PHÁT TRIỂN RỪNG TRỒNG KINH TẾ Ở HUYỆN NAM ĐÔNG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ - Pdf 12



307

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72B, số 3, năm 2012 PHÁT TRIỂN RỪNG TRỒNG KINH TẾ Ở HUYỆN NAM ĐÔNG
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Trần Đoàn Thanh Thanh
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế

Tóm tắt. Phát triển rừng trồng kinh tế là một xu hướng tất yếu khách quan nhằm
phát huy lợi thế về đất lâm nghiệp ở vùng miền núi cũng như đáp ứng nhu cầu gỗ
nguyên liệu ngày càng tăng của xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc phát
triển rừng trồng kinh tế của huyện Nam Đông thời gian qua vẫn còn gặp nhiều khó
khăn và bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố; kết quả và hiệu quả trồng rừng thấp; cơ sở
hạ tầng phục vụ sản xuất còn khó khăn; trình độ lao động thấp, tập quán canh tác
còn lạc hậu; thu nhập của người trồng rừng thấp. Vì vậy, để góp phần thúc đẩy phát
triển rừng trồng kinh tế ở huyện Nam Đông có hiệu quả hơn, các giải pháp trước
mắt cần tập trung giải quyết là: hỗ trợ vốn cho người trồng rừng; đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng; hỗ trợ kỹ thuật và tuyên truyền phổ biến cho người trồng rừng nhận
thức về sự cần thiết phải đầu tư thâm canh. Giả pháp về lâu dài, cần hoàn thiện quy
hoạch phát triển rừng trồng kinh tế; rà soát lại diện tích rừng trồng kinh tế đã
chuyển đổi sang trồng cao su trên địa bàn huyện thời gian qua.

1. Đặt vấn đề
Nam Đông là một huyện miền núi có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất
lâm nghiệp nói chung và phát triển trồng rừng kinh tế nói riêng; góp phần đáng kể vào
việc xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống
cho người dân; thực hiện phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và bảo vệ môi trường sinh thái ở

thì bình quân mỗi năm tăng 426,05 ha
tương ứng với tốc độ tăng là
26,25%/năm. Như vậy, diện tích rừng
trồng kinh tế giai đoạn 2006 - 2010
có xu hướng tăng chậm hơn so với
giai đoạn 2003 - 2005. Nguyên nhân
chủ yếu là do quỹ đất để trồng rừng
kinh tế ngày càng giảm và xu hướng
chuyển sang trồng cao su của người
dân hiện nay. Xét theo chủ quản lý,
Đồ thị 2 [1][2][3][4][5] cho thấy, diện tích rừng trồng kinh tế do hộ gia đình quản lý
luôn chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng dần qua các năm. Năm 2010, diện tích
rừng trồng kinh tế do hộ gia đình quản lý là 3347,53 ha chiếm đến 88,22%.
Năm 2010, Hương Phú là xã có diện tích rừng trồng kinh tế lớn nhất huyện. Từ
năm 2006 đến năm 2010 diện tích rừng trồng kinh tế của xã Hương Phú tăng lên 223,40
ha; Thượng Quảng tăng 370,60 ha và Thượng Nhật tăng 372,00 ha; tương ứng tốc độ
tăng bình quân mỗi năm lần lượt là 6,5%, 37,84% và 27,67% [1][2][3][4][5].
2.2. Tình hình sản xuất rừng trồng kinh tế của các hộ điều tra
2.2.1. Tình hình đầu tư chi phí trồng rừng kinh tế
Số liệu bảng 1 cho thấy, mức chi phí đầu tư cho trồng rừng của các hộ là không
cao, bình quân chung toàn huyện 1 ha/chu kỳ chỉ đầu tư 13113.59 nghìn đồng. Trong đó,
chi phí lao động tự có chiếm tỷ trọng cao nhất với 6554.20 nghìn đồng chiếm 49.98%.
Đồ thị 1. Phát triển diện tích rừng trồng kinh tế
Huyện Nam Đông giai đoạn 2003 -2012
Đồ thị 2. Cơ cấu diện tích rừng trồng kinh tế theo
chủ quản lý ở Nam Đông giai đoạn 2006-2012 309


Phân bón là yếu tố cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho quá trình sinh trưởng và
phát triển của cây đặc biệt trong 3 năm đầu. Tuy nhiên, mức đầu tư phân bón cho trồng
rừng của các hộ điều tra là không lớn và chủ yếu cho năm đầu. Đối với diện tích rừng
đã thu hoạch, lượng phân bón mà hộ sử dụng bình quân chỉ ở mức 109 kg/ha/chu kỳ nên
chi phí phân bón là 621,40 nghìn đồng/ha (tính theo giá thực tế của năm đầu tư). Đây là
một trong những nguyên nhân làm cho kết quả và hiệu quả trồng rừng của các hộ là
không cao.
Chi phí bảo vệ thực vật chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng chi phí sản xuất. Tuy nhiên,
xu hướng ưa thích sử dụng thuốc diệt cỏ thay cho công lao động làm cỏ hiện nay dẫn
đến những mối lo ngại về môi trường và sức khoẻ của con người trong tương lai. 310

2.2.2. Kết quả và hiệu quả trồng rừng kinh tế
Bảng 2. Kết quả và hiệu quả sản xuất rừng trồng kinh tế
(Tính bình quân/ha/chu kỳ)
Theo xã
CHỈ TIÊU ĐVT BQC
Hương
Phú
Thượng
Nhật
Thượng
Quảng
1. Sản lượng bán Tấn 57,89 65,88 47,60 55,29
2. Giá trị sản xuất 1000đ 23323,93 24224,85 16828,00 27243,16
3. Tổng chi phí 1000đ 13113,59 12565,89 9082,71 17030,94
4. CP trung gian 1000đ 3810,11 3343,03 1843,27 5989,75
5. Giá trị gia tăng 1000đ 19513,82 20881,83 14984,73 21253,41

đáng tin cậy để sử dụng cho nghiên cứu. Kết quả kiểm định KMO and Bartlett's Test
cho thấy cơ sở dữ liệu này là hoàn toàn phù hợp vì giá trị kiểm định đạt 0.697 (>0.5) với
mức ý nghĩa thống kê là 99% (Sig. = 0.000 < 0,01). Vì vậy, kỹ thuật phân tích nhân tố là
hoàn toàn có thể thực hiện được trong nghiên cứu này bởi vì quy mô mẫu là thích hợp
và đủ lớn để thực hiện.
Bảng 3. Kiểm định độ tin cậy tổng thể của các biến điều tra
Tên biến
Tương
quan
tổng
biến
Hệ số
Cronbach’s
Alpha nếu
loại biến
Tên biến
Tương
quan
tổng
biến
Hệ số
Cronbach’s
Alpha nếu
loại biến
1. Chất lượng đất 0,370 0,817 12. Đất đai 0,351

0,819
2. Địa hình và độ dốc 0,321 0,820 13. Kinh nghiệm 0,331

0,819


Cronbach'
s Alpha
N of
Items
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of
Sampling Adequacy.
0,697
Approx. Chi-Square 1792,036
df 210
,824 21
Bartlett's
Test of
Sphericity

Sig. 0,000
(Nguồn: Số liệu điều tra và phân tích trên SPSS năm 2011). 312

2.3.2. Phân tích nhân tố (Factor Analysis)
Bảng 4. Phân tích nhân tố của các thuộc tính ảnh hưởng đến PT RTKT
Các nhân tố tác động (Component)
Các yếu tố ảnh hưởng
F1 F2 F3 F4 F5 F6
4. Thời gian khai thác dài ,903
5. Cháy rừng ,894
6. Sâu bệnh ,881
7. Bão ,849

313

Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển rừng trồng kinh tế đã
cho phép tác giả nhóm 21 yếu tố ảnh hưởng đến phát triển rừng trồng kinh tế trên địa
bàn huyện thành 6 nhân tố ảnh hưởng bao gồm: i). Rủi ro tự nhiên (F
1
); ii). Năng lực
sản xuất của các hộ trồng rừng (F
2
); iii). Thị trường (F
3
); iv). Chính sách về phát triển
rừng trồng kinh tế (F
4
); v). Kết quả trồng rừng (F
5
) và vi). Điều kiện đất đai và cơ sở hạ
tầng (F
6
).
2.3.3. Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
- Nhân tố rủi ro tự nhiên (F
1
): Là một huyện miền núi thuộc Duyên hải miền
Trung vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu dãy Trường Sơn vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu
vùng đồng bằng nên Nam Đông “lắm nắng, nhiều mưa”. Mặt khác địa hình phức tạp, độ
dốc lớn kết hợp với điều kiện khí hậu thất thường như gió bão, hạn hán, lũ lụt vào mùa
hè, cây trồng thường mất năng suất, dễ bị sâu bệnh. Đặc biệt mùa khô kéo dài, dễ gây
cháy rừng. Vì vậy, với điểm đánh giá bình quân là 4,00 cho thấy, nhân tố rủi ro tự nhiên
có ảnh hưởng lớn đến phát triển rừng trồng kinh tế của hộ.

): Thực tế cho thấy, ở Nam Đông người dân có
nhiều sự lựa chọn để phát triển kinh tế. Họ có thể phát triển rừng, trồng cao su hoặc sắn 314

trên đất rừng kinh tế. Điều này tùy thuộc vào khả năng tạo thu nhập và việc làm của các
loại cây trồng nói trên. Cây cao su có khả năng tạo thu nhập cao hơn so với trồng keo.
Bình quân trong một năm thời kỳ kinh doanh, cây cao su tạo ra 24799,27 nghìn đồng
giá trị gia tăng (VA) (gấp 5,27 lần so với cây keo). Lợi nhuận của cây cao su cũng cao
hơn cây keo, bình quân 1 ha/năm là 13809,45 nghìn đồng, cao gấp 5,62 lần so với trồng
keo. Ngoài ra, trồng cây cao su cũng có khả năng tạo nhiều việc làm hơn so với trồng
keo. Bình quân 1 ha trong một năm người trồng cao su có một khoản thu nhập từ tiền
công lao động gia đình là 8406,25 nghìn đồng (tương đương vớng 85 công lao
động/năm), trong khi đó trồng keo chỉ là 1582,20 nghìn đồng (tương đương với 20
công/năm). Những số liệu trên phần nào chứng minh được vì sao người trồng rừng có
xu hướng chuyển từ trồng rừng sang trồng cao su trên những diện tích đất thích hợp.
Nhìn chung, thu nhập từ rừng trồng hiện nay chưa thật sự tạo động lực cho hộ trong
phát triển trồng rừng kinh tế.
- Điều kiện đất đai và cơ sở hạ tầng (F
6
): Rừng trồng kinh tế ở huyện Nam Đông
được trồng phần lớn ở độ dốc 15 - 35
0
. Về mặt lý thuyết độ dốc này là ít thuận lợi cho
trồng keo. Độ dốc quá cao cũng có thể là nguyên nhân làm cho rừng dễ bị gãy đỗ do gió
bão. Mặt khác, chất lượng đất trồng rừng kinh tế thường là đất xấu, cơ sở hạ tầng nội
vùng phục vụ sản xuất nhìn chung còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất.
Phần lớn diện tích là đồi núi nên đường sá đi lại khó khăn, có những rẫy đi bộ leo rừng
lội suối từ 3 đến 5 km, chính điều này gây trở ngại trong quá trình sản xuất. Vì vậy, mức

công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch chi tiết tại cơ sở.
Tóm lại, trong những năm qua, rừng trồng kinh tế của huyện Nam Đông có tốc
độ phát triển khá nhanh về quy mô diện tích và có những đóng góp tích cực vào việc cải
thiện thu nhập cho người nông dân. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển vẫn còn mang
tính tự phát, chưa chú trọng đầu tư thâm canh nên kết quả và hiệu quả thấp. Vì thế cần
có những giải pháp đồng bộ để thúc đẩy sự phát triển bền vững và hiệu quả của rừng
trồng kinh tế trên địa bàn huyện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hạt Kiểm lâm Nam Đông, Báo cáo số liệu hiện trạng rừng năm 2010, 2011
2. Hạt Kiểm lâm Nam Đông, Báo cáo số liệu hiện trạng rừng năm 2009, 2010
3. Hạt Kiểm lâm Nam Đông, Báo cáo số liệu hiện trạng rừng năm 2008, 2009
4. Hạt Kiểm lâm Nam Đông, Báo cáo số liệu hiện trạng rừng năm 2007, 2008
5. Hạt Kiểm lâm Nam Đông, Báo cáo số liệu hiện trạng rừng năm 2006, 2007

DEVELOPING FOREST PRODUCTION IN NAM DONG DISTRICT,
THUA THIEN HUE PROVINCE
Tran Doan Thanh Thanh
College of Economics, Hue University

Abstract. The development of forest production has been a discernible trend to
make best use of the advantage of forest land in mountainous areas as well as to
meet the increasing demand of timber. The research results indicated that the
development of forest production in Nam Dong district has encountered certain
difficulties and been affected by certain factors such as low efficiency, poor
infrastructure, untrained labour force, backward cultivation practices and low 316


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status