PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
!"
#$ !%&'()*$ !+
,-./()0&'()*$ !1
"23*4&'()*$5
2.4.1. Khái niệm về sự tham gia: 7
2.4.2. Đánh giá mức độ tham gia 7
2.4.3. Phân loại sự tham gia trong quá trình phát triển 8
+6'()*$ !*70/89:
2.5.1. Trên thế giới 9
2.5.2. Ở Việt Nam 11
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1. Đối tượng nghiên cứu 14
9 ;"
<=-"
3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin: 14
3.3.2. Phương pháp xử lý số liệu 16
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17
">?@0A5
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 17
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội xã Thượng Long 18
"6*BB0*@&'()*$ !
4.2.1. Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội và tài nguyên rừng của thôn Ta Vác (thôn 5) 22
4.2.2. Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức quản lý rừng cộng đồng thôn 5 26
4.2.3. Các bên liên quan chính đến tổ chức quản lý rừng cộng đồng thôn 5 29
",4C D !0.3=E;FG
4.3.1 Xây dựng ban quản lý của tổ chức quản lý rừng cộng đồng 30
4.3.2. Xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức quản lý rừng cộng đồng 32
lý rừng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán của dân tộc họ. Trong
nhiều trường hợp, người dân địa phương được đánh giá cao hơn các tổ chức bên ngoài
trong việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng - là nguồn sống của chính họ (Arnold,
1992).Vấn đề quản lý tài nguyên rừng ở cấp xã đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các cộng
đồng dân cư sống gần rừng. Người dân có nhu cầu lấy đất để sản xuất nông nghiệp, gỗ
củi để đáp ứng nhu cầu cuộc sống hằng ngày. Đối với những diện tích rừng được giao
khoán để bảo vệ, người dân chỉ được hưởng sự hỗ trợ của nhà nước bằng tiền khoán bảo
vệ rừng còn việc khai thác các lâm sản từ rừng là rất hạn chế. Nếu chỉ hỗ trợ tiền mà
không cho người dân hưởng lợi từ quản lý và sử dụng một cách bền vững thì đó chưa
phải là phát triển bền vững.
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã có từ lâu đời nhưng không phát triển do thiếu
sự quan tâm của Nhà nước. Theo các quan niệm truyền thống của đồng bào thì chế độ sở
hữu và quyền sử dụng đất đai, tài nguyên rừng trong thôn là sở hữu công đồng, của tất cả
các thành viên trong thôn bản, mọi thành viên trong cộng đồng đều được bình đẳng trong
việc khai thác sử dụng theo luật tục/quy ước của thôn do sự điều khiển của già làng,
trưởng bản, người ngoài cộng đồng không được vi phạm.
2
Trong thời gian gần đây, quản lý rừng cộng đồng có cơ hội phát triển. Sự ra đời
của các chính sách liên quan chứng tỏ sự quan tâm của nhà nước đến lĩnh vực này. Luật
đất đai 2003 và luật quản lý bảo vệ rừng 2004 đã thừa nhận cộng đồng dân cư thôn bản là
một đối tượng giao và rừng. Đây là cơ sở để cộng đồng dân cư thôn bản có quyền hưởng
lợi từ phần rừng và đất rừng do chính họ quản lý và bảo vệ.
Nam Đông là một huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế, diện tích là rừng núi
chiếm 64% (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế), là nơi sinh sống của cộng đồng các
dân tộc. Cũng như nhiều địa phương trong cả nước, trong những năm gần đây, diện tích
rừng trên địa bàn toàn huyện cũng bị suy giảm nghiêm trọng về cả số lượng lẫn chất
lượng. Cùng với sự quan tâm của nhà nước, nhiều tổ chức cộng đồng trong quản lý rừng
được thành lập trên địa bàn toàn huyện. Một câu hỏi đặt ra là các tổ chức này đã hình
thành như thế nào? Họ hoat động ra sao? Và hiệu quả mà tổ chức này mang lại trong việc
phát triển đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng dân cư nói chung và hiệu quả quản lý
1993) [8]
Hiện nay chưa có một khái niệm chính thức nào về tổ chức dựa vào cộng đồng
dưới góc độ nghiên cứu và góc độ quản lý nhà nước. Nhưng nó được sử dụng rất phổ
biến. Nói chung, tổ chức cộng đồng lấy cộng đồng làm nền tảng và là đối tượng mục tiêu
cho hoạt động. Tuy nhiên các hình thức dựa vào cộng đồng và cấu trúc của nó cũng rất
khác nhau. Các tổ chức cộng đồng được thành lập để giải quyết mối quan hệ trong cộng
đồng và giữa cộng đồng với các nhà nước và các bên liên quan khác trong các vấn đề cụ
thể như bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, truyền thông, phát triển nông
thôn…
Các tổ chức cộng đồng có các thành viên là người dân có cùng lợi ích chung nào
đó, ví dụ như các tổ chức người sản xuất, các nhóm cùng nguồn lợi, các ban phát triển
của làng. Sự phát triển này dựa trên khái niệm về vốn, nhấn mạnh đến các vốn sinh kế
4
khác nhau của cộng đồng: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn xã hội, vốn tài chính, vốn cơ
sở hạ tầng. Tổ chức dựa cộng đồng giải quyết can thiệp ở cấp cộng đồng và thường là
hoạt động trong các lĩnh vực sinh kế và xã hội. Chính vì thế tổ chức dựa vào cộng đồng
là những tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức dựa vào niềm tin. Các tổ chức cộng đồng có thể
được thành lập theo sáng kiến của cá nhân hoặc chính quyền địa phương, các tổ chức
quốc tế hoặc các nhân tố bên ngoài.
Các tổ chức dựa vào cộng đồng hoạt động và liên kết hoạt động thông qua các
điều lệ và những khía cạnh pháp lý được thừa nhận, gọi chung là thể chế. Thể chế là mối
quan hệ và ràng buộc giữa các thành viên của một tổ chức và giữa tổ chức với các bên
liên quan khác để đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả và bền vững. Một tổ chức
cộng đồng có thể tồn tại và phát triển được khi mục tiêu của nó tương thích với mục tiêu
của cộng đồng và đáp ứng được nhu cầu của người dân. Sự tương thích này giúp cho
người dân xác định và nói lên được nhu cầu của họ, trên cơ sở đó tổ chức điều chỉnh quá
trình ra quyết định và quá trình thực hiện quyết định của mình để đáp ứng tốt các nhu cầu
này. Điều này chỉ xảy ra khi các thành viên trong tổ chức được trao quyền và cộng đồng
được nâng cao năng lực. [6]
2.2. Rừng cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng
đất rừng sản xuất và đất rừng đặc dụng.
Mặc dù đã có Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ra ngày 12/11/2001 của Thủ tướng
Chính phủ về cơ chế hưởng lợi khi nhận giao đất giao rừng, kèm theo Thông tư
80/2003/TTLT-BTC/BNN & PTNT ra ngày 3/9/2003 hướng dẫn việc thực hiện Quyết
định 178, song chính sách này chỉ áp dụng cho các đối tượng là các tổ chức, cá nhân và
hộ gia đình mà chưa có những quy định cho đối tượng là cộng đồng tham gia quản lý
rừng. Như vậy, một trong những trở ngại lớn nhất cho việc phát triển quản lý rừng cộng
đồng là chưa có một cơ chế chính sách rõ ràng về nghĩa vụ và quyền hưởng lợi của cộng
đồng khi tham gia quản lý rừng tại địa phương.
Để tạo cơ sở pháp lý cho các đối tượng tham gia quản lý tài nguyên rừng, Luật Bảo vệ
và Phát triển Rừng sửa đổi (2004) đã quy định rõ về quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu
rừng và nghĩa vụ của các chủ rừng, đồng thời đã đề cao trách nhiệm của chủ rừng đối với
rừng đã được giao, được thuê rừng trồng thuộc quyền sở hữu của mình. Đây chính là
động lực thúc đẩy các chủ rừng yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, bảo vệ
và phát triển rừng. Bên cạnh đó Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng (2004) đã chính thức
công nhận vai trò, vị trí của cộng đồng dân cư thôn trong việc quản lý, bảo vệ và phát
triển rừng.
6
2.4. Sự tham gia trong quản lý rừng
2.4.1. Khái niệm về sự tham gia:
Theo nghĩa chung nhất, sự tham gia là sự gắn kết một cách lâu dài, chủ động và có
vai trò ngày càng cao vào quá trình phát triển, từ việc xác định vấn đề đến việc lập kế
hoạch, thực hiện, giám sát, đánh giá các hoạt động nhằm nâng cao đời sống cộng đồng và
đảm bảo sự phân chia công bằng lợi ích của sự phát triển.
Theo FAO, sự tham gia là quá trình mà qua đó người dân có thể nhận biết của
chính mình và tham gia vào việc thiết kế, thực hiện, đánh giá các phương án phát triển tại
địa phương.
Sự tham gia là một quá trình cho phép người dân tự tổ chức để xác định nhu cầu
và cùng nhau thiết kế, tổ chức thực hiện, đánh giá các hoạt động và cùng nhau hưởng lợi
từ các hoạt động đó. Các hoạt động được triển khai từ các nguồn lực mà người dân có thể
1. Tham gia bị động: Mọi người tham gia được cho biết cái gì sẽ xảy ra hoặc đã xảy ra.
Chỉ là sự thông tin một cách đơn phương của cơ quan hành chính hoặc cơ quan quản lý.
2. Tham gia bằng cách cung cấp thông tin: Mọi người tham gia bằng cách trả lời các mẫu
câu hỏi do nhà nghiên cứu đưa ra, sử dụng các phiếu điều tra hoặc cách tiếp cận tương tự.
3. Tham gia bằng cách tham vấn: Mọi người tham gia bằng cách tham vấn. Những người
bên ngoài lắng nghe các quan điểm và xác định vấn đề và giải pháp đồng thời sửa đổi
chúng theo phản ứng của mọi người
4. Tham gia do vật chất: Mọi người tham gia bằng cách cung cấp nguồn lực, ví dụ, lao
động để được cấp lương thực hoặc khuyến khích vật chất.
5. Tham gia mang tính chất chức năng: Mọi người tham gia bằng cách xây dựng các
nhóm nhằm thỏa mãn mục tiêu dự án liên quan đến sự phát triển hoặc thức đẩy các tổ
chức những tổ chức xã hội được khởi xướng từ bên ngoài. Những tổ chức này có khuynh
hướng phụ thuộc vào người khởi xướng và hướng dẫn từ bên ngoài, song cũng có thể trở
thành tự lập.
6. Sự tham gia có tác động qua lại: Mọi người tham gia vào phân tích để xây dựng kế
hoạch hành động và thiết lập nên các tổ chức mới ở địa phương hoặc củng cố các tổ chức
đã có từ trước. Các nhóm này kiểm soát những quyết định của địa phương do đó mọi
người sẽ có những đóng góp của riêng mình vào việc duy trì cơ cấu hoặc thực hành.
7. Tự vận động: Mọi người tham gia bằng cách tự khởi xướng độc lập với các tổ chức
bên ngoài để thay đổi các hệ thống. Họ hình thành các hợp đồng với các tổ chức bên
ngoài để có được nguồn lực và cố vấn kỹ thuật mà họ cần, nhưng vẫn duy trì sự kiểm
soát cách sử dụng tài nguyên. [6]
8
2.5. Quản lý rừng cộng đồng trên thế giới và ở Việt Nam
2.5.1. Trên thế giới
Thống kê của FAO (1999) những năm cuối thế kỷ XX, cả thế giới trong 5 năm
mất 56 triệu ha rừng, châu Phi và châu Á mỗi năm mất 3 đến 3,6 triệu ha, tỷ lệ mất rừng
hằng năm đạt kỷ lục 0,6 – 0,7% trong khi cả thế giới là 0,3%. Riêng châu Âu tăng được
2,6 triệu ha. [9]
Trước thực trạng đó đòi hỏi cấp thiết phải đưa ra được một phương thức quản lý
phải được thực hiện trên nguyên tắc được cộng đồng xây dựng và thỏa thuận. Đến đầu
những năm 90 của thế kỷ XX, chính phủ ở nhiều bang của Ấn Độ cùng với sự hỗ trợ của
các nhà tài trợ trong và ngoài nước đã xúc tiến những kế hoạch xây dựng lâm nghiệp xã
hội thông qua những kế hoạch quản lý rừng công cộng.
Ở Nêpan, năm 1978, chính phủ nước này đã ban hành chính sách lâm nghiệp cộng
đồng mở rộng quyền quản lý các nguồn tài nguyên rừng nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng
đồng. Tuy nhiên quá trình quản lý còn gặp nhiều bất cập do nhữn khác nhau về tập quán
của người bản địa, các khu rừng lại phân tán không gắn với phân vùng hành chính nên
chính sách lâm nghiệp cộng đồng lúc đó chưa phát huy được tác dụng. Một hình thức
quản lý theo các nhóm sử dụng rừng, được nhà nước công nhận tư cách pháp nhân và
được nhà nước hỗ trợ ra đời. Nhà nước giao toàn bộ các khu rừng cho các nhóm sử dụng,
tăng quyền lực và ưu tiên đào tạo cho họ. Các nhóm sử dụng rừng được hưởng tất cả các
khoản thu nhập từ nguồn tài nguyên. Vai trò của các tổ chức lâm nghiệp được thay đổi từ
chức năng quản lý, kiểm soát sang chức năng khuyến nông – khuyến lâm và hỗ trợ. Với
hình thức quản lý mới rừng của các cộng đồng được bảo vệ tốt hơn.
Ở Thái Lan, năm 1968, nước nà y đã thực hiện nhiều chương trình làng lâm
nghiệp triển khai tại các vùng đất thoái hóa. Từ năm 1981, chính phủ Thái Lan khuyến
khích và mở rộng quyền quản lý rừng cho cộng đồng. Nhà nước phát triển các dự án làng
lâm nghiệp trên quy mô lớn, tại đó các hộ gia đình được giao đất thổ cư và đất canh tác
nông lâm nghiệp. Năm 1989, nhà nước đưa ra chính sách phát triển lâm nghiệp cộng
đồng trong đó xác định pháp lý bảo vệ và quản lý đất lâm nghiệp cho các cộng đồng địa
phương. Chính nhờ đó, rừng được bảo vệ và quản lý tốt hơn. [9]
Ở Philippin, từ sau năm 1971, chính phủ ban hành chính sách cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho các cá nhân và cộng đồng trong thời gian 25 năm và sau đó có thể
gia hạn. Nhà nước hình thành các vùng đệm cho các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn
quốc gia, tai đó cộng đồng địa phương được phép tham gia quản lý nguồn tài nguyên
thiên nhiên. [9]
Theo Schuartzman (1989), tại Braxin, có một bộ phận người dân địa phương sống
phụ thuộc vào việc chích nhựa mũ cao su tự nhiên trong các khu rừng cấm khai thác lâu
10
như vậy, luật tục quy định của người Tà Ôi, Vân Kiều ở miền Trung, người Stiêng ở
Đông Nam Bộ đều có quan niệm về đất đai, tài nguyên rừng là tài sản chung của tất cả
cộng đồng không phải của riêng ai.
11
Để phát triển phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, Việt Nam đã bắt đầu có
những nghiên cứu cũng như thực hiện các dự án hỗ trợ cho phát triển lâm nghiệp xã hội,
lâm nghiệp cộng đồng trong các vùng khác nhau. Nguyễn Hồng Quân (2000) đã phân
loại cộng đồng ra làm 2 loại, cộng đồng dân tộc và cộng đồng làng bản. Theo tác giả khái
niệm cộng đồng sử dụng trong phương thức quản lý rừng cộng đồng ở nước ta là cộng
đồng làng bản. Ngoài ra, với sự nỗ lực của các dự án phát triển nông thôn ở Đăk Lăk
(ETSP), ADB ở Gia Lai, khái niệm quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được đề xuất bao
gồm các khía cạnh: M Quyền sử dụng đất lâu dài sau giao đất giao rừng HM Đánh giá tài
nguyên có sự tham gia để lập kế hoạch quản lý rừng M Nâng cao năng lực kỹ thuật lâm
sinh ở các cấp cơ sở là nền tảng cho việc đảm bảo quản lý rừng dựa vào cộng đồng bền
vững (GFA, 2000).
Hội thảo quốc gia về rừng cộng đồng, tổ chức lần đầu tiên (6/2000), tại Hà Nội đã
khẳng định: O6'()*$ !P070A.F0AR%-E.Q%.
4C0.'R=E;F 04*$6'()*$ !S
=P3Q/ !T*DQ&'()*$(FE%T.3
3 !%T !*U*%T=-=7 H 0=E
I !=E=P0*4 !J*VO
Để đánh giá tính phổ biến của rừng cộng đồng thôn bản có thể dùng hai chỉ tiêu:
tỷ lệ số xã có rừng cộng đồng trong tổng số xã và quy mô rừng cộng đồng thôn bản: tỷ lệ
rừng thôn bản chiếm trong tổng diện tích đất lâm nghiệp của thôn và hộ gia đình. Theo
thống kê ban đầu của Cục Kiểm Lâm (tháng 6/2001), có 1.023 xã thuộc 146 huyện ở 24
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có rừng và đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý
và sử dụng, với diện tích khoảng 2.348.390 ha, chiếm 15,5% diện tích đất lâm nghiệp của
toàn quốc, trong đó nhà nước giao là 1.211.000 ha và 214.000 ha do cộng đồng thôn quản
lý theo truyền thống, trong đó rừng do cộngđồng dân cư thôn quản lý chiếm tuyệt đại bộ
phận của diện tích đó.
- Chức năng nhiệm vụ của tổ chức cộng đồng
- Hệ thống quản lý, các bên liên quan
- Thành viên tham gia (theo thời gian)
3.2.2. Các hoạt động của tổ chức cộng đồng và sự tham gia của người dân
- Hoạt động xây dựng Ban quản lý của tổ chức
- Hoạt động xây dựng quy chế
- Hoạt động hội họp
- Hoạt động tuần tra bảo vệ rừng
- Hoạt động trồng rừng, xúc tiến tái sinh làm giàu rừng
- Hoạt động phòng chống cháy rừng
- Hoạt động vệ sinh rừng
- Hoạt động xây dựng vườn ươm
3.2.3. Những kết quả ban đầu của việc quản lý tài nguyên của tổ chức quản lý rừng cộng
đồng.
- Thực hiện các hoạt động quản lý
- Thay đổi tài nguyên rừng
- Tình trạng khai thác lâm sản trái phép
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin:
3.3.1.1. Thu thập thông tin thứ cấp:
14
- Thu thập các thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của đại bàn nghiên
cứu xã Thượng Long; thôn 5, xã Thượng Long.
- Văn bản, hồ sơ giao rừng, kế hoạch phát triển rừng, quy ước bảo vệ rừng của cộng đồng
dân cư thôn 5, xã Thượng Long.
- Các văn bản pháp luật liên quan đến việc giao đất giao rừng
- Đồng thời có tham khảo, kế thừa các thông tin liên quan đến quản lý rừng c ó sự tham
gia của cộng đồng từ các website, những nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
*Phương pháp: thu thập các báo cáo của xã, văn bản pháp luật, tại các phòng ban
có liên quan, sử dụng phiếu thu thập thông tin thứ cấp để thu thập thông tin từ Chủ tịch
+ Các khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình tham gia vào tổ chức
+ Nhu cầu hỗ trợ để họ tham gia tốt hơn các hoạt động quản lý bảo vệ rừng tốt
hơn.
- Phỏng vấn sâu trưởng ban quản lý rừng thôn, nhóm trưởng nhóm xây dựng vườm ươm,
tổ trưởng hai tổ bảo vệ rừng để thu thập các thông tin liên quan đến sự tham gia của
người dân trong thôn.
c, Quan sát các hoạt động của tổ chức cộng đồng như là tổ chức họp, triển khai các hoạt
động quản lý rừng,
3.3.2. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích tương quan trong phần mềm
Excel
16
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm của vùng nghiên cứu
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý
Xã Thượng Long nằm về phía Tây của huyện Nam Đông và cách thị trấn Khe Tre
khoảng 16 km.
Phạm vi ranh giới của xã Thượng Long:
- Phía Đông: giáp xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông.
- Phía Tây: giáp xã Thượng Quảng, huyện Nam Đông.
- Phía Nam: giáp tỉnh Quảng Nam.
- Phía Bắc: giáp xã Hương Hữu, huyện Nam Đông.
+ Thời tiết khí hậu
Xã Thượng Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ
rệt, có nhiệt độ bình quân năm: 24,4
o
C; Lượng mưa trung bình 2800mm/năm và độ ẩm
trung bình năm: 86%. Mùa mưa thường tập trung từ tháng 10 đến tháng 12 (chiếm trên
85% tổng lượng mưa cả năm).
rất quan trọng đối với đời sống của bà con nơi đây vì nó giải quyết được nhu cầu lương
thực, thực phẩm trước mắt và tạo thu nhập cho các hộ gia đình từ ruộng lúa vườn cây.
Xã còn một diện tích lớn chưa sử dụng (18,3%). Đây là tiềm năng phát triển lâm
nghiệp, chăn nuôi của xã.
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội xã Thượng Long
4.1.2.1. Dân số, lao động, dân tộc:
Xã Thượng Long có 8 thôn và 1 xóm với hai dân tộc chính là Katu và Kinh. Dân
tộc Katu chiếm 95,69% gồm 2.133 khẩu, dân tộc Kinh chiếm 4,31% gồm 96 khẩu. Dân
cư phân bố không đồng đều chủ yếu tập trung ở dọc đường tỉnh lộ 14B và một số thôn
gần trung tâm xã.
18
W'NBB(4 %F]^RS&_
Stt
Chỉ tiêu
Đvt
Năm 2006 Năm2007 Năm 2008
1 Tổng số hộ Hộ 470 465 469
2 Tổng số nhân khẩu Người 2250 2290 2229
3 Tổng số lao động Người 1162 1175 1089
4 Bình quân
4.1
Bình quân nhân
khẩu/hộ
Khẩu 4,78 4,92 4,75
4.2 Bình quân lao động/hộ
Lao
động
2,47 2,52 2,27
[9!NW44]`RS RS_M
Số hộ năm 2007 giảm so với năm 2006 là do một số hộ đã tiến hành nhập hộ trong
loại cây như keo, cao su, quế Điều kiện đất đai ở đây phù hợp cho phát triển các loại
cây này, song do việc chăm sóc quản lý chưa tốt dẫn đến tình trạng cây rừng phát triển
kém. Mặt khác, trình trạng quản lý rừng như hiện nay đã phát sinh nhiều mâu thuẫn giữa
người dân địa phương với công tác bảo vệ rừng của các lâm trường và nhà nước. Do vậy
hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng không cao, không khai thác hết tiềm năng, thế
mạnh của nghề rừng để tạo thu nhập bằng các hình thức khai thác sử dụng hợp lý tài
nguyên rừng hiện có, phát triển vốn rừng, rừng trồng
Phương thức quản lý rừng tại địa phương: hiện nay tại xã đồng thời tồn tại ba
phương thức quản lý rừng khác nhau. Đó là rừng do xã trực tiếp quản lý (chiếm 22,88%),
rừng do Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Đông quản lý (chiếm 74,84%) và rừng do cộng
đồng dân cư thôn 5 quản lý chiếm 1,84%.
- Chăn nuôi:
Tình hình chăn nuôi chậm phát triển, số lượng chăn nuôi dưới mức bình quân của
huyện và có xu hướng thu hẹp. Tập trung chủ yếu chăn nuôi bò và lợn, trâu chỉ nuôi phục
vụ sức kéo. Tổng đàn gia cầm còn hạn chế về số lượng chưa tương xứng với tiềm năng
chăn nuôi của địa phương. Việc chăn nuôi còn phân tán, nhỏ lẻ, chưa có một mô hình
chăn nuôi theo hình thức trang trại, thiếu tính chuyên nghiệp. Các kiến thức chăn nuôi
còn có những hạn chế, chưa được trang bị kiến thức về chế biến thức ăn gia súc, gia cầm
từ nguyên liệu có sẵn tại địa phương. Người dân hầu như chưa tiếp cận với công tác thú
y, hàng năm còn để xảy ra nhiều đợt dịch bệnh cho lợn, gà, đã làm cho người chăn nuôi
20
thua lỗ. Đây là vấn đề cần phải được khắc phục để đáp ứng yêu cầu phát triển nghề chăn
nuôi của người dân địa phương.
- Tiểu thủ công nghiệp:
Tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển, chỉ có 2 cơ sở mộc gia dụng nhỏ, một số hộ
đang học làm nghề thêu rem. Các ngành nghề truyến thống bị mai một, không còn duy
trì.
4.1.2.3. Cơ sở hạ tầng
- Ở xã có xây dựng chợ nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá thấp nên chưa được
sử dụng hiệu quả. Có 4 hộ buôn bán nhỏ và 1 cơ sở thu mua sắn nguyên liệu.
4.2. Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức quản lý rừng cộng đồng
4.2.1. Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội và tài nguyên rừng của thôn Ta Vác
(thôn 5)
Trước năm 1953, người dân Ka Tu sống rải rác trong xã và chưa được bố trí thành
các cụm dân cư hay thôn/bản. Họ tập trung ở các ven rừng và thung lũng, cuộc sống phó
thác vào tài nguyên rừng, chỉ nhờ vào các sản phẩm từ săn bắn và hái lượm để sinh sống.
Chính vì vậy, tại thời điểm này có tới 100% số hộ gia đình có cuộc sống phụ thuộc vào
tài nguyên rừng.
Thôn Ta Vác được thành lập vào năm 1973 với 100% đồng bào dân tộc Ka Tu. Từ
sau khi thành lập, Nhà nước thực hiện các chính sách định cư định canh cho đồng bào
dân tộc miền núi và hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi từ đó hình thức canh tác lúa nước
được hình thành và bà con đã ít vào rừng hơn.
Thôn Ta Vác hiện có 38 hộ với 187 khẩu. Tổng số lao động là 76 người (chiếm
40,86%) trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 90%. Theo đánh giá phân loại hộ của
xã năm 2007, thôn Ta Vác có 22 hộ nghèo (chiếm 57,89%), 10 hộ trung bình (chiếm
26,31%) và 6 hộ khá (chiếm 15,8%). Tỉ lệ hộ nghèo ở mức cao, số nhân khẩu phụ thuộc
chiếm trên 50% là một thách thức của thôn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, nâng
cao đời sống của người dân.
Tổng diện tích rừng của thôn 5 là 140,17 ha trong đó có 60,2 ha rừng tự nhiên và
79,97 ha rừng trồng. Rừng tự nhiên được giao cho cộng đồng thôn 5 quản lý từ năm
2006. Rừng trồng bao gồm hai loại cây là keo và cao su được phân về cho từng hộ trong
thôn; trung bình mỗi hộ có 1,59 ha cao su và 0,52 ha keo. Cơ cấu diện tích rừng của thôn
5 được thể hiện qua biểu đồ sau:
22
XB
N
W@
!
@
(15,69)
0,055
2 Chăn nuôi 22,02
26
(7,54)
26,25
(15,60)
0,9
3 Nuôi trồng thủy sản 2,92
3
(5,71)
4,37
(6,29)
0,50
4 Nghề phụ 4,38
0,5
(2,24)
5
(15,05)
0,25
5 Lâm nghiệp 40,16
40,50
(13,95)
25
(16,33)
0,005
Chú thích: Số trong ngoặc là độ lệch chuẩn
Mức tin cậy: 95%
[9!N<a0 %GGbM
Từ bảng số liệu trên cho thấy, lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất trong các ngành
nghèo (N=16)
Độ tin
cậy
Số hộ
khai
thác
(hộ)
Thu nhập
năm 2007
(đồng)
Số hộ
khai
thác
(hộ)
Thu nhập
năm 2007
(đồng)
Số hộ
khai
thác
(hộ)
Thu nhập
2007 (đồng)
1 Củi 23 253472 15
301500
(305502)
8
193437
(231132)
0,15