Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên rừng của huyên nam đông, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 41

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA LÂM NGHIỆP

SỔ

SỐ LIỆU THÔ
TÊN ĐỀ TÀI:

Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng kiến thức bản địa trong
quản lý tài nguyên rừng của huyên Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

Sinh viên thực hiện: Hồ Văn Lộc
Lớp: Quản lý tài nguyên rừng và môi trường
Thời gian thực tập: 05/01-08/05/2015
Địa điểm thực tập:Huyện Nam Đông,
tỉnh Thừa Thiên Huế
Giáo viên hướng dẫn:ThS. Hoàng Dương Xô Việt
Bộ môn: Lâm nghiệp xã hội

NĂM 2015


LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Lâm nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm
Huế và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn ThS Hoàng Dương Xô Việt tôi đã
thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu qủa của việc sử dụng kiến thức bản địa trong
quản lý tài nguyên rừng tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế”
Để hoàn thành khóa luận này .Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo
đã tận tình hường dẫn ,giảng giải trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu và rèn
luyện ở Trường Đại Học Nông Lâm Huế.
Xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn ThS Hoàng Dương Xô Việt


BQLRPH

: Ban quản lý rừng phòng hộ

BQLRĐD

: Ban quản lý rừng đặc dụng

QLR

: Quản lý rừng

QLBVR

: Quản lý bảo vệ rừng

QLTNR

: Quản lý tài nguyên rừng


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Sự khác nhau giữa kiến thức bản địa và kiến thức khoa học ..................6
Bảng 4.2 Các loại đất trong xa Thượng Quảng....................................................24
Bảng 4.3 Đặc điểm các khu rừng được giao tại 2 thôn.........................................26
Bảng 4.4 Tỷ lệ % các dân tộc sinh sống ở 2 thôn.................................................28
Bảng 4.5: Vị trí thôn so với khu rừng...................................................................28
Bảng 4.6 Điều kiện kinh tế của các thôn nhận rừng...........................................29
Bảng 4.7 Ý thức của cộng đồng về quản lý bảo vệ rừng.......................................30

vững. Để thực hiện để tài tôi sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
gồm: thu thập số liệu từ các báo cáo tổng kết, các báo cáo nghiên cứu khoa học,
Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA,RRA) và
phương pháp thu thập số liệu sơ cấp gồm tiến hành phỏng vấn bản cấu trúc 60
gia đình của 2 thôn, phỏng vấn sâu các cán bộ thôn, xã, già làng... Sau quá trình
nghiên cứu và khảo sát thực địa tôi rút ra một số kết luận như sau . Nam Đông là
một huyện có nguồn lao động lớn, dồi dào, cơ cấu hạ tầng giao thông tương đối
ổn định, y tế- giáo dục đảm bảo. Bên cạnh đó khu vực này còn nhiều tiềm năng
trong sử dụng kiến thức bản địa để bảo vệ tài nguyên rừng hiện nay cụ thế là:
đời sống đồng bào dân tộc thiếu số có khá nhiều các luật tục trong quản lý tài
nguyên rừng như: rừng thiêng, rừng ma, cây gỗ cấm khai thác, động vật hạn chế
sử dụng, sử dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ, sử dụng củi. Trong quá trình nghiên
cứu tôi đã tiến hành điều tra ở 2 thôn có thành phần dân tộc khác nhau là thôn 2
(xã Thượng Nhật) có 100% dân tộc Cơtu sinh sống và thôn 5 (xã Thượng
Quảng) có 90% dân tộc Kinh sinh sống thì nhận thấy do có các luật tục này nên
các khu rừng của thôn 2 đã được bảo vệ khá tốt so với thôn thôn 5. Tại khu vực
thôn 5 vì họ không có các luật tục trong quản lý bảo vệ rừng nên tình trạng khai
thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ xảy ra thương xuyên cản kiệt nhiều loại động vật đã
bị tuyệt chủng, nhiều loại gỗ to và quý hiện không còn nữa.


Qua quá trình nghiên cứu tôi có một số đề xuất như: cần tăng cường tuyên
truyền về rừng thiêng, rừng ma và các luật tục khác cho thể hệ trẻ qua các buổi
họp hay những lớp học, tập huận để giúp thể hệ trẻ hiểu được giá trị của các loại
rừng, khuyển khích và phát huy cơ chế quản lý rừng dựa vào kiến thức bản địa
của thôn, tiếp tục nghiên cứu kiến thức bản địa của thôn và xây dựng hợp lý
hơn, kiểm soát người từ địa phương khác vào rừng thiêng, rừng ma của thôn…


PHẦN 1

Hương Lộc, Hương Hoà, Hương Giang, Hương Hữu. Tổng diện tích tự nhiên
65.051,8 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp có 4.019,38 ha, đất lâm nghiệp
chiếm 41.799,31 ha, còn lại là đất khác và chưa sử dụng. Dân số 2,3 vạn gồm 2

1


dân tộc Kinh và Cơ-tu, trong đó người dân tộc thiểu số (9.320 người) chiếm
41%. Toàn huyện có 10 xã trong đó có 7 xã đặc biệt khó khăn mà 6 xã là người
dân tộc thiểu số chiếm trên 70%. Địa bàn huyện chỉ có 1 tuyến đường thông
thương ra ngoài. Là huyện còn gặp nhiều khó khăn trong nhiều lĩnh vực kinh tế,
giáo dục, y tế..đặc biệt là trong quản lý rừng hiện nay. Mặc dù nhà nước đã có
nhiều chính sách xây dựng và quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở các xã trong đó
có xã Thượng Nhật và xã Thượng Quảng đây là mô hình quản lý tài nguyên
rừng dựa vào người dân nhà nước đưa ra nhiều chính sách quản lý và bảo vệ
rừng bước đầu đã mang lại hiệu quả nhưng vẫn còn tồn tại một số vấn đề khi
thực hiện vẫn chưa mang lại nhiều hiệu quả thực tế. Xuất phát từ vấn đề đó nên
chúng tôi xin đề xuất đề tài “Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng kiến thức bản
địa trong quản lý tài nguyên rừng tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế”

2


PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về kiến thức bản địa
2.1.1 Khái niệm về kiến thức bản địa
Kiến thức bản địa có thể hiểu một cách chung nhất đó là kết quả của sự
chọn lọc, nghiệm suy khi con người tiếp xúc với môi trường xung quanh từ đó
hình thành những phương thức ứng xử thích hợp. kiến thức bản địa nẩy sinh

Song song với thuật ngữ kiến thức bản địa (IK) có thuật ngữ “tri thức
chính thống” (formal knowledge) [15] dùng để chỉ những hệ thống kiến thức
phát triển phần lớn dựa trên nền tảng hệ thống giáo dục phương Tây, đó là
những kiến thức chuẩn vì nó được xác nhận trong những văn kiện, những
nguyên tắc, luật lệ, những quy định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Trong khi đó kiến
thức bản địa được truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác rất hiếm khi được
chép lại cẩn thận.
Như vậy đặc trưng cơ bản nhất của kiến thức bản địa là tính đặc hữu, nó
là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa hay của cộng đồng tại một khu vực
cụ thể, được tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý
nhất định (R. Chambers, M.Warren,1992). [17]
Xác định về thời gian và không gian thì kiến thức bản địa là hệ thống kiến
thức tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý xác
định với sự đóng góp của các thành viên trong cộng đồng (G.Louise, 1993). Như
vậy ở đây có ba yếu tố góp phần hình thành nên kiến thức bản địa đó là môi
trường địa lý xác định, trong thời điểm không gian nhất định và là của một cộng
đồng tại một khu vực cụ thể đóng góp nên. Hay nói một cách khác, kiến thức
bản địa hình thành trong điều kiện không gian thời gian nhất định với sự đóng
góp của một cộng đồng tại khu vực cụ thể. Kiến thức bản địa luôn được kế thừa
và phát triển, bản chất của nó là một phức hệ những kinh nghiệm được truyền từ
đời này qua đời khác, nó được hình thành trong thế ứng xử giữa hoạt động của
con người với môi trường tự nhiên để kiếm sống và nó chỉ tồn tại trong môi
trường cụ thể (Nguyễn Duy Thiệu, 1996). [6]
Định nghĩa kiến thức bản địa theo quan điểm kiến thức kỹ thuật bản địa là
Hệ thống kiến thức bản địa là bao gồm tổ hợp kiến thức, kỹ năng, công nghệ
hiện tồn tại và phát triển trong một phạm vi nhất định mang tính đặc hữu của
một dân tộc, cộng đồng địa phương trong vùng địa lý nhất định. Hệ thống kiến
thức bản địa của một dân tộc được trao truyền trong cộng đồng trải qua thử
thách thời gian và vẫn duy trì phát triển (CEFIKS). Như vậy trong cách tiếp cận
này, kiến thức bản địa được xem xét trên cơ sở hệ thống tri thức kỹ thuật bản địa

Kiến thức bản địa được hình thành trực tiếp từ lao động của mọi người dân
trong cộng đồng được hoàn thiện củng cố dần và truyền lại cho thế hệ sau bằng
truyền khẩu, bằng các bài hát, ngôn ngữ, luật tục, (G.Broding và
M.Schonberger, 2000) [16] ...Để phân tích các đặc trưng của kiến thức bản địa,
G.Broding và M. Schonberger đã lập bảng so sánh kiến thức bản địa với kiến
thức hàn lâm (Academic knowledge) vốn dĩ của giới khoa học tồn tại ở các viện
nghiên cứu, trường đại học.

5


Bảng 2.1 Sự khác nhau giữa kiến thức bản địa và kiến thức khoa học
Các lĩnh vực
Kiến thức bản địa
Kiến thức khoa học
tri thức
- Linh thiêng và thế tục cũng
đồng hành: bao gồm cả siêu
nhiên
1. Phạm vi
- Hội nhập toàn thể, dựa vào hệ
thống
- Được lưu giữ thông qua
truyền miệng và trong các thực
hành văn hóa
- Được coi là chân lý
- Chủ quan
2. Mực độ
- Chân lý được thấy trong tự
nhiên và niêm tin

nhất đến chân lý
- Chân lý được tìm thấy từ sự
lý giải của con người
- Giải thích dựa vào lý
thuyết, quy luật
- Suy đoạn ngắn hạn
- Trừu tượng, trãi nghiệm
kiểm tra
- Có khả năng dự báo tốt
trong điều kiện tự nhiên
- Yếu trong việc sử dụng kiến
thức địa phương
- Quản lý môi trường có tổ
chức, có thứ bậc, ngăn nắp
- Chủ yếu định lượng
- Lĩnh hội nhanh ( kiến thức
nhanh )
- Truyền bằng văn bản
- Dùng ngôn ngữ đương đại
- Học thông qua giáo dục
chính thức
- Dạy thông qua sách giáo
khoa
- Được kiểm nghiêm giả tạo
trong các kiểm tra
(Nguồn: Bài báo 2000)

6



của kiến thức bản địa càng được quan tâm nhiều hơn, toàn diện hơn và với mục
đích phát triển sát thực hơn. kiến thức bản địa có vai trò quan trọng đối với các
quyết định của cộng đồng địa phương trong quá trình lao động sản xuất. Kiến
thức bản địa là chìa khóa dẫn đến sự thành công của cá nhân, cộng đồng trong

7


mối tương quan ứng xử với môi trường sống hay sự thay đổi của hoàn cảnh xã
hội bên ngoài.
Kiến thức bản địa là nguồn lực có giá trị cho sự phát triển cộng đồng, đôi
khi trong những trường hợp cụ thể, kiến thức bản địa còn vượt trội hơn kiến
thức chính thống du nhập vào từ bên ngoài. Trong rất nhiều trường hợp thực tế
thực thi các dự án nếu xem trọng quá mức kiến thức chính thống hàn lâm du
nhập từ bên ngoài vào xem nhẹ kiến thức bản địa của cộng đồng địa phương thì
hầu như các dự án đó đạt hiệu quả không cao đôi khi thất bại. Điều đó cho thấy
kiến thức bản địa có vai trò rất quan trọng, là tinh hoa đã được đúc kết và trải
nghiệm thực tế trong hoạt động sống của cộng đồng.
Kiến thức bản địa bao gồm lĩnh vực rộng lớn của sự tích lũy các kiến
thức thực hành và những khả năng sáng tạo của cộng đồng đây là điều kiện
cần thiết đạt đến mục tiêu phát triển bền vững. Kiến thức bản địa là nguồn tài
nguyên quốc gia quan trọng có thể giúp ích rất nhiều cho quá trình phát triển
theo phương sách ít tốn kém có sự tham gia của người dân đạt được sự phát
triển bền vững.
Để phát triển bền vững cần có sự hợp nhất dung hòa giữa kiến thức chính
thống hàn lâm và kiến thức bản địa trên cơ sở nghiên cứu áp dụng các điểm tối
ưu thích hợp với hoàn cảnh môi trường địa phương. Ví dụ như các hệ thống đập
chắn ngăn nước trên sông của người Hrê là hệ thống thủy lợi rất tối ưu phù hợp
với hệ thống canh tác nông nghiệp lúa nước vùng thung lũng với sự điều hòa
lượng nước vừa phải liên tục vào các vùng ruộng có diện tích không lớn phân bố

hoàn cảnh môi trường nhằm đảm bảo sự tồn tại của cộng đồng.
Do đó quan điểm nhận kiến thức thức bản địa luôn ở trạng thái tĩnh không
vận động phát triển để thích nghi với môi trường là quan điểm siêu hình. Hoặc
nhận thức phủ nhận sự tồn tại của kiến thức bản địa, hạ thấp giá trị kiến thức bản
địa trong cộng đồng là quan điểm cực đoan sai lầm. Nhận thức đúng về sự thích
nghi để phát triển của kiến thức bản địa giúp cho ta có định hướng đúng đắn
trong vấn đề bảo tồn giá trị kiến thức bản địa.
Kiến thức bản địa chính là nền tảng cơ sở để duy trì cuộc sống của các xã
hội truyền thống. Hơn thế nữa, trong bối cảnh các xã hội khép kín với nền
kinh tế tự cung tự cấp của đa số tộc người ở Việt Nam, đó còn là cơ sở duy
nhất. Một thời gian dài, kiến thức bản địa đã không được đánh giá đúng với
những giá trị mà nó chứa đựng. Ở nhiều nơi, người ta đã coi đó là biểu hiện
của sự trì trệ, lạc hậu và phản khoa học. Ngày nay, giá trị và vai trò của kiến
thức bản địa đã được đánh giá khách quan hơn. Các học giả, những nhà hoạch
định chính sách và những người đang hoạt động trên lĩnh vực phát triển đã
thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức bản địa và khoa học; thừa nhận tính hợp
lý của kiến thức bản địa đối với hệ thống giáo dục cũng như các vấn đề phát
triển. Hệ thống kiến thức bản địa đã và đang đóng góp một phần quan trọng
vào việc giải quyết các vấn đề của địa phương.
Kiến thức bản địa đóng góp cho khoa học trong nhiều lĩnh vực liên quan đến
việc quản lý tài nguyên thiên nhiên qua các nghiên cứu về thực vật dân tộc học
9


hiện đại. Cụ thể là kiến thức bản địa đã giúp các nhà khoa học nắm được những
vấn đề về đa dạng sinh học và quản lý rừng tự nhiên. Kiến thức bản địa cũng
đóng góp vào khoa học những hiểu biết sâu sắc về thuần hoá cây trồng, gây
giống, quản lý và giúp các nhà khoa học nhận thức đúng đắn về nguyên tắc, thói
quen đốt nương làm rẫy, nông nghiệp sinh thái - nông lâm kết hợp, luân canh
cây trồng, quản lý sâu hại, đất đai và nhiều kiến thức khác về khoa học nông


luật pháp từ một số quốc gia châu Âu bao giờ cũng là hệ qui chiếu chủ yếu. Điều
này khác với cách tiếp cận luật tục từ góc độ nhân học xã hội hay nhân học văn hóa
Bên cạnh việc tiếp cận từ góc độ luật học, thì đã xuất hiện ngày một phổ biến
cách nhìn luật học từ góc độ nhân loại học (Anthopogy) bắt đầu là việc tiếp cận
các bộ lạc. Vào thập kỷ nửa cuối thế kỷ XX này, các nhà nhân loại học luật pháp
đã mở rộng phạm vi nghiên cứu của mình trên nhiều bình diện khác nhau, như
các vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu luật học, nghiên cứu luật tục ở
nhiều vùng nhiều quốc gia trên thế giới
Có thể khẳng định châu Phi là nơi có nhiều công trình nghiên cứu về luật học
nói chung và kiến thức bản địa nói riêng. Trong một công trình “luật và lý luận
luật pháp châu Phi”, do G.R.Woodman và A.O.Obilde [16] đã đưa ra các danh
mục hơn 100 nghiên cứu về luật tục và tác phẩm này cũng tập hợp các bài viết
khác nhau của nhiều tác giả, trong đó phần lớn tác phẩm chỉ đề cập tới bản chất
của luật tục của châu Phi với 3 phần chính: Những vấn đề chung, nhân loại học
pháp luật, luật tục trong hệ thống pháp luật của nhà nước (G.R.Woodman và
A.O.Obilde). Ngoài ra phải kể đến công trình của Y.C.Bekker (luật tục Nam
Phi), đề cập tới nhiều khía cạnh quan hệ giới tính quan hệ hôn nhân, quan hệ gia
đình và quyền thừa kế
Về góc độ nhân học pháp luật, các nhà nghiên cứu đã đề cập tới các vấn đề lý
thuyết và phương pháp sưu tầm và nghiên cứu kiến thức của các dân tộc. Đó là
các công trình của AlanDundes bàn tới khái niệm thế nào là luật tục (folk law),
của Alan Waston về tiếp cận luật tục, của Van Den Dergh khái niệm luật tục
trong khung lịch sử, của Obei Hag Ali về chuyển đổi luật tục thành luật pháp ,…
Các vấn đề phương Đông cũng được đặt ra, như vấn đề văn bản của các luật tục
(T.O.Elias)…nội dung vận dụng luật tục trong phát triển xã hội cũng được quan
tâm, nhất là các luật tục trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên [17]
Như vậy, công việc nghiên cứu luật tục trên thế giới từ thế kỷ XX đã được
những tiến bộ đáng kể cả lý luận, phương pháp nghiên cứu, do đó tạo điều kiện
thuận lợi trong nghiên cứu kiến thức bản địa ở Việt Nam trong thời gian qua

và hệ sinh thái vùng cao nói riêng ( Lê Trọng Cúc, 1998 )[4]
Các công trình nghiên cứu kiến thức bản địa vùng núi phải kể đến tác phẩm:
“Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài
nguyên thiên nhiên” của Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc đề cập đến các giống
lúa chịu hạn ít bệnh, năng suất ổn định của người Thái (Hoàng Xuân Tý, Lê
Trọng Cúc, 1998).[4]
Trong thời kì chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, nhiều cuốn sổ “ sổ tay
rau rừng ” đã được xuất bản cho các chiến sỹ ở chiến trường. Những năm gần
đây, có nhiều công trình nghiên cứu về rau rừng cũng như kinh nghiệm sử dụng
rau rừng của đồng bào các dân tộc thiểu số càng khẳng định rau rừng với cuộc
sống con người

12


Khi nghiên cứu các kiến thức bản địa trong bảo vệ và phát triển rừng ở huyện
Chiêm Hóa, Tuyên Quang, Lê Thị Diên ( VNRP ) đã chỉ rằng kiến thức bản địa
phù hợp với phong tục tập quán, phù hợp với điều kiện địa phương, đã được trải
nghiệm qua thời gian và được truyền lại từ cha ông, có tình đa dạng cao lại dễ sử
dụng, nguyên liệu dễ kiếm, rẻ tiền lại giảm rủi ro. [8]
Ngày 20 tháng 2 năm 2008, trung tâm tư vấn quản lý bền vững tài nguyên và
phát triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á ( CIRUM ) đã chủ trì cuộc họp với các
đối tác gồm viện nghiên cứu sinh thái chính sách xã hội ( SPERI ) và tư vấn phát
triển ( CODE ) để thảo luận về kể hoạch phối hợp triển khai chương trình nghiên
cứu hành động “ quản lý, sử dụng rừng ở huyện Hữu lũng, tỉnh Lạng Sơn ” [16]
Phạm Quang Hoan và Hoàng Hữu Bình trong bài viết “Các dân tộc thiểu số
và việc quản lý tài nguyên thiên nhiên ở vùng cao Việt Nam” đề cập đến nguyên
tắc quản lý khai thác rừng hài hoà với phương pháp canh tác rẫy luân canh bảo
vệ rừng của đồng bào thiểu số Tây Nguyên (Phạm Quang Hoan và Hoàng Hữu
Bình, 1996). [5]

trình quản lý tài nguyên rừng dựa vào kiến thức bản địa của đồng bào dân
tộc thiểu số.
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
3.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng kiến thức bản địa trong quản lý
tài nguyên rừng của đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực nghiên cứu. Đề xuất
các giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị kiến thức bản địa
3.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Thu thập và tài liệu hóa những kiến thức bản địa đã từng được sử dụng
cũng như đến nay vẫn còn lưu giữ
- Xác định được nguyên nhân những kiến thức trước đây bị mất đi
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc lưu giữ cũng như sử
dụng kiến thức bản địa để quản lý tài nguyên rừng
- Đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng kiến thức bản địa trong quan
lý tài nguyên rừng
- Đề xuất được các biện pháp sử dụng kiến thức bản địa hợp lý tại khu
vực nghiên cứu
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
- Các mô hình, cơ cấu quản lý tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu

14


- Phân tích các bên liên quan trọng quản lý tài nguyên rừng tại khu vực
nghiên cứu
- Phân tích thành phần dân tộc và tập quán sinh sống của người dân tại
khu vực nghiên cứu
- Hệ thống tư liệu liên quan đến kiến thức bản địa của người dân tộc thiểu
số tại địa điểm nghiên cứu

đề nghiên cứu;
* Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được vận dụng để mô tả
bức tranh tổng quát về tình hình cơ bản các địa bàn nghiên cứu, hiện trạng tài
nguyên, thực trạng tình hình kinh tế, xã hội địa phương.
* Phương pháp phân tích định tính: Dựa vào nguồn số liệu PRA, phỏng
vấn sâu, để phân tích định tính các vấn đề liên quan đến các vấn đề nghiên cứu

16


PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu

Sơ đồ 4.1: Vị trí nghiên cứu
4.1.1 Xã Thượng Nhật
4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Thượng Nhật là một xã miền núi đặc biệt khó khăn ở thượng nguồn sông
Tả Trạch, nằm về phía Nam của huyện Nam Đông cách trung tâm thị trấn Khe
17


Tre 7km, tọa độ địa lý của xã được xác định như sau:
- Điểm cực Bắc 16009’38” vĩ Bắc, 1070 40’32” kinh Đông.
- Điểm cực Nam 16006’59” vĩ Bắc, 1070 40’25” kinh Đông.
- Điểm cực Đông 16008’42” vĩ Bắc, 1070 41’21” kinh Đông.
- Điểm cực Tây 16009’18” vĩ Bắc, 1070 39’13” kinh Đông.
Thượng Nhật có tổng diện tích đất tự nhiên 11.410 ha, toàn xã có 7 thôn
gồm: Ta Rinh, Lập, A Tin, Ta Lu, A Xách, La Vân, Hợp Hòa. Ranh giới hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status