuế nói riêng trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính về thuế giá
trị gia tăng.
Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích các tổ
chức, doanh nghiệp, cá nhân tự giác thực hiện các quy định pháp luật về
thuế, tố giác hành vi vi phạm pháp luật về thuế giá trị gia tăng; đồng thời
lắng nghe ý kiến phán ảnh từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong
quá trình xử lý vi phạm hành chính về thuế; kiên quyết chống mọi hành
vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để gian lận thuế.
3.2.6. Hiện đại công tác quản lý thuế và xử lý vi phạm hành
chính về thuế giá trị gia tăng bằng công cụ tin học.
Thứ nhất, ưu tiên đầu tư và phát triển các hệ thống tin như các
chương trình quản lý mã số đối tượng nộp thuế vi phạm pháp luật về thuế
giá trị gia tăng, quản lý hoá đơn, quản lý hoạt động xử lý vi phạm hành
chính về thuế giá trị gia tăng, …
Thứ hai, công khai việc thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành
chính về thuế giá trị gia tăng trên cổng thông tin điện tử của Cục thuế, các
bản tin thuế,… để tạo sức ép đối với người nộp thuế không chấp hành
nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng, đồng thời ngăn ngừa hành vi vi phạm hành
chính về thuế giá trị gia tăng có thể phát sinh liên quan đến việc xử lý vi
phạm hành chính của các chủ thể vi phạm.
Thứ ba, cần trú trọng đến công tác đào tạo cán bộ tin học, phải
tiến hành đào tạo thường xuyên và chất lượng đào tạo phải đặt lên hàng
đầu để phủ hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin, đồng
thời hạn chế các hành vi tấn công nhằm chiếm đoạt thông tin người nộp
thuế của tội phạm công nghệ cao.
Tiểu kết chương 3.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động xử lý vi phạm hành
chính về thuế giá trị gia tăng tại cục thuế tỉnh Đăk Lăk, luận văn đã bước
đầu xây dựng những giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo thực hiện hoạt động