1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: DÂN TỘC HỌC
MÃ SỐ: 60.22.70
ĐỀ TÀI:
RỪNG TÂM LINH CỦA NGƯỜI CƠ TU Ở
HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TÁC GIẢ: HỒ VIẾT HOÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN XUÂN HỒNG
HỘI ĐỒNG BẢO VỆ: TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ
quyền quản lý tối cao, duy nhất của làng ñối với mọi tài nguyên ñất và rừng.
Trong ñó, rừng cộng ñồng là một dạng ñất công thuộc quyền sở hữu của làng,
ñược quản lý thông qua luật tục – một công cụ hữu hiệu nhằm ñảm bảo tính chất
sở hữu cộng ñồng ñối với loại hình tài nguyên quan trọng này. Tất cả mọi thành
viên của cộng ñồng phải chấp hành mọi quy ñịnh/chế tài trong luật tục. Bên cạnh
ñó, cùng với luật tục và cao hơn luật tục, người Cơ tu còn ñược “quản lý” bằng sự
“thiêng hóa” bởi hệ thống thần linh (Yàng), là thế lực nắm quyền sở hữu và quản
lý tối cao ñối với các tài nguyên ñất và rừng. Gắn liền với hình thức sở hữu và
quản lý này là loại hình rừng tâm linh – một nguồn tài nguyên mang nhiều giá trị
vật chất lẫn tinh thần.
Rừng tâm linh là “không gian xã hội” ñặc biệt, là những ñám rừng
nguyên sinh tự nhiên cuối cùng còn sót lại của làng miền núi. Đó là dạng tài
nguyên ñất công ñặc thù của cộng ñồng làng; là nơi con người không ñược vào
khai thác tài nguyên, thậm chí không ñược/không dám bước chân vào khi chưa
có sự ñồng ý của các thần linh.
3
Rừng tâm linh là một dạng thức ñặc biệt của tín ngưỡng, tôn giáo, văn hoá
tâm linh. Ở ñó, tính chất tâm linh ñược phán ảnh qua sự ngưỡng vọng, sùng kính
của con người vào các thế lực siêu nhiên, các vị Yàng (rừng thiêng), hay sự sợ hãi
vào ma quỷ, ác thần (rừng ma). Mặt khác, tính chất tâm linh cũng ñược bắt nguồn
từ chính sự bất lực của người Cơ tu trước các sự vật kỳ lạ, hiện tượng kỳ bí, tự
nhiên hùng vỹ,... dẫn ñến sự “thiêng hoá” vạn vật (vạn vật hữu linh). Vì vậy, trong
ý thức và hành ñộng của người Cơ tu ñối với rừng tâm linh luôn thể hiện lối ứng
xử có “văn hóa”, có “ñạo ñức”, có “tình”.
Người Cơ tu ở NĐ nói riêng và các dân tộc thiểu số ở Trường Sơn – Tây
Nguyên nói chung sống dựa chủ yếu vào rừng, gắn bó mật thiết với rừng không
chỉ về mặt vật chất, mà còn cả những giá trị tinh thần, tâm linh. Đối với ñồng bào,
rừng là “một phần bản nguyên của con người”, ñó không chỉ là không gian mà
còn là thời gian; là sự vĩnh hằng, là cõi vô cùng. “Sống rừng nuôi, chết rừng
thế giới, ñưa ra các khái niệm, cách tiếp cận khác nhau ñối với loại tài nguyên
này. Theo FAO (1991) rừng cộng ñồng là khái niệm“diễn tả hàng loạt các hoạt
ñộng gắn người dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi
ích các sản phẩm này”. Định nghĩa của FAO phản ánh tính chất cộng ñồng trong
quản lý rừng trên hai khía cạnh: [i]. Quản lý rừng cộng ñồng (tức là cộng ñồng
quản lý rừng của cộng ñồng) và [ii]. Quản lý rừng dựa vào cộng ñồng (cộng ñồng
quản lý rừng cho chủ thể khác).
Trong khi ñó, các nội dung trình bày của ñại ña số các nhà nghiên cứu về
các loại hình rừng cộng ñồng ở Việt Nam ñã gợi lên một cách hiểu về rừng cộng
ñồng: là những diện tích rừng do cộng ñồng làng truyền thống, cộng ñồng dân cư
thôn, hoặc liên thôn, nhóm hộ gia ñình hoặc nhóm sở thích cùng quản lý, bảo vệ
và sử dụng. Ở TTH, theo Nguyễn Quang Hòa Anh (2009), có 5 loại hình rừng
cộng ñồng khác nhau: [i]. Rừng do cộng ñồng quản lý theo luật tục/ hương ước,
[ii]. Rừng do cộng ñồng dân cư thôn quản lý, [iii]. Rừng do cộng ñồng liên thôn
quản lý, [iv]. Rừng do nhóm hộ quản lý, [v]. Rừng do nhóm sở thích (câu lạc bộ)
quản lý. Trong ñó, trừ loại hình [i], các loại hình còn lại ñều ñược Nhà nước công
nhận chính thức nhưng ñã mặc nhiên ñược thừa nhận. Rừng thiêng, rừng ma, rừng
thổ công, rừng mó nước (cung cấp nước), rừng phòng hộ xóm làng, rừng cung cấp
lâm sản truyền thống cho cộng ñồng... ñều thuộc loại hình này. Không chỉ ñề cập
ñến khái niệm và cách hiểu, các nghiên cứu liên quan ñến vấn ñề này còn cho thấy
vai trò to lớn của rừng cộng ñồng trong quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên này.
5
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng như các tổ chức, dự án trong nước và
quốc tế ñã tham gia tìm hiểu và ñánh giá vai trò của rừng cộng ñồng trong quản lý
tài nguyên, thông qua các nghiên cứu ñiểm, nghiên cứu trường hợp trên ñịa bàn
các tỉnh có diện tích rừng.
Đi sâu vào một dạng thức ñặc biệt của rừng cộng ñồng - rừng thiêng, rừng
ma, hay còn gọi là rừng tâm linh - do cộng ñồng tự công nhận và quản lý theo
truyền thống dựa trên cơ sở luật tục các cấm kỵ, chúng tôi nhận thấy có nhiều