MỞ ĐẦU
Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng,
là hạt nhân chính trị lãnh đạo mọi mặt ở cơ sở. Tổ chức cơ sở Đảng (TCCSĐ)
có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối
của Đảng ở cơ sở và góp phần hoàn thiện đường lối của Đảng. Vì vậy, coi
trọng xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các TCCSĐ
là nội dung cơ bản, là vấn đề có tính quy luật trong xây dựng, đổi mới và
chỉnh đốn Đảng của các Đảng Cộng sản trên thể giới cũng của Đảng ta trong
giai đoạn cách mạng hiện nay.
Từ khi ra đời đến nay (03/02/1930); Đảng ta đặc biệt quan tâm đến
công tác Tổ chức xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của TCCSĐ. Qua mỗi bước phát triển của cách mạng, qua mỗi kỳ Đại hội
Đảng, vấn đề xây dựng, củng cố TCCSĐ đều được tổng kết và nâng lên một
tầng cao mới. Do đó, công tác xây dựng Đảng đã đạt được nhiều kết quả tích
cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng
lên; phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước được đổi mới; vai trò lãnh đạo
của Đảng được giữ vững, niềm tin của nhân dân đối với Đảng ngày càng được
củng cố; đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành
và tiến bộ về nhiều mặt. Những thành tựu đạt được trong hơn 25 năm đổi mới
là thành quả của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; trong đó có sự đóng
góp to lớn của các cấp ủy, TCCSĐ trong toàn Đảng ta.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn
tồn tại không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm
kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của
nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa kịp thời sẽ là thách thức đối
với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ . Trước yêu cầu của
công cuộc đổi mới, đòi hỏi Đảng ta, các TCCSĐ phải tự đổi mới, tự chỉnh
đốn; củng cố xây dựng đội ngũ để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu,
đủ sức để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ cơ sở. Do đó Đảng ta phải
Theo website “dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn” của Viện Từ
điển học và bách khoa toàn thư Việt Nam thì tổ chức cơ sở đảng là: “hình
thức nền tảng trong hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Gồm các
chi bộ, đảng bộ, được thành lập ở các đơn vị cơ sở: đơn vị hành chính (xã,
phường, thị trấn), đơn vị sự nghiệp (trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu
khoa học, vv.), đơn vị kinh tế (công ti, hợp tác xã, ngân hàng, vv.), cơ quan
hành chính, đơn vị vũ trang, vv; đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ:
huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh”.
Điều 21. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (Được Đại hội đại biểu
toàn Quốc lần thứ XI của Đảng thông qua ngày 19 tháng 01 năm 2011)
“1. Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của
Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở.
2. Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ
chức cơ sở đảng (trực thuộc cấp uỷ cấp huyện). Ở cơ quan, doanh nghiệp,
hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có
từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc
chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở); cấp uỷ cấp trên trực tiếp xem xét, quyết
định việc tổ chức đảng đó trực thuộc cấp uỷ cấp trên nào cho phù hợp; nếu
chưa đủ ba đảng viên chính thức thì cấp uỷ cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng
viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp.
3. Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có
các tổ đảng trực thuộc.
4. Tổ chức cơ sở đảng có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ cơ
sở, có các chi bộ trực thuộc đảng uỷ” (3, tr 35- 36).
3
Như vậy, tổ chức cơ sở đảng là cấp thấp nhất trong hệ thống tổ chức
theo 4 cấp của Đảng; là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở.
1.2. Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng .
chức cơ sở đảng còn là nơi giáo dục, tổ chức, động viên quần chúng nhân dân
thực hiện có hiệu quả cương lĩnh chính trị, đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân giàu,
nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở phải là trung tâm quy tụ, tập hợp được mọi
lực lượng quần chúng ở cơ sở thành khối đại đoàn kết, thống nhất ý chí và
hành động, tạo ra sức mạnh tổng hợp để hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị ở
cơ sở.
Tổ chức cơ sở đảng sẽ không làm tốt vai trò hạt nhân chính trị mình
nếu không quán triệt đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng, vi phạm Điều lệ
Đảng, không làm tốt công tác xây dựng Đảng, quản lý đảng viên, nội bộ mất
đoàn kết, xa rời quần chúng, bị lôi cuốn vào những việc làm tự phát, coi
thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước; sinh hoạt đảng và chất lượng đảng
viên ở đó yếu kém.
1.3. Chức năng của tổ chức cơ sở đảng.
- Chi bộ, đảng bộ cơ sở có chức năng lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ
và hoạt động ở cơ sở theo đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, lãnh đạo công tác phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an
ninh… đạt hiệu quả.
- Chi bộ, đảng bộ cơ sở có chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị đối
với chính quyền, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, sự nghiệp, công tác và các
tầng lớp nhân dân ở cơ sở.
- Mỗi chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở là một bộ phận không tách rời
của đảng bộ cơ sở, chính vì vậy mọi hoạt động của đảng bộ cơ sở diễn ra
thường xuyên và chủ yếu ở các chi bộ. Chi bộ có mạnh thì nền tảng của Đảng
mới vững.
5
1.5. Sự thống nhất hai mặt của một vấn đề “nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng”.
Trước hết, ta cần hiểu năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng là gì? Trong cụm từ này là có hai ý nghĩa cần phải hiểu.
Ý nghĩa thứ nhất, năng lực lãnh đạo là gì? Tại sao phải Đảng phải có
năng lực lãnh đạo? Năng lực lãnh đạo là muốn nói đến khả năng lãnh đạo của
Đảng bằng đường lối, Nghị quyết, bằng phương thức lãnh đạo, tức là trí tuệ
của Đảng. Đảng là một cơ thể sống, năng lực lãnh đạo chính là khả năng làm
việc của cơ quan chỉ huy cũng giống như ở con người là khả năng làm chủ
bản thân và điều khiển hành vi của mình đó là “bộ óc”.
“Bộ óc” của Đảng ở cơ sở chính là cơ quan lãnh đạo của tổ chức cơ sở
đảng, cao nhất là Đại hội Đảng bộ hoặc Đại hội Đại hội đảng viên cơ sở, bộ
phận được giao nhiệm vụ thường trực lãnh đạo công tác ở cơ sở là Cấp ủy
Đảng. Năng lực lãnh đạo là một trong hai mặt thống nhất của một vấn đề, yếu
tố đó hợp thành năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là khả năng ra các quyết định
lãnh đạo, khả năng làm chủ của Đảng đối với hệ thống chính trị ở cơ sở, khả
năng cụ thể hóa các đường lối, nghị quyết của cấp trên.
Ý nghĩa thứ hai, sức chiến đấu của Đảng là gì? Tại sao phải Đảng
phải có sức chiến đấu? Sức chiến đấu của Đảng chính là sức mạnh vật chất
mà Đảng có được, điều đó được thể hiện ở phương diện tổ chức của Đảng, là
tính chặt chẽ và nghiêm minh về tổ chức, là yếu tố con người của Đảng. Sức
chiến đấu của Đảng là khả năng thực hiện các quyết sách lãnh đạo bằng hoạt
động, khả năng bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ cán bộ, đảng viên của Đảng.
Nếu như năng lực lãnh đạo là “bộ óc” của Đảng thì sức chiến đấu là
sức mạnh cơ bắp của Đảng, sức mạnh cơ bắp ấy làm cho Đảng có thể nằm gai
nếm mật trong những thời kì khó khăn, thử thách và khả năng hoàn thành
nhiệm vụ chính trị trong khi đã có chính quyền. Đảng phải có sức mạnh đó là
sở đảng được xác định phù hợp hơn. Công tác phát triển, quản lý, nâng cao
chất lượng đảng viên được quan tâm chỉ đạo. Số lượng đảng viên mới kết nạp
hằng năm đều tăng; tỉ lệ đảng viên mới kết nạp trong độ tuổi thanh niên,
đảng viên nữ, người dân tộc thiểu số, trí thức tăng hơn khoá trước. Sau hơn
hai năm triển khai thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28-8-2006 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về đảng viên làm kinh tế tư nhân,
đã có nhiều đảng viên trước đây công tác ở các cơ quan đảng, nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp nhà nước, tham gia
phát triển kinh tế tư nhân để làm giàu chính đáng cho bản thân, đóng góp
tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội.
Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được các cấp uỷ, tổ chức đảng quan
tâm chỉ đạo; tiếp tục giải quyết những vấn đề lịch sử chính trị, đồng thời chú
trọng nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay.
9
Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới, vừa bảo đảm
sự lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy tốt hơn tính chủ động, sáng tạo của các
tổ chức trong hệ thống chính trị. Việc mở rộng, phát huy dân chủ trong Đảng
được chú trọng; đã thí điểm chủ trương đại hội đảng bầu trực tiếp ban
thường vụ, bí thư, phó bí thư. Phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan
lãnh đạo Đảng từ trung ương đến cơ sở tiếp tục được cải tiến theo hướng sâu
sát cơ sở, gần gũi nhân dân, tăng cường đôn đốc, kiểm tra, giám sát” (2, tr
163- 165).
Có được những kết quả tiến bộ đó là do sự nỗ lực phấn đấu của toàn
Đảng, toàn dân trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, cụ thể là:
Thứ nhất, nhiều cấp ủy viên và cán bộ, đảng viên đã được rèn luyện,
thử thách, trưởng thành qua thực tiễn công tác; kiên định lập trường giai cấp
công nhân, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
đường lối đổi mới của Ðảng; gương mẫu thực hiện quan điểm, đường lối của
rõ ràng. Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm; thiếu cơ chế, chính sách cụ
thể để thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ, phát hiện và sử dụng
người tài; chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ
nhiệm, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu.
Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương
chưa được khắc phục. Công tác cán bộ thiếu tầm nhìn xa. Chất lượng đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ thấp. Môi trường làm việc, chính sách cán bộ chưa tạo được
động lực để khuyến khích, thu hút, phát huy năng lực, sự cống hiến của cán
bộ; chưa cổ vũ ý chí phấn đấu vươn lên, sự gắn bó, tận tụy của cán bộ đối với
công việc.
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn
thấp; công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nền nếp,
nội dung sinh hoạt nghèo nàn, tự phê bình và phê bình yếu. Việc xây dựng tổ
chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài còn chậm, vai trò của tổ chức đảng ở đây mờ nhạt. Động cơ phấn
đấu vào Đảng của một số người có biểu hiện lệch lạc, cơ hội.
11
Việc xử lý, sử dụng và quản lý cán bộ, đảng viên có vấn đề lịch sử
chính trị còn phiến diện, thiếu chặt chẽ. Việc xem xét, giải quyết những vấn
đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên còn lúng túng. Nhiều cấp uỷ, tổ
chức đảng chưa quan tâm chỉ đạo đúng mức công tác này.
Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra, giám sát và
thi hành kỷ luật đảng, chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao;
chưa coi trọng việc kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chủ trương, chỉ thị,
nghị quyết, thi hành Điều lệ Đảng, kiểm tra, giám sát phòng ngừa tiêu cực và
phát huy nhân tố tích cực. Nhiều khuyết điểm, sai lầm của đảng viên và tổ
chức đảng chậm được phát hiện. Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy
phố; tổ chức của chi bộ không đồng bộ với các đoàn thể quần chúng trên địa
bàn. Nhiều thôn, khu phố, cụm dân cư đông đảng viên phải thành lập nhiều
chi bộ nhưng không lập đảng bộ bộ phận, việc lãnh đạo đối với các chi bộ và
tổ chức chính quyền, các đoàn thể quần chúng trên địa bàn dân cư bị chia cắt.
Nhiều đảng bộ cơ sở ở cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp hoạt động
phân tán trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố nhưng tổ chức đảng và các đoàn
thể quần chúng nơi trực thuộc ngành dọc, nơi trực thuộc cấp uỷ địa phương,
công tác xây dựng đảng không gắn với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị
và các đoàn thể quần chúng. Một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty hoạt
động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, phạm vi hoạt động trong cả
nước nhưng tổ chức đảng ở công ty mẹ và các công ty thành viên lại trực
thuộc nhiều cấp uỷ khác nhau; công tác xây dựng đảng chưa gắn với lãnh đạo
thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh.
Ba là, công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên và
việc bố trí bí thư cấp uỷ cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu. Nội dung, chương trình
đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cấp uỷ viên, bí thư chi bộ và
cán bộ chủ chốt chưa coi trọng bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ và kinh
nghiệm xử lý các tình huống thường xảy ra ở cơ sở. Khi có những vấn đề
phức tạp xảy ra ở cơ sở và thuộc trách nhiệm của cơ sở, phần lớn cán bộ lúng
túng, bị động và không giải quyết dứt điểm. Một số cơ quan, đơn vị sự
nghiệp, doanh nghiệp có đông đảng viên nhưng không có cấp uỷ viên hoặc
13
cán bộ chuyên trách công tác đảng. Hầu hết bí thư cấp uỷ đều kiêm nhiệm, ít
được bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ nên hạn chế chất lượng, hiệu quả của
công tác xây dựng đảng ở cơ sở.
Bốn là, đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở xã, phường, thị trấn còn yếu
và chưa đáp ứng yêu cầu; chế độ, chính sách đối với cán bộ còn nhiều bất
cập. Còn nhiều cán bộ, công chức cơ sở chưa được đào tạo cơ bản và có hệ
Nhiều chi bộ thôn, xóm, tổ dân phố, khu dân cư có trên 100 đảng viên, nhưng
không có địa điểm sinh hoạt thích hợp, việc sinh hoạt của chi bộ và các đoàn
thể quần chúng gặp khó khăn. Việc tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết,
chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước còn hình thức, hiệu quả thấp.
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trên như Nghị quyết 22 Hội
nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã chỉ rõ:
“Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, do chưa lường hết tác động bởi mặt trái
của cơ chế thị trường nên công tác xây dựng Ðảng nói chung, xây dựng Ðảng
ở cơ sở nói riêng tuy đã được đổi mới nhưng chưa theo kịp sự biến đổi của
tình hình; chưa quan tâm đúng mức đến công tác nghiên cứu lý luận, thiếu dự
báo về công tác xây dựng Ðảng trong tình hình mới để đề ra nội dung, biện
pháp thiết thực…”. Việc ban hành các quy định, hướng dẫn của Trung ương
về công tác xây dựng Đảng còn thiếu đồng bộ, chậm và một số quy định,
hướng dẫn còn chưa sát thực tế. Bên cạnh đó, vấn đề rất lớn là chế độ chính
sách đối với cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên còn bất cập khiến họ chưa yên
tâm công tác.
15
Chương III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC
LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC
CƠ SỞ ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Quan điểm, phương hướng của Đảng về nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.
Quan điểm, phương hướng của Đảng ta về nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng được nêu trong Nghị quyết Trung
nghiệp... chưa có tổ chức đảng, có ít hoặc chưa có đảng viên phải phân công
một bộ phận chuyên trách của cấp uỷ để theo dõi, tham mưu cho cấp uỷ trong
việc xây dựng và phát triển đảng viên ở những nơi này. Cấp uỷ cấp trên phải
chỉ đạo quyết liệt, đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cấp uỷ trực
thuộc, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể có liên quan trong việc xây dựng tổ
chức đảng, phát triển đảng viên ở những nơi chưa có tổ chức đảng, có ít hoặc
chưa có đảng viên.
Hai là, tiếp tục kiện toàn, sắp xếp mô hình tổ chức cơ sở đảng cho phù
hợp, gắn công tác xây dựng đảng với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị
và lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Phải
tiếp tục kiện toàn, sắp xếp tổ chức của hệ thống chính trị đồng bộ, thống nhất
với tổ chức của Đảng ở cơ sở, gắn công tác xây dựng đảng với thực hiện
nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, xây dựng các
mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng tính chất
đặc thù cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh mới, vừa tạo sự thống nhất
chung trong toàn Đảng, vừa phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng địa
phương, cơ quan, đơn vị.
Ba là, tiếp tục đổi mới nội dung và nâng cao chất lượng sinh hoạt của
chi ủy, đảng uỷ, chi bộ, đảng bộ, trong các loại hình tổ chức cơ sở đảng. Các
cấp uỷ, đảng bộ, chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở phải thực
hiện nghiêm túc, có nền nếp chế độ sinh hoạt đảng theo quy định của Điều lệ
Đảng. Trên cơ sở thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư về “Nâng
17
cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”, Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp
tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”,
tích cực đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt cho phù hợp với tình hình,
đặc điểm và nhiệm vụ cụ thể của từng loại hình chi bộ. Nội dung sinh hoạt chi
bộ cần tập trung vào bàn và giải quyết những vấn đề cụ thể, thiết thực, liên
giáo dục, giúp đỡ và xử lý nghiêm minh, dứt điểm đối với những cán bộ, đảng
viên có sai phạm.
Năm là, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức cơ sở xã, phường, thị trấn vững mạnh. Đổi mới nội dung,
hình thức và đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức
cơ sở xã, phường, thị trấn, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ chuyên
trách và bí thư chi bộ. Bổ sung, hoàn thiện giáo trình bồi dưỡng cán bộ ở cơ
sở theo hướng bám sát chức năng, nhiệm vụ của từng đối tượng và chức danh
cán bộ; tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng giải quyết những tình
huống thường xảy ra ở cơ sở. Kết hợp giữa đào tạo chính quy với đào tạo tại
chức; giữa nâng cao kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ với xây dựng bản lĩnh
chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ cơ sở. Chú trọng và có nội dung, hình
thức bồi dưỡng sát hợp cho số cán bộ cơ sở ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc
biệt khó khăn, cán bộ người dân tộc thiểu số. Thực hiện nhất quán chủ trương
và có chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng về công tác ở
xã, phường, thị trấn, công tác ở các cơ sở sản xuất - kinh doanh, xem đây là
việc rèn luyện thực tế sau học tập, là thời gian tập sự, thử thách để sinh viên
trở thành cán bộ, công chức, là nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý trong tương
lai.
Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và quản lý đảng viên;
nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, dựa vào dân để xây dựng Đảng.
Thực hiện nghiêm túc quy định của Bộ Chính trị về công tác kiểm tra, giám
sát cán bộ, đảng viên ở cơ sở. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với
cán bộ, đảng viên của cấp uỷ, chi bộ nơi công tác và nơi cư trú. Tổng kết,
nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Quy định số 76- QĐ/TW của Bộ Chính trị (khoá
VIII) theo tinh thần đổi mới cho phù hợp với thực tiễn, đồng thời khắc phục
19
những hạn chế, yếu kém trong tổ chức thực hiện ở cơ sở. Quá trình đẩy mạnh
kinh doanh, nhiệm vụ chuyên môn và công tác cán bộ. Bảo đảm mọi tổ chức
cơ sở đảng đều có quy định chức năng, nhiệm vụ phù hợp.
Tám là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo; kiểm tra, giám sát giúp đỡ
của cấp uỷ cấp trên. Các cấp uỷ cấp trên, nhất là cấp uỷ cấp trên trực tiếp của
tổ chức cơ sở đảng phải đi sâu, đi sát, nắm chắc tình hình cơ sở; tăng cường
công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện nhiệm
vụ chính trị ở cơ sở; phân công các uỷ viên thường vụ, cấp uỷ viên trực tiếp
phụ trách cơ sở và có trách nhiệm cùng với cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể
chính trị - xã hội ở cơ sở kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; kịp
thời giải quyết dứt điểm những vấn đề mới, phức tạp nảy sinh tại cơ sở. Các
văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cơ sở phải ngắn gọn, rõ chủ trương, nhiệm vụ và
trách nhiệm; nội dung phải cụ thể, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ kiểm tra, giám sát và dễ
thực hiện.
21
KẾT LUẬN
Trong công cuộc đổi mới của đất nước hiện nay, tổ chức cơ sở đảng có
vị trí và vai trò rất quan trọng trong hệ thống chính trị, mọi chủ trương đường
lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước có đi vào thực tiễn được
hay không phụ thuộc rất lớn vào vị trí, vai trò và năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam hiện nay; đấu tranh giai cấp vẫn đang tồn tại với nội dung và biểu
hiện mới. Vì thế không có lĩnh vực hoạt động nào trong xã hội không mang
tính chính trị. Tổ chức cơ sở đảng phải rất nhạy cảm, nắm vững những vấn đề
chính trị, tư tưởng, giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng. Chúng ta
phải thường xuyên suy nghĩ, tìm mọi cách thực hiện tốt đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước; chủ động đề phòng và khắc phục mọi biểu hiện chệch
chúng ta đã xây dựng được những tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh
toàn diện; tạo dựng được niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một
trong những yếu tố sống còn của Đảng ta, và để Đảng ta thật sự là Đảng
“Trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh”.
23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X
– trình tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.
2.
Đảng Cộng sản Việt Nam, [2011], Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,;
3.
Điều lệ Đảng Cộng sản việt Nam [2011], Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
4.
Giáo trình xây dựng Đảng, [2006], Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5.
Nghị quyết số 12- NQ/TW, [2011], Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng
Đảng hiện nay”.
24