MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hoá là một trong những hình thái ý thức xã hội, xuất hiện cùng
với sự xuất hiện của xã hội loài người. Nói cách khác, văn hóa phát triển
cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài người và ngày càng được bổ
sung thêm những nội dung mới. Văn hoá là biểu hiện trí tuệ nhân loại, nó
được bồi đắp theo quy trình từ thấp lên cao, theo tính quy luật đi từ chưa
nhiều đến nhiều hơn, từ chưa phong phú đến phong phú hơn, ít sâu sắc đến
sâu sắc hơn, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Văn hoá là nền tảng sinh hoạt tinh thần của con người trong xã hội,
phản ánh trình độ phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Đất nước ta
bên cạnh những đổi mới, chuyển biến về kinh tế, xã hội, cơ cấu quản lý thì
những vấn đề văn hoá mới nảy sinh từ quá trình đô thị hoá, trình độ dân trí
nâng cao cũng làm cho nhu cầu hưởng thụ văn hoá gia tăng về quy mô chất
lượng.
Nam Đông là một huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế những
đặc điểm về địa lí tạo cho huyện sự khác biệt so với những nơi khác. Toàn
bộ các xã đồng bào dân tộc trước đây đều nằm trên vùng núi cao hiểm trở
bị thắt chặt theo hai vùng Đông-Tây Trường Sơn. Sống trong vùng khí hậu
khắc nghiệt đã tạo cho dân tộc Nam Đông đức tính cần cù, chịu khó, chịu
thương và ý thức cộng đồng gắn bó với nhau rất mật thiết. Hình thức cư trú
phân tán và biệt lập là nét đặc thù của các dân tộc miền tây Thừa Thiên
Huế nói chung và huyện Nam Đông nói riêng. Những biến động đã làm
mất đi nét cổ truyền văn hóa dân tộc lâu đời của đồng bào như ngôi làng
Cơ-tu truyền thống . Kinh tế chủ yếu là nương rẫy và săn bắt. Ngày nay,
cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng ổn định. Chính sách
định canh định cư mang lại hiệu quả đáng kể trong đời sống vật chất tinh
thần, chính sách phát triển kinh tế mới ở Nam Đông từ 1976 đến nay có tác
dụng tích cực trong việc giao lưu, phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố khối
nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá trong đó có những công trình tiêu
biểu sau:
Trong cuốn sách Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa
do Phạm Duy Đức chủ biên (NXB chính trị Quốc Gia, Hà Nội, năm 2008)
các tác giả đã bàn luận quan điểm của các nhà triết học Maxit về xây dựng
3
nền văn hoá xã hội chủ nghĩa. Và một số lĩnh vực cơ bản như văn hoá
chính trị, vấn đề xây dựng con người đạo đức, lối sống, tín ngưỡng…
Trong cuốn Giá trị truyền thống trước những thử thách của toàn cầu
hoá (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2002) các tác giả nguyễn Trọng
Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên đã phân tích về vật chất của toàn cầu hoá của
góc độ triết học, giá trị học, quan hệ của toàn cầu hoá với việc giữ gìn và
phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, những giải pháp và dự báo về vị
trí vai trò, khả năng của giáo dục truyền thống trong sự phát triển nền văn
hoá nước ta hiện nay.
Tiến sĩ Vũ Thị Kim Dung, đại học sư phạm Hà Nội, trong tạp chí
Triết học số 1 (101) tháng 2 năm 1998, Cách tiếp cận vấn đề văn hóa theo
quan điểm triết học Mác-Lênin, xuất phát từ quan điểm về bản chất của con
người về phương thức xác định bản chất của sự “tồn tại người’’ của triết
học Mac, chúng ta có thể kết luận rằng nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên của
sự hình thành phát triển con người thì văn hoá là cái nôi thứ hai. Nếu tự
nhiên là cái quy định sự tồn tại của con người với tư cách là một thực thể
sinh vật, thì văn hóa là phương thức bộc lộ, phát huy những năng lực bản
chất người gắn liền với những hoạt động sống của con người. Nói cách
khác, văn hoá là sự kết tinh năng lực bản chất người trong thế giới các sản
phẩm do chính hoạt động con người tạo ra, là cái quy định bản chất con
người. Với tư cách là một “sinh vật có tính loài” là “một thực thể xã hội”.
Tác giả Nguyễn Khoa Điềm trong cuốn Xây dựng và phát triển nền
văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc (NXB Chính trị Quốc Gia, Hà
Nội năm 2001) đã tiếp cận những yếu tố cấu thành nền văn hoá, những tiền
Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá và vai trò của văn hoá.
Đề tài kết hợp vận dụng những nguyên tắc của phép biện chứng duy
vật với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như logic và lịch sử, phân tích
và tổng hợp, trừu tượng hoá và khái quát hoá, so sánh, điều tra xã hội học.
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đời sống văn hoá ở huyện Nam
Đông, Thừa Thiên Huế hiện nay.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần làm rõ những giá trị văn hoá của huyện Nam Đông
và đề xuất giải pháp phát huy những giá trị đó giai đoạn hiện nay.
Đề tài này có thể làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu thuộc lĩnh
vực khoa học xã hội - nhân văn, nhất là trong nghiên cứu về văn hóa góp
5
phần tích cực cho việc tìm kiếm các giải pháp phát huy bảo tồn giá trị văn
hoá truyền thống ở huyện Nam Đông.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận
gồm 2 chương (5 tiết).
6
CHƯƠNG 1
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ VĂN HOÁ
1.1. Khái lược về phạm trù "văn hóa"
Văn hóa là một trong những hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ rất
sớm. Nói cách khác, văn hóa tồn tại phát triển gắn liền với xã hội loài
người và ngày càng được bổ sung thêm những nội dung mới, nhân lên ở
tầm cao cùng với sự thăng tiến về tri thức của nhân loại. Nhưng trí tuệ đó
không bỗng dưng mà thành, nó phải đươc bồi đắp theo quy trình từ thấp lên
cao, theo tính quy luật đi từ chưa nhiều đến nhiều hơn, từ chưa phong phú
đến phong phú hơn, từ chưa sâu sắc đến sâu sắc hơn, từ chưa hoàn thiện
đến hoàn thiện hơn.
chiếm hữu nô lệ tuy mang đậm màu sắc của một nền văn hóa kém nhân
văn, nhưng chính sự bạo ngược về quyền con người đã tạo thành một cơ sở
lịch sử để nhân loại ý thức được về một giá trị đối kháng giàu tính nhân
bản. Nhìn một cách toàn diện, đây là hai mặt của một vấn đề, đan xen tạo
nên mâu thuẫn. Chính mâu thuẫn này là động lực để xã hội loài người đấu
tranh, khắc phục sự yếu kém để tiến bộ hơn.
Văn hóa phong kiến đã đưa con người vào vòng luân lý, ràng buộc
con người trong tính chặt chẽ của thể lệ, của giáo lý tôn giáo. Với sự thống
trị của tầng lớp quý tộc (ở Phương Tây), địa chủ (ở Phương Đông), hình
thái kinh tế xã hội thứ ba này không khác hơn hình thái trước về tính chất
bóc lột vì nó dựa trên cơ sở quân chủ chuyên chế, độc quyền. Vì vậy văn
hóa vẫn là ý thứ của giai cấp thống trị, chi phối đời sống tinh thần của đại
thể cần lao. Song nhìn nhận một cách khách quan rằng, văn hóa phong kiến
nếu loại trừ tính chất bạo ngược của giai cấp thống trị thì có nhiều giá trị
quý báu cần phải được ghi nhận. Chính những chân giá trị về đạo đức, lối
sống được xây dựng từ chế độ phong kiến đã làm nên nhân cách con người,
và góp phần không nhỏ vào chuẩn giá trị xã hội. Từ những khuôn tắc trong
quan hệ ứng xử mà chế độ phong kiến tạo ra đã giúp cho con người phần
nào nhìn nhận được chính mình, ý thức được chính mình, và vì vậy, lương
tâm giàu tính trắc ẩn hơn, sống có hậu hơn. Tuy nhiên trên tinh thần phát
triển cũng phải thấy rằng, luân lý phong kiến không thể trở thành giá trị bất
biến, cho nên đằng sau ánh sáng là khoảng tối, khoảng tối này là bức tranh
ảm đạm về quyền dân chủ và bình đẳng của con người. Đây là khiếm
khuyết không chỉ của riêng đối với hình thái kinh tế - xã hội Phong kiến mà
8
là khuyết tật chung của cơ chế có giai cấp bóc lột. Vậy nên, nó phải được
thay thế một phát triển mới tiến bộ hơn.
Chủ nghĩa tư bản xuất hiện được xem là ánh sáng xua tan đi đêm
trường trung cổ. Sức mạnh khoa học đã đẩy những mặc khải của Kinh
Thánh chìm sâu vào tâm khảm của con người. Ở thế tục thần học phải
mọi người sống với nhau bình đẳng, tương trợ lẫn nhau, cùng nhau xây
dựng một xã hội đầy tình nhân ái. Vì vậy, văn hóa xã hội chủ nghĩa mang
tính hiện thực, nẩy sinh từ hoạt động thực tiễn và trường tồn cùng với sự
phát triển của lịch sử nhân loại.
Nhìn chung nhân loại đã bước qua những bước dài về văn hóa.
Những bước đó ghi lại dấu ấn tư tưởng của một lớp người, một giai cấp,
một nhóm xã hội nhất định, thích hợp với yêu cầu của thời đại. Hành trình
văn hóa của nhân loại là một sự phát triển khách quan, có tính quy luật, là
những nấc thang từ thấp đến cao. Chính trong hành trình này, văn hóa
không chỉ là kết quả của sự vận động vật chất và tinh thần mà còn trở thành
một khách thể nhận thức. Vì là khách thể nhận thức nên đã có nhiều quan
niệm khác nhau về văn hóa:
Thời cổ đại ở Trung Quốc, chuẩn mực xã hội dựa trên cơ sở Tam
cương, Ngũ thường vói những giá trị đạo đức và trí tuệ như ‘‘nhân”,
‘‘lễ” ,‘‘nghĩa”,‘‘trí”, ‘‘tín”… theo đó, con người phải thực hành ‘‘đức
nhân”, ‘‘đức lễ” và ‘‘chính danh, định phận” trong quan hệ cộng đồng. Ở
góc độ này ‘‘văn” được xem là cái hay, vẻ đẹp và “hóa” được hiểu là sự
cải biến, biến đổi. Vì vậy khái niệm văn hóa thời cổ đại Trung Quốc được
hiểu là sự cải biến, biến đổi, bồi đắp cho đẹp ra. Trong quẻ sơn hóa bí của
sách Chu dịch, khái niệm văn hóa như một qua trình gồm hai giai đoạn đã
được diễn đạt như sau: giai đoạn một xuất phát từ hai nguồn là kinh
nghiệm sống và quy luật tự nhiên để trở thành cái Văn của con người (gọi
là nhân văn). Giai đoạn hai là đem cái nhân văn ấy hóa thành cuộc sống
(nhân văn hóa thành thiên hạ). [6, 23].
Trong xã hội Phương Tây từ thời Phục Hưng và cận đại, khái niệm
văn hóa dung để nói đến lĩnh vực của hiện thực, lĩnh vực hoat động của con
người như một chủ thể tự do và sáng tạo. Các nhà triết học thời kỳ này tiếp
cận văn hóa bằng nhiều cách khác nhau trên quan điểm chủ nghĩa nhân
đạo, chủ nghĩa duy lý, quan điểm lịch sử hoặc chủ nghĩa tự nhiên. Song,
đều nhìn nhận văn hóa như sự tồn tại chân chính của con người phù hợp
sinh ra. Quan điểm duy vật siêu hình xem văn hóa ở những góc độ khác
nhau thiếu tính toàn diện không đề cập đến tính kế thừa các giai đoạn phát
triển của lịch sử xã hội. Và từ việc tìm hiểu các quan điểm đó, có thể khẳng
định rằng chỉ có quan điểm duy vật biện chứng mới vạch rõ nguồn gốc, bản
chất, cũng như quá trình phát triển của văn hóa.
11
Như vậy, trước khi triết học Mác ra đời, các quan niệm về văn hóa
trước Mác đều thể hiện tính phiến diện. Các quan điểm duy tâm thần bí cho
rằng văn hóa là sản phẩm của ý niệm, ý niệm tuyệt đối. Các quan điểm
sùng bái cá nhân thì cho rằng văn hóa là sản phẩm ý chí của bậc quân
vương, anh hùng kiệt xuất, còn quần chúng nhân dân không phải là chủ thể
sản sinh ra văn hóa cũng không phải đối tượng của văn hóa mà chỉ là lực
lượng thụ động; hoạt đông vật chất không phải là cơ sở cho văn hóa nảy
sinh cũng không phải môi trường cho văn hóa tồn tại. Các quan điểm duy
vật của và duy vật tầm thường cũng nhìn nhân văn hóa một cách phiến
diện, hoặc coi trọng khía cạnh này hoặc đề cao khía cạnh khác của văn hóa
mà không thấy được văn hóa là một phạm trù có nội hàm và ngoại diên rất
rộng, bao gồm nhiều thành tố, có mặt trong tất cả các lĩnh vực kể cả đời
sống vật chất lẫn đời sống tinh thần.
C. Mác và Ph. Ăng - ghen, trong một số tác phẩm của mình đã không
trực tiếp bàn đến văn hóa như một lĩnh vực độc lập. Nhưng trong khi phân
tích mối quan hệ biện chứng giữa con người và xã hội, tồn tại xã hội và ý
thức xã hội, Mác đã gián tiếp thể hiện quan điểm về văn hóa. Theo đó văn
hóa được xem là một dạng hoạt động người và những thành tố văn hóa
thuộc về ý thức xã hội, bị quy định bởi tồn tại xã hội. Lao động cùng với
ngôn ngữ và tư duy là cơ sở hình thành văn hóa.
Trong ‘‘Luận cương về Feuerbach”, C. Mác đã chỉ ra tính siêu hình
máy móc và phiến diện của chủ nghĩa duy vật cũ trong việc xem xét mối
quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Đó là mặt hoạt động của con người
không được nhìn nhận đúng đắn. Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm lại đề cập
phát triển tự do và sáng tạo của con người trong lịch sử [11, 267].
Bên cạnh xem văn hóa như là hoạt động của con người trong qua
trình lịch sử, có nhiều quan điểm dựa trên lập trường triết học Mác - Lênin
đã xem văn hóa như sản phẩm chứa đựng giá trị có tác dụng thúc đẩy tiến
bộ xã hội. E. V. Bagaliubốpva trong tác phẩm ‘‘văn hóa và xã hội” đã xem
văn hóa không chi là sự sáng tạo của con người mà là sự tiến bộ xã hội.
Văn hóa là đặc trưng về bản chất của xã hội và sự phát triển của nó theo
con đường tiến bộ nhờ sự tham gia tích cực của mỗi cá thể vào quá trình
này. Sau đó, U. K. Ulêđốp tiếp tục khẳng định: văn hóa phải được nhìn
nhận trong cả hoạt động sáng tạo lẫn vận động tiến bộ của xã hội và con
người. Vì thế, văn hóa - đó không phải chính những hiện tượng vật chất
hay tinh thần mà là những đặc trưng của chúng từ quan điểm biến đổi và
phát triển. Bởi thế có thể xem xét văn hóa như chất lượng vốn sẵn có với
13
mọi hiện tượng xã hội và trước tiên với chính bản thân con người như chủ
thể của quá trình lịch sử…
Từ sự phân tích trên văn hóa được tiếp cận từ hai phương diện. Thứ
nhất, theo phương diện hoạt động: văn hóa biểu hiện phương thức tồn tại
của con người với đầy đủ bản chất của mình thông qua các hoạt động sống.
Do vậy, văn hóa hiện diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: lĩnh
vực kinh tế, chính trị - xã hội và tư duy. Thứ hai, theo phương diện giá trị:
văn hóa được xem như là sản phẩm của hoạt động con người. Văn hóa là
cái sáng tạo bởi con người trong sự khác biệt với cái được tạo nên bởi tự
nhiên.
Văn hóa là khái niệm có nội hàm rất rộng, liên quan đến đời sống vật
chất tinh thần của con người. Xuất phát từ nhiều cách tiếp cận, có nhưng
quan điểm và lý giải khác nhau về văn hóa.
- Ở góc độ miêu tả, nhà nghiên cứu văn hóa người Anh E. B. Thai -
Lơ cho rằng: ‘‘văn hóa là một phức thể bao gồm kiến thức, tín ngưỡng,
nghệ thuật, đạo đức, pháp luật. Tập quán và thói quen của con người, với tư
phát triển lịch sử nhất định của một xã hội, sức sáng tạo và năng lực của
con người được thể hiện trong xã hội, biểu hiện các kiểu và hình thức tổ
chức đời sống và hoạt động, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần
do con người tạo ra… văn hóa bao gồm những kết quả khách quan của hoạt
động con người (sản xuất, máy móc, thiết bị, kết quả nhận thức, tác phẩm
nghệ thuật, chuẩn tắc đạo đức và pháp luật) cũng như qua sức sáng tạo và
năng lực con người thể hiện trong hoạt động (tri thức, kỹ năng, thói quen,
trình độ trí tuệ, sự phát triển đạo đức và thẩm mỹ, thế giới quan, phương
thức và hình thức giao tiếp giữa con người với nhau) theo nghĩa hẹp, văn
hóa là lĩnh vực đời sống tinh thần của con người [17, 17].
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ
cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn
bộ nhưng sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp
mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người
sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
[13, 143].
Tổ chức văn hóa thế giới (UNESCO), đã đưa ra khái niệm về văn
hóa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng
15
biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của một
xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và
văn chương, nhưng lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ
thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho
con người những suy xét về bản thân. Chính văn hóa đã làm cho chúng ta
trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và
dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự
ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thiện được
đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt
sống tinh thần của con người được duy trì và phát triển trong tiến trình lịch
sử, là sự tiến hóa của ý thức đạo đức, luân lý, tôn giáo triết học, khoa học
pháp luật và ý thức chính trị, thức đẩy sự tiến bộ của nhân loại. Mặt khác
người ta cũng xem văn hóa như những điểm đặc thù của một xã hội. Văn
hóa là hệ thống các giá trị và tư tưởng quy định kiểu tổ chức xã hội ở
những thời kỳ lịch sử khác nhau. Các hệ thống đó là khác nhau và tương
đối độc lập với nhau, trong chúng bao gồm toàn bộ tài sản văn hóa vật chất,
tập quán chủng tộc, các dạng ngôn ngữ và các hệ thống biểu trưng khác”
[http: //www. Vientriethoc. Com. Vn/tapchitriethoc10/2008].
Theo tất cả những góc độ nhìn nhận nói trên, có thể rút ra một kết
luận phổ quát rằng. “văn hóa là toàn bộ sáng tạo của con người, tích lũy lại
trong quá trình hoạt động thực tiễn - xã hội, được đức kết thành hệ giá trị
và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử
văn hóa của cộng đồng người. Hệ giá trị xã hội là một thành tố cốt lõi làm
nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội, nó có khả năng chi phối đời
sống tâm lý và mọi hoạt động của những con người sống trong cộng đồng
xã hội ấy” [18, 43].
Văn hóa là một phạm trù có nội hàm sâu rộng, bao gồm nhiều thành
tố như: Ngôn ngữ, Nhà cửa - kiến trúc, nghệ thuật, tín ngưỡng, lễ tết, lễ hội,
văn chương, hội họa, phong tục tập quán, … Tất cả những thành tố này là
kết quả hoạt động sáng tạo của con người. Phạm vi của văn hóa không chỉ
đơn nhất, khu biệt ở một vùng, miền nào của thành tố văn hóa mà nó trải
rộng trên tất cả các lĩnh vực. Mỗi lĩnh vực là một cái nôi sản sinh ra văn
hóa nhưng cũng vừa là một môi trường cụ thể để văn hóa tồn tại và phát
triển. Hay nói một cách khác, văn hóa được tắm mát, gọt giũa và trau dồi
trong mỗi hình thức tồn tại cụ thể của tồn tại xã hội thì văn hóa ngày càng
trở nên hoàn thiện và “tinh khiết” hơn.
17
1.2.Quan điểm của triết học Mác-Lênin về văn hóa
1.2.1. Bản chất và đặc trưng của văn hoá
18
Văn hóa cũng nói lên quá trình mà con người để lại dấu ấn trong cuộc hành
trình đi tìm và vươn tới những giá trị chân - thiện - mỹ. Do vậy bản chất
của văn hóa là hoạt động sáng tạo ra những giá trị. Thể hiện ở những khía
cạnh sau:
- Văn hóa là sản phẩm của con người, phản ánh năng lực sáng tạo
của con người, mang dấu ấn của một thể cộng đồng lên các sản phẩm vật
chất và hiện tượng tinh thần.
- Văn hóa biểu hiện thái độ, hành vi của con người trước hiện thực.
- Văn hóa là phương thức sống, phương thức hoạt động của con
ngưởi hiện tại trên cơ sở kế thừa những giá trị cũ, đồng thời định hướng
cho hành động trong tương lai.
Từ bản chất của văn hóa có thể thấy văn hóa có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, “văn hóa phản ánh năng lực sáng tạo của con người, văn
hóa phải là sản phẩm của con người có tư duy, trí thông minh, có trái tim
rung động và sự cảm thụ tinh tế… chính các sáng tạo văn hóa làm cho nhân
loại đạt được nhiều điều kỳ diệu, đưa con người lên vị trí chủ thể của sự
phát triển.
Thứ hai,“văn hóa là thiên nhiên thứ hai” được con người sáng tạo ra
dựa trên cơ sở vận dụng đúng quy luật khách quan và hoàn cảnh sống cụ
thể, bằng cả tư duy sáng tạo, cả ý chí, nghị lực, quyết tâm đã được vật chất
hóa. Chính tính sáng tạo trong văn hóa là yếu tố chủ yếu làm nên động lực
của phát triển.
Thứ ba, văn hóa biểu hiện thái độ của con người trước hiện thực. Thái
độ đó là tổng hợp tư tưởng, ý thức tôn giáo, dân tộc, quan niệm sống của cá
nhân… trong hệ thống thái độ của con người trước hiện thực thì quan trọng
nhất là thái độ đối với lao động. Bởi vì lao động là điều kiện cơ bản đầu
tiên của toàn bộ đời sống loài người, lao động đã sáng tạo ra chính bản thân
con người.
Thứ tư, văn hóa là phương thức sống, phương thức hoạt động của con
Theo V. I. Lênin thì yếu tố quan trọng nhất của văn hóa vật chất là
phương tiện sản xuất trước hết là công cụ lao động, cái mà con người sử
dụng trong lao động sản xuất của mình. Phát triển vật chất kỹ thuật của xã
hội là cơ sở hiên thực cho những tiến bộ trong lĩnh vực văn hóa, cần phải
phát triển mạnh mẽ các phương tiện sản xuất vật chất, cần phải có cơ sở vật
chất nhất định.
20
Phương tiện tiêu dùng cũng là một bộ phân của văn hóa vật chất. Các
phương tiện tiêu dùng không những xác định con người đã sử dụng cái gì ở
trình độ này mà con nói lên con người đã sử dụng nó như thế nào, nhu cầu
của họ phát triển đến đâu. Điều đó đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa.
Không chỉ có sản phẩm vật chất và phương tiện sản xuất, tiêu dùng
mà văn hóa vật chất còn là hoạt động thực tiễn sáng tạo và sử dụng các
phương tiện ấy. Trong quá trình tiến hành các hoạt động ấy thì trí thức,
kinh nghiệm đã được vật thể hóa thành sản phẩm vật chất, hoạt động này
thể hiện mối quan hệ giữa người và người trong quá trình hoạt động xác lập
nên những mối quan hệ sản xuất khách quan và đây cũng là một bộ phận
của văn hóa vật chất.
Văn hóa tinh thần là toàn bộ nhưng giá trị của đời sống tinh thần bao
gồm khoa học và mức độ áp dụng các thành tựu của khoa học vào sản xuất,
sinh hoạt, trình độ học vấn, tình trạng giáo dục, y tế, nghệ thuật, chuẩn mực
đạo đức trong hành vi của các thành viên xã hội, trình độ phát triển nhu cầu
của con người… văn hóa tinh thần được trầm tích trong hinh thức “vật thể”
, tất cả những cái đó song và cộng tác với thế hệ hiện nay, là bảo vật của
toàn bộ sự giàu có của tinh thần con người.Văn hóa tinh thần còn bao gồm
cả những phong tục tập quán, những phương thức giao tiếp và ngôn ngữ.
Trong hoạt động thực tiễn xã hội, con người ngoài việc sản xuất ra
những điều kiện vật chất, phương tiện sinh hoạt thì còn sản xuất ra ý thức -
sáng tạo ra những quan niệm, tư tưởng của mình dưới nhiều hình thức khác
nhau: ý thức tôn giáo, khoa học, nghệ thuât, ý thức pháp quyền, ý thức đạo
đoạn phát triển lịch sử của mình”.
C. Mác và Ph. Ăng - ghen đã nêu ra một luận điểm hết sức quan
trọng rằng, mỗi bước mà con người tiến đến văn hóa là mỗi bước con
người tiến đến tự do. Điều này thể hiện rõ ở những chức năng cơ bản sau
của văn hóa:
* Chức năng giáo dục
Khi văn hóa trở thành một “sản phẩm đặc biệt” đi cùng “sự sống”
của xã hội loài người, nó đã trở thành một nguồn “dinh dưỡng” không thể
thiếu để nuôi sống “cơ thể” mỗi cá nhân, gia đình, tập thể và mỗi cộng
đồng - xã hội. Tuy nhiên điều này không thể hiểu bằng sinh học, phải hiểu
hóa tập là một dạng “vitamin” theo nghĩa bóng, tập trung bồi dưỡng cho lý
tưởng, đạo đức và hành vi nhằm hướng tới một con người, một gia đình,
một cộng đồng - xã hội khỏe về “thể chất” cũng như “tinh thần”. Một xã
hội phát triển phải là một xã hội đảm bảo được các “chỉ số phát triển con
22
người” (HDI) như: thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ và giáo dục.
Theo đó, văn hóa có sứ mệnh bao trùm lên tất cả các lĩnh vực, và điều đó
cũng có nghĩa là không có lĩnh vực riêng biệt nào lại không có sự tham gia
của văn hóa. Văn hóa len lõi vào từng ngõ, ngách của đời sống, tham gia
vào quá trình xã hội hóa giáo dục, nhằm làm cho xã hội phát triển một cách
bền vững. Cũng trong sự nghiệp giáo dục này, văn hóa là nguồn tri thức bồi
bổ cho toàn hệ thống song cũng nhờ vào sự nghiệp này, văn hóa cũng được
“lai quả” nên ngày càng trở nên “giàu có” vì tích lũy được nhiều “tri thức
sống”. Khi thực hiện chức năng giáo dục đối với hệ thống - xã hội, các
thông số văn hóa trở thành các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển xã hội
cũng như là điều kiện để so sánh mức độ văn minh giữa các dân tộc.
Thực hiện chức năng giáo dục cũng là thực hiện nhiệm vụ của mình.
Vì văn hóa là thành quả được hình thành trong quá trình lâu dài, được lưu
truyền qua nhiều thế hệ, tạo thành nhưng chuẩn mực mang giá trị tương đối
ổn định. Cho nên sứ mệnh giáo dục của văn hóa đó chính là truyền đạt
biểu đạt tư duy - ngôn ngữ, nhưng đến lượt mình văn hóa lại trở thành môi
trường để con người giao tiếp với nhau. Nói cách khác, bằng văn hóa mà
con người gắn kết với nhau. Nhờ có văn hóa mà hoạt động giao tiếp của
con người trở nên nhân văn, nhân bản hơn.
* Chức năng điều chỉnh
Văn hóa góp phần điều chỉnh hành vi ứng xử của con người không
chỉ đối với xã hội mà còn đối với cả tự nhiên. Không phải bằng cơ chế di
truyền và chọn lọc tự nhiên để sống cùng tự nhiên, con người biến đổi tự
nhiên theo cách của mình (nhưng vẫn tuân thủ được quy luật) từ đó tạo ra
nhưng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu. Nhìn từ phạm vi hẹp, văn hóa còn
góp phần điều chỉnh hành vi “tự ứng xử” với chính bản thân mình của con
người. Nói một cách khác văn hóa tác động tích cực vào thái độ của con
người đối với thiên nhiên, với xã hội và với chính mình. Nhờ vào tính giá
trị, văn hóa có sức mạnh điều chỉnh hành vi của con người trên cả ba
phương diện.
* Chức năng nhận thức, cải biến tự nhiên và xã hội
“Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con
người, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực
khách quan”. Vì vậy, nếu văn hóa trải mình trong tất cả mọi hoạt động đời
sống thì có nghĩa là phải nhận thức văn hóa ở mọi phương diện, mọi lĩnh
vực. Tuy nhiên, văn hóa không chỉ là sản phẩm có từ hoạt động thực tiễn,
được chủ thể (con người) mang trong sự tồn tại lâu dài qua nhiều thế hệ mà
24
nó còn trở thành khách thể (đối tượng) của nhận thức. Đây là hai mặt của
một vấn đề, tác động biện chứng với nhau. Hoạt động lao động sáng tạo
của con người với tư cách là cái sản sinh ra tri thức giúp con người khám
phá và làm chủ giới tự nhiên, xã hội và bản thân con người. Việc phát huy
những tiềm năng sáng tạo của con người góp phần nâng cao nhận thức và
hoạt động thực tiễn. Văn hóa với các hoạt động và sản phẩm của nó (bảo
tàng, công trình kiến trúc, sinh hoạt văn hóa, tác phẩm nghệ thuật… ) là