BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
DỰ THẢO LUẬT TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG
BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
2
MỤC LỤC
PHẦN I - GIỚI THIỆU CHUNG.......................................................................................................................................5
1. Bối cảnh ban hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo...............................5
2. Sử dụng phương pháp đánh giá tác động pháp luật (RIA) trong việc đánh giá Dự
thảo Luật.................................................................................................................... 8
PHẦN II - ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH TRONG DỰ THẢO LUẬT................................9
Mỗi vùng biển và hải đảo là một hệ thống tài nguyên đa chức năng, việc xác định,
phân vùng rủi ro ô nhiễm để có giải pháp hiệu quả nhằm kiểm soát ô nhiễm môi
trường biển, bảo đảm việc khai thác, sử dụng các vùng biển phù hợp với các chức
năng và trong giới hạn chịu tải của hệ thống...........................................................24
Phương án này có tác động đáng kể đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; khắc
phục tình trạng biến đổi môi trường biển theo chiều hướng xấu; kiểm soát đối với
tình trạng chất thải không qua xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven biển đổ ra
biển, ô nhiễm một số khu vực biển ven bờ................................................................24
Tác động tích cực:........................................................................................................24
- Việc phân loại vật, chất không được phép nhận chìm ở biển; vật, chất được phép
nhận chìm ở biển khi đáp ứng các điều kiện đặc biệt; vật, chất được phép nhận chìm
ở biển cũng làm cơ sở cho việc quy định cụ thể việc cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung,
thu hồi, cho phép trả lại giấy phép nhận chìm ở biển...............................................27
- Giúp thuận lợi cho công tác của các hoạt động chấp pháp (kiểm tra sự phù hợp của
tài nguyên biển, hải đảo chưa khai thác, sử dụng theo quy định của pháp luật; bảo
vệ hành lang bảo vệ bờ biển trong phạm vi địa phương; phối hợp với cơ quan, tổ
chức bảo vệ hệ thống quan trắc, giám sát tài nguyên, môi trường biển đặt trên địa
bàn quản lý; tham gia ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển;
theo dõi, phát hiện và tham gia giải quyết sự cố gây ô nhiễm môi trường biển, sạt, lở
bờ biển;.................................................................................................................... 37
Ủy ban nhân dân cấp xã ven biển có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ tài
nguyên biển, hải đảo chưa khai thác, sử dụng theo quy định của pháp luật; bảo vệ
hành lang bảo vệ bờ biển trong phạm vi địa phương; phát hiện và tham gia giải
quyết sự cố môi trường biển, sạt, lở bờ biển............................................................37
PHẦN III - QUÁ TRÌNH THAM VẤN KHI THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ THẢO..........39
PHẦN IV - KẾT LUẬN CHUNG....................................................................................................................................39
4
PHẦN I - GIỚI THIỆU CHUNG
1. Bối cảnh ban hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng lớn về biển, hải đảo. Với diện tích
mặt biển trên một triệu km2, có bờ biển trải dài trên 3.260 km, với trên 3.000 đảo
lớn nhỏ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Biển, hải đảo Việt Nam có vai trò
đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời có vị trí hết
sức quan trọng về an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế trong khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, vấn đề khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo ở Việt
Nam cũng như tại nhiều khu vực, quốc gia đang đứng trước nhiều thách thức.
Hiện nay, trước sức ép của tốc độ gia tăng dân số ngày càng nhanh, nhu cầu
phát triển kinh tế ngày càng cao, trong bối cảnh các nguồn tài nguyên đất liền ngày
càng cạn kiệt, càng đẩy mạnh khuynh hướng tiến ra biển, khai thác biển, làm giàu
từ biển, nhưng thường đi kèm với đó lại là các phương thức khai thác thiếu tính bền
vững. Khai thác thiếu bền vững đã dẫn đến nhiều nguồn tài nguyên bị khai thác cạn
tăng về tần suất và mức độ ảnh hưởng của thiên tai bão lũ do biến đổi khí hậu …3.
Các vấn đề về môi trường, nhất là môi trường biển thường có tính quốc tế;
luật biển quốc tế đòi hỏi mỗi quốc gia phải tuân thủ nguyên tắc, tiêu chí môi trường
bền vững, có tổ chức bảo đảm đáp ứng các điều kiện môi trường cho hiện tại và
mai sau; mỗi cá nhân phải tuân thủ pháp luật quốc gia, pháp luật quốc gia phải phù
hợp pháp luật quốc tế. Điều này đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia
điều chỉnh các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hải đảo; đồng thời,
quy định của pháp luật quốc gia phải được hài hòa hóa với pháp luật quốc tế trong
bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay.
Để giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến biển, cần bảo đảm khai thác
hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, đặc biệt cần chú trọng việc
xây dựng, triển khai chính sách, biện pháp, chương trình, kế hoạch và giám sát
chúng nhằm khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải
đảo, phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi phải tăng cường các hoạt động quản lý
tổng hợp, thống nhất đối với tài nguyên biển và hải đảo theo hướng vừa bảo vệ/cân
bằng sinh học, vừa bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học; bảo đảm công
bằng giữa các thế hệ (đảm bảo thế hệ này và thế hệ sau có quyền tiếp cận nguồn tài
nguyên biển như nhau), đồng thời bảo vệ, duy trì và khôi phục biển, đảm bảo các
hệ sinh thái có khả năng phục hồi cao và cung cấp bền vững các hệ sinh thái, bảo
đảm, duy trì khả năng tiếp cận biển của xã hội; hỗ trợ các tổ chức, cá nhân tăng
cường khả năng sử dụng, khai thác các nguồn lợi từ biển.
Bên cạnh đó, việc thực hiện nghĩa vụ của mỗi quốc gia trong việc tuân thủ
các quy định của luật biển quốc tế cũng đòi hỏi Việt Nam phải phục vụ cho phát
triển kinh tế biển, quy hoạch, kế hoạch khai thác, sử dụng biển hiệu quả, bền vững
dựa trên nguyên tắc tiếp cận hệ sinh thái. Nguyên tắc tiếp cận hệ sinh thái cũng là
một trong những nguyên tắc quản trị quốc tế đối với biển; trên cơ sở đó mới bảo
3
Theo kết quả nghiên cứu tổng hợp từ báo cáo của Trung tâm về các giải pháp đại dương (Center
for Ocean Solutions), tại các nước giàu cũng như nước nghèo, tại các quốc gia, quần đảo, khu
của Chính phủ) đã thành lập Nhóm nghiên cứu gồm một số chuyên gia độc lập,
thành viên của Ban Soạn thảo và Tổ Biên tập để tiến hành đánh giá tác động của
Dự thảo Luật.
Mục tiêu thực hiện đánh giá tác động của Dự thảo Luật, trước mắt là cung
cấp cơ sở để trao đổi về nội dung của Dự thảo Luật một cách minh bạch và giúp
các cơ quan có thẩm quyền (Ban Soạn thảo, Chính phủ, Quốc hội) có đủ dữ liệu
đánh giá lợi ích và chi phí của các phương án đang xem xét, mục tiêu lâu dài là
giúp cho việc thực thi Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu quả, với
các giải pháp cụ thể, rõ ràng và khả thi hơn.
7
2. Sử dụng phương pháp đánh giá tác động pháp luật (RIA) trong việc
đánh giá Dự thảo Luật
Quy trình thực hiện đánh giá tác động của Dự thảo Luật được tiến hành theo
các quy trình chuẩn (thông lệ quốc tế) về đánh giá tác động của pháp luật. Quá
trình thực hiện đánh giá tác động của Dự thảo Luật đã đưa ra được các phương án
cụ thể, đánh giá các tác động tích cực và tiêu cực của các phương án đó và trình
bày kết quả đánh giá để so sánh các phương án với nhau một cách rõ ràng. Trong
quá trình đánh giá, nhiều phương án lựa chọn cho một số quy định trong Dự thảo
Luật đã được cân nhắc. Các thông tin về tác động tích cực và tác động tiêu cực của
các phương án lựa chọn cũng đã được đưa ra thảo luận. Các thông tin đó đặc biệt
có ích khi còn có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung của Dự thảo Luật.
Nhóm nghiên cứu đã xác định các vấn đề cần ưu tiên đánh giá theo một
phương pháp có hệ thống, chọn ra được 5 vấn đề quan trọng nhất cần phân tích tác
động và xác định phương án giải quyết cho từng vấn đề. Tổng cộng có 15 phương
án/lựa chọn/giải pháp được xem xét trong quá trình đánh giá tác động của 5 vấn đề
nêu trên (có phương án lại có nhiều lựa chọn/phương án khác nhau). Mỗi vấn đề se
có một giải pháp có tính chất vạch ranh giới - giải pháp giữ nguyên hiện trạng, tức
Sau khi so sánh tác động ảnh hưởng về mặt lợi ích - chi phí của các giải
pháp khác nhau (xem Phần II Báo cáo), Nhóm nghiên cứu thấy rằng nếu chọn lựa
các giải pháp có lợi nhất thì cần lựa chọn các phương án sau đây:
1. Phương án 1D của vấn đề 1
2. Phương án 2C của vấn đề 2
3. Phương án 3B4 của vấn đề 3
4. Phương án 4D của vấn đề 4
5. Phương án 5B của vấn đề 5
PHẦN II - ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH
TRONG DỰ THẢO LUẬT
1. Vấn đề 1: Nhiệm vụ quản lý tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển
và hải đảo
1.1. Xác định vấn đề:
Nội dung quản lý tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Quá trình hiện đại hoá đất nước, quá trình phát triển kinh tế với tốc độ tăng
trưởng kinh tế nhanh trong giai đoạn vừa qua đã trở thành thách thức đối với toàn
xã hội trong vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường biển. Vấn đề khai thác tài nguyên
và bảo vệ môi trường biển và hải đảo ở nước ta đang đứng trước nhiều thách thức
(do các hoạt động du lịch, vận tải, khai thác hải sản, các loài thuỷ sinh và khoáng
sản; hoạt động xử lý chất thải, hoạt động nghiên cứu khoa học biển; …). Một số tài
nguyên biển có nguy cơ bị khai thác cạn kiệt, môi trường biển nhiều nơi bị ô nhiễm
đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng.
Việc khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ của các tổ chức, cá nhân chưa
thực sự hiệu quả, chưa đem lại giá trị kinh tế cao, mặt khác, ở nhiều nơi, tình trạng
khai thác tài nguyên vùng bờ lại ở mức báo động về khả năng suy thoái. Trên thực
tế, các ngành nông nghiệp, công nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy hải sản … theo
9
các dự án của ngành đã được phê duyệt, nhưng chưa có sự quản lý khai thác thống
tin và dữ liệu, chất lượng qui hoạch, kế hoạch còn yếu và bị động. Hiện số liệu,
thông tin về khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo vẫn bị phân tán, thiếu
tính gắn kết và không đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ để đáp ứng yêu cầu,
mục tiêu quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển, hải đảo; chưa được tích hợp
4
Đặc biệt là ở vùng bờ, nơi tập trung sôi động các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nên việc
sử dụng cạnh tranh các nguồn tài nguyên chia sẻ ở vùng này chưa tương thích với việc quản lý tài
nguyên và môi trường theo hướng bền vững.
10
thành cơ sở dữ liệu chung cho thống nhất, hiện đại để phục vụ cho việc hoạch định
chính sách phát triển kinh tế biển, đảo, đảm bảo an ninh - quốc phòng.
1.2. Mục tiêu giải quyết vấn đề
• Khai thác hiệu quả, bền vững biển và hải đảo và các nguồn lợi từ biển trên
cơ sở tiếp cận hệ sinh thái;
• Kiểm soát chặt che ô nhiễm môi trường và phòng ngừa suy thoái môi trường
biển và hải đảo;
• Tăng cường trách nhiệm bảo vệ môi trường biển và hải đảo, hệ sinh thái biển
của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong quá trình khai thác, sử
dụng tài nguyên biển và hải đảo;
• Tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong
quản lý và khai thác tài nguyên biển và hải đảo.
•
•
•
•
Tác động đối với Nhà nước: Nếu giữ nguyên như hiện nay thì vẫn tồn tại các
bất cập trong công tác quản lý, sử dụng tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, dẫn
đến tàn phá hoặc lãng phí tài nguyên; làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường
và điều kiện sống, sức khỏe của người dân.
Nhà nước se phải mất nhiều chi phí để khắc phục hậu quả do khai thác tài
nguyên biển và hải đảo quá mức, gây ô nhiễm môi trường. Bởi le, việc khai thác,
sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo hiện chưa dựa vào chức
năng của từng khu vực biển và trong giới hạn chịu tải của môi trường, hệ sinh thái
biển, hải đảo mà phần nhiều phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng của tổ chức, cá nhân.
Ngoài ra, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải
đảo chưa được tổng hợp, tích hợp đầy đủ cũng dẫn đến những khó khăn trong công
tác xây dựng chiến lược, quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi
trường biển, hải đảo.
Việc thiếu hoặc không có các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch se không giải
quyết được một cách tổng thể các vấn đề bất cập hiện nay là ô nhiễm biển có nguồn
gốc từ biển và từ đất liền đến mức báo động; cũng không có biện pháp rõ ràng để
ứng phó, khắc phục sự cố môi trường, thiên tai trên biển và vùng ven biển, bảo vệ
và cải thiện môi trường các khu vực trọng điểm tại các vùng biển; thiếu các giải
pháp phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động du lịch, hàng hải;
khoan, thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu khí; khai thác khoáng sản; đánh bắt cá,
nuôi trồng thuỷ sản; thải đổ bùn nạo vét luồng giao thông thủy, công trình biển…
Tác động đối với tổ chức, cá nhân: Xã hội và người dân phải gánh chịu
những hậu quả nặng nề do ô nhiễm môi trường biển, tài nguyên biển bị khai thác
cạn kiệt và thiếu cân đối giữa các vùng biển cũng se ảnh hưởng đến nhiều phương
diện kinh tế biển (du lịch, đánh bắt cá, nuôi trồng thuỷ sản...) cũng như sinh kế của
người dân vùng ven biển.
1.4.2 Tác động của Phương án 1B: xây dựng Chiến lược khai thác, sử dụng
bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo
Tác động về môi trường: Góp phần khai thác bền vững, quản lý, bảo vệ
hiệu quả tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, góp phần khai thác hiệu quả kinh
lược và phê duyệt chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi
trường biển và hải đảo
- Chi phí cho việc đào tạo, bồi dưỡng, tăng cường năng lực và tổ chức cán bộ
làm công tác xây dựng chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ
môi trường biển và hải đảo.
- Chi phí cho ho t n g nghiên c u, i u tra c b n v tài nguyên, môi
tr ng bi n và h i o
ph c v công tác xây d ng Chi n l c này, n g th i
c ng phát sinh thêm chi phí tuyên truy n v quy nh c ng nh cách th c xây d ng,
th c hi n Chi n l c khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên,bảo vệ môi trường
biển và hải đảo
1.4.3 Tác động của Phương án 1C: Như Phương án 1B nhưng bổ sung
thêm quy định về lập quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên
vùng bờ, lập bản đồ phân vùng khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ
13
Ngoài một số tác động tích cực, tiêu cực của Phương án 1B, phương án 1C
có các tác động sau đây:
Tác động về môi trường: Góp phần khai thác bền vững, quản lý, bảo vệ
hiệu quả tài nguyên, môi trường biển, góp phần khai thác hiệu quả kinh tế biển và
các nguồn lợi từ biển tương thích với việc quản lý tài nguyên và môi trường theo
hướng bền vững.
Tác động tích cực:
Việc lập quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng
bờ, lập bản đồ phân vùng khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ là cơ sở
cho các hoạt động quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ, khắc
phục hậu quả tác hại do khai thác quá mức, không hợp lý tài nguyên vùng bờ gây
ra. Cụ thể một số lợi ích của phương án 1C là:
- Tăng cường nhận thức về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển của các
- Khắc phục tình trạng khai thác, sử dụng biển và hải đảo chưa hiệu quả,
thiếu bền vững do khai thác tự phát, thiếu hoặc không tuân thủ quy hoạch biển,
đảo, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích trong sử dụng đa ngành ở vùng ven
biển, biển và hải đảo. Đặc biệt là khắc phục tình trạng hay cách tiếp cận
“nóng” trong khai thác tài nguyên biển đang là hiện tượng phổ biến ở các lĩnh
vực kinh tế biển, mới chú trọng nhiều đến sản lượng, số lượng, ít chú ý đến chất
lượng và lợi ích lâu dài của các dạng tài nguyên ở các vùng biển khác nhau.
- Khắc phục tình trạng biển, đảo và vùng ven biển nước ta vẫn chủ yếu
được quản lý theo cách tiếp cận mở kiểu “điền tư, ngư chung” và chủ yếu quản
lý theo ngành thông qua các “luật pháp, chính sách ngành”, là nguyên nhân dẫn
đến sự chồng chéo về quản lý giữa khoảng 15 bộ ngành về biển, dẫn đến
chính sách quản lý thiếu đồng bộ, mâu thuẫn và hiệu lực thi hành thấp.
- Trên cơ sở quy hoạch tổng thể và phân vùng khai thác, sử dụng, có thể chú
trọng các biện pháp tái tạo, chú trọng các giá trị chức năng, phi vật chất và có
khả năng tái tạo của các hệ thống tài nguyên biển như: giá trị vị thế của các
mảng không gian biển, ven biển và hải đảo; giá trị dịch vụ của các hệ sinh thái;
thậm chí các giá trị văn hóa biển, phát triển kinh tế biển hiệu quả và bền vững.
Đồng thời, việc phân vùng, quy hoạch cũng giúp thuận lợi cho việc áp dụng các
công nghệ biển tiên tiến, các phương thức quản lý biển mới đối với từng vùng biển
khác nhau, góp phần gia tăng các giá trị kinh tế biển. Qua đó, thúc đẩy khả năng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành kinh tế biển ở Việt Nam trong thời gian
tới.
Tác động tiêu cực:
Tác động đối với nhà nước
- Nhà nước phải tăng thêm chi phí, nhân sự cho công tác lập quy hoạch và
phê duyệt quy hoạch. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng phải đồng thời có các chi phí
cho việc lập kế hoạch vì sau khi có quy hoạch thì cũng phải xây dựng kế hoạch.
- Tăng thêm chi phí cho hoạt động điều tra cơ bản tốt để làm cơ sở cho việc
lập quy hoạch chi tiết.
- Chính quyền địa phương cấp tỉnh phải tăng cường năng lực và tổ chức cán
cho doanh nghiệp, cá nhân có thêm thông tin phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh
doanh hay nghiên cứu của họ; đồng thời việc tra cứu thông tin nhanh chóng, hiệu
quả; bảo đảm tính chính xác, độ tin cậy cao của thông tin do nguồn thông tin được
cung cấp bởi cơ quan quản lý nhà nước trung ương về môi trường.
Tác động tiêu cực:
Tác động đối với Nhà nước: Nhà nước se phải đầu tư một khoản kinh phí
khá lớn để có thể thu thập, tổng hợp, xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu về tài
nguyên, môi trường biển và hải đảo. Nhà nước cũng phải xây dựng bộ máy đánh
giá chất lượng thông tin và xây dựng cơ chế thương mại hóa nguồn thông tin này.
Tác động đối với tổ chức, cá nhân: tác động tích cực của phương án này đối
với tổ chức, cá nhân không rõ nét.
16
1.5 So sánh tác động của các phương án
Qua đánh giá tác động của từng phương án cho thấy, mỗi phương án đều có
những ưu điểm, nhược điểm, có mặt tích cực, tiêu cực của nó nhưng phương án
đem lại nhiều tác động tích cực và ít tác động tiêu cực hơn cả là phương án 1D.
1.6 Kết luận và kiến nghị
Qua kết quả đánh giá tác động của vấn đề quản lý tổng hợp tài nguyên, môi
trường biển và hải đảo, Nhóm nghiên cứu thấy rằng phương án/giải pháp tối ưu
nhất là Phương án 1D. Tuy nhiên, giải pháp này chỉ có hiệu quả nếu được tiến hành
đồng bộ các giải pháp khác, đặc biệt là vấn đề bảo vệ, kiểm soát ô nhiễm môi
trường biển, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan trung ương, địa phương trong
việc thống nhất quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (vấn đề 3,
vấn đề 5).
2. Vấn đề 2: Hoạt động điều tra cơ bản, quan trắc về tài nguyên, môi
trường biển và hải đảo
2.1. Xác định vấn đề
Hiện nay, chúng ta còn thiếu số liệu, thông tin giúp công tác họach định
từng bước đáp ứng được đòi hỏi của công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường. Xây dựng được nhiều báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm, giám sát và
dự báo được diễn biến chất lượng môi trường. Nhờ đó, cơ quan quản lý nhà nước
đưa ra các quyết định liên quan đến kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải, ứng
phó sự cố môi trường...Tuy nhiên, công tác quan trắc môi trường ở nước ta vẫn còn
nhiều bất cập, hạ tầng kỹ thuật thấp kém, trong khi đó, đầu tư cho công tác này vừa
ít, vừa phân tán, đôi khi còn lãng phí nguồn lực. Số liệu quan trắc chưa được chuẩn
hoá và quản lý thống nhất. Đặc biệt là chưa phục vụ trực tiếp việc xây dựng, ban
hành các quyết định về chính sách, về đầu tư phát triển. Đến nay, vẫn chưa có chiến
lược hoặc lộ trình tổng thể nhằm phát triển hệ thống môi trường quốc gia. Công tác
quản lý các trạm quan trắc và quan trắc còn phân tán, cơ chế phối hợp còn nhiều
hạn chế.
Có thể, vì những bất cập và hạn chế trên, nên môi trường ở nước ta đang bị
xâm hại nghiêm trọng, mức độ ô nhiễm ngày càng cao và luôn làm đau đầu các nhà
quản lý. Trong khi đó, những thông tin cảnh báo, cũng như những số liệu thể hiện
tình trạng ô nhiễm được đưa ra quá chậm, đã làm tình trạng ô nhiễm ngày càng
trầm trọng.
Để khắc phục tình trạng trên, cần cũng cố hệ thống quan trắc môi trường
quốc gia. Trong đó, đề cao việc tăng cường năng lực quan trắc môi trường tại địa
phương, xây dựng cơ chế phối hợp quan trắc, tổ chức công bố thông tin môi trường
cho cộng đồng...
2.2. Mục tiêu giải quyết vấn đề
•
Nhằm có đầy đủ các thông tin khoa học, chính xác phục vụ cho quản lý vi
mô, quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
• Nhằm đánh giá có hiệu quả, chính xác các nguồn lợi từ biển; phục vụ cho
hoạt động khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên biển trên
cơ sở bảo vệ môi trường và tiếp cận hệ sinh thái.
tài nguyên, môi trường biển
Tác động về môi trường: Góp phần khai thác bền vững, quản lý, bảo vệ
hiệu quả tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, góp phần khai thác hiệu quả kinh
tế biển và các nguồn lợi từ biển tương thích với việc quản lý tài nguyên và môi
trường theo hướng bền vững.
Tác động tích cực
Tác động đối với nhà nước:
- Điều tra cơ bản góp phần cơ bản vào việc lập chiến lược khai thác, sử dụng
bền vững tài nguyên biển, quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững, hiệu
quả tài nguyên vùng bờ.
19
- Các số liệu điều tra cơ bản cung cấp những thông tin quan trọng, giúp công
tác họach định chính sách biển có hiệu quả cao, đồng thời cung cấp cơ sở thông tin
khoa học để bố trí không gian và phát triển các vùng biển phù hợp với sinh thái của
từng vùng, hướng tới mục tiêu sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường
biển.
Tác động đối với tổ chức, cá nhân: Tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp được lợi
từ các số liệu điều tra cơ bản, giảm chi phí tự bỏ ra cho các hoạt động nghiên cứu,
sản xuất, kinh doanh cần đến các số liệu, dữ liệu, thông tin. Tuy nhiên, lợi ích này
chỉ đáng kể trong điều kiện các cơ quan nhà nước quản lý thông tin, dữ liệu chia sẻ
nguồn thông tin này và có sự kiểm soát thông tin một cách hợp lý; mặt khác, không
phải ai cũng dễ dàng tiếp cận các số liệu điều tra cơ bản. Phương án này se đem lại
nhiều lợi ích nếu kết hợp với giải pháp của vấn đề 1 là xây dựng hệ cơ sở dữ liệu và
công khai thông tin.
Tác động tiêu cực:
Tác động đối với nhà nước:
Tổ chức điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nếu được
thực hiện một cách quy mô, cùng với việc xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu về
nguyên, môi trường biển, giám sát, cảnh báo việc khai thác, sử dụng tài nguyên
biển thiếu bền vững, duy trì hệ thống cảnh báo, dự báo lũ, lụt, hạn hán, xâm nhập
mặn, nước biển dâng, tràn …
Tác động đối với khu vực tư nhân: Không phát sinh tác động tiêu cực đối với
doanh nghiệp, người dân.
3. Vấn đề 3: Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo
3.1. Xác định vấn đề
Hiện nay, môi trường biển đang bị suy thoái nghiêm trọng, nguồn tài
nguyên biển Việt Nam chưa được bảo vệ và khai thác bền vững. Việc khai thác tài
nguyên biển chưa tiếp cận theo phương thức bảo vệ hệ sinh thái biển và phát triển
bền vững. Quá trình phát triển kinh tế nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện lực lượng sản xuất thấp kém, nền kinh
tế thị trường chưa hoàn thiện và việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên không được kiểm soát chặt che đã làm cho môi trường, trong đó có môi
trường biển bị ô nhiễm nghiêm trọng. Các phương thức khai thác thiếu tính bền
vững xuất phát từ nền công nghiệp Việt Nam còn lạc hậu; các hoạt động khai thác
chủ yếu chỉ tập trung vào các mục tiêu phát triển kinh tế để đạt được các mong
muốn tối đa làm cho việc bảo vệ môi trường biển và hải đảo đứng trước nhiều
thách thức.
Môi trường biển nhiều nơi bị ô nhiễm đến mức báo động đã gây ra nhiều
thiệt hại nghiêm trọng. Nếu như trên đất liền, vấn đề về ô nhiễm và suy thoái môi
trường có cả nguyên nhân từ chiến tranh và lịch sử để lại thì ô nhiễm môi trường
biển chủ yếu mới nảy sinh do quá trình phát triển kinh tế và bất cập này lại có phần
nghiêm trọng hơn. Cùng với sự suy giảm, cạn kiệt nhiều nguồn lợi biển do khai
thác, sử dụng không hợp lý và thiếu tính bền vững, môi trường biển ở Việt Nam
đang chịu nhiều thách thức và các mối đe dọa se trầm trọng hơn khi dân cư ven
biển ngày càng tăng, các hoạt động kinh tế ven biển ngày càng phát triển, nhiều cửa
sông ven biển bị ô nhiễm do nước thải từ các khu công nghiệp, khu đô thị thải ra.
21
động kiểm soát ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, hải đảo, bảo vệ và phát triển
môi trường sinh thái biển và hải đảo còn nhiều bất cập. Các quy định của pháp luật
về vấn đề này chỉ tập trung giải quyết các vấn đề phát sinh trong từng ngành, lĩnh
vực mình quản lý; chưa có các quy định kiểm soát ô nhiễm liên vùng, ô nhiễm
xuyên biên giới hay cơ chế phối hợp trong kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và
5
/>6
Theo tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới (chiếm
6,5% số loài có trên thế giới)
7
/>
22
hải đảo. Bên cạnh đó là những khó khăn về kinh tế và chính sách chưa đồng bộ ảnh
hưởng đến việc giải quyết những sự cố môi trường.
3.2. Mục tiêu giải quyết vấn đề
• Tăng cường kiểm soát, ngăn ngừa các nguồn ô nhiễm biển và bảo vệ môi
trường biển, hải đảo
• Đẩy mạnh các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm môi trường;
• Tăng cường các biện pháp quản lý tổng hợp nhằm bảo vệ tài nguyên biển và
hải đảo hợp lý, hiệu quả, bảo đảm phát triển kinh tế bền vững và bảo vệ môi
trường.
3.3. Các phương án để lựa chọn
• Phương án 3A : Giữ nguyên
• Phương án 3B: Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
• Phương án 3B1: Phân vùng, phân cấp rủi ro ô nhiễm, lập bản đồ phân vùng
rủi ro ô nhiễm
• Phương án 3B2: Như Phương án 3B1 bổ sung thêm quy định về ứng phó,
lĩnh vực môi trường).
- Nhà nước không được lợi gì mà mất nhiều chi phí để khắc phục hậu quả do
ô nhiễm môi trường biển;
Tác động đối với doanh nghiệp, người dân
- Các tồn tại, bất cập nêu trên làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường
và điều kiện sống, sức khỏe của người dân; xã hội phải chịu hậu quả nặng nề và lâu
dài do ô nhiễm môi trường biển.
- Ý thức của người dân, ý thức của doanh nghiệp, cộng đồng và các cơ quan,
tổ chức, cá nhân về bảo vệ môi trường biển thấp, mức độ tuân thủ pháp luật không
cao.
3.4.2 Tác động của Phương án 3B: Kiểm soát ô nhiễm
Tác động của Phương án 3B1: Phân vùng, cấp rủi ro ô nhiễm, lập bản đồ
phân vùng rủi ro ô nhiễm
Tác động về môi trường:
Mỗi vùng biển và hải đảo là một hệ thống tài nguyên đa chức năng, việc xác
định, phân vùng rủi ro ô nhiễm để có giải pháp hiệu quả nhằm kiểm soát ô nhiễm
môi trường biển, bảo đảm việc khai thác, sử dụng các vùng biển phù hợp với các
chức năng và trong giới hạn chịu tải của hệ thống.
Phương án này có tác động đáng kể đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển;
khắc phục tình trạng biến đổi môi trường biển theo chiều hướng xấu; kiểm soát đối
với tình trạng chất thải không qua xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven biển đổ ra
biển, ô nhiễm một số khu vực biển ven bờ.
Tác động tích cực:
Tác động đối với Nhà nước:
- Việc phân vùng, phân cấp rủi ro ô nhiễm, lập bản đồ phân vùng rủi ro ô
nhiễm để có giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường biển hiệu quả đang trở thành
vấn đề cần thiết và cấp bách, chúng ta cần phải nghiên cứu, phân vùng, phân cấp
24
phê duyệt kế hoạch phục hồi môi trường; tổ chức thực hiện, bồi thường thiệt hại
của chủ cơ sở gây sự cố; sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc ứng
phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển).
Ngoài một số tác động tích cực, tiêu cực của Phương án 3B1, phương án 3B2
có các tác động sau đây:
25