ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG VĂN SƠN
NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, AN NINH
BIÊN GIỚI QUỐC GIA CHO NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG VĂN SƠN
NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, AN NINH
BIÊN GIỚI QUỐC GIA CHO NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 02 04
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HỒNG THÁI
HÀ NỘI - 2016
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 9
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu .................................. 10
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn ............................................ 10
7. Kết cấu luận văn ........................................................................................... 11
NỘI DUNG...................................................................................................... 12
CHƢƠNG 1: TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN,
AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA .............................................................. 12
1.1 Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về bảo vệ chủ quyền, an
ninh biên giới quốc gia ................................................................................... 12
1.1.1. Những giá trị truyền thống của dân tộc trong quá trình bảo vệ chủ
quyền đất nước ................................................................................................. 12
1.1.2 Tiếp thu tinh hoa văn hóa, tư tưởng của nhân loại trong việc bảo vệ độc
lập chủ quyền dân tộc ...................................................................................... 19
1.2. Nội dung cơ bản của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về bảo vệ chủ quyền, an
ninh biên giới quốc gia ................................................................................... 22
1.2.1. Chủ quyền an ninh, biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm
phạm ................................................................................................................. 22
1.2.2 Nhân dân là cơ sở vững chắc trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh biên
giới quốc gia..................................................................................................... 26
1.2.3. Xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng là kế
sách lâu bền góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc
gia ..................................................................................................................... 29
Tiểu kết chƣơng 1 ........................................................................................... 33
CHƢƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
NHẬN THỨC CHO NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN VỀ BẢO VỆ CHỦ
QUYỀN, AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA THEO TƢ TƢỞNG HỒ
CHÍ MINH ...................................................................................................... 35
lâu dài, nhằm xây dựng một quốc gia vững mạnh.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác bảo vệ chủ
quyền an ninh biên giới và đánh giá cao vài trò của nhân dân các dân tộc vùng
biên giới trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Thấm
nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò
và sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh cách
mạng cũng như trong sự nghiệp xây dựng quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền,
an ninh biên giới quốc gia, Đảng ta hết sức coi trọng công tác tuyên truyền cho
nhân dân. Nhằm khơi dậy, phát huy vai trò của quần chúng tham gia bảo vệ
đường biên, mốc giới của quốc gia và xây dựng hệ thống luật pháp về biên giới,
quốc gia như trong luật biên giới quốc gia đã chỉ rõ: “Biên giới của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Xây dựng
quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn
vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển
kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh đất nước”.
Nhằm tăng cường hơn nữa công tác bảo vệ an ninh biên giới quốc gia,
ngày 9-1-2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg về việc tổ
chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới
1
quốc gia trong tình hình mới. Chỉ thị nêu rõ: Bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ biên giới quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu
vực biên giới là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, các lực lượng vũ trang, các
cấp, các ngành. Do vậy, để huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính
trị, của các cấp, các ngành, toàn dân tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh
thổ, an ninh biên giới quốc gia, Thủ tướng chính phủ yêu cầu ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biên giới, bờ biể n chủ trì, phối hợp
với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Quốc phòng (Bộ đội
Lạng Sơn nói riêng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là đồng bào các dân tộc
giáp biên giới, nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vững mạnh, điển
hình là đối với địa phương vùng biên như tỉnh Lạng Sơn đang là một nhu cầu
cấp thiết.
Việc nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ quyền biên giới, an ninh quốc gia,
ở một số tỉnh biên giới trong thời gian qua đã đạt được kết quả rất khả quan
trong đó có tỉnh Lạng Sơn. Tuy nhiên chất lượng hiệu quả công việc chưa cao,
thiếu tính bền vững, còn có nhiều hạn chế và bất cập đang đặt ra. Nhằm góp
phần phát huy tinh thần bảo vệ tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng
tỉnh nhà ngày một phát triển, học viên lựa chọn đề tài: “Nâng cao nhận thức về
bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia cho nhân dân tỉnh Lạng Sơn
theo Tư tưởng Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ, với hy vọng góp phần vào
xây dựng đất nước nói chung và tỉnh Lạng Sơn nói riêng, ngày một vững mạnh
trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho tới nay đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu các lĩnh vực,
tuyên truyền giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh và đã đạt được những thành tựu rất
quan trọng, nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, trong đó nghiên cứu
tư tưởng của Người về việc bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, quốc gia là một
trong những phần quan trọng trong lĩnh vực tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể nói
đây là những công trình nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở khoa học cho chủ
trương giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới
quốc gia đối với nhân dân. Trong số các công trình đó có thể kể đến một số công
trình tiêu biểu như sau:
3
Về những công trình tiêu biểu đã xuất bản thành sách gồm:
Việt Nam đất biển trời của tác giả Lưu Văn Lợi do nhà xuất bản Công an
Giáo dục chủ quyền biển đảo, biên giới quốc gia dành cho học sinh các
dân tộc thiểu số Việt Nam, nhà xuất bản Đại học Sư phạm năm 2015, Cuốn sách
tập hợp 38 câu hỏi – đáp nhằm cung cấp những thông tin chính thống và tri thức
cơ bản cho học sinh dân tộc thiểu số Việt Nam về chủ quyền biển đảo và chủ
quyền biên giới quốc gia. Giúp cho học sinh vùng dân tộc thiểu số hiểu rõ hơn
về chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.
Giáo trình xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và
biển đảo Việt Nam: Dùng cho đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc
phòng và an ninh (2015), Nhà xuất bản Giáo dục do tác giả Kiều Hữu Hải chủ
biên, giới thiệu những vấn đề cơ bản về lãnh thổ, biên giới quốc gia, quan điểm
của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng và bảo vệ lãnh thổ, biên giới quốc gia, quy
chế pháp lý, công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, cùng một số giải pháp
tăng cường bảo vệ biên giới, biển, đảo Việt Nam trong thời kỳ mới.
Công trình của Hội đồng Lý Luận Trung ương - Chương trình “Nghiên
cứu lý luận chính trị giai đoạn 2011-2015” mã số KX.04/11-15 và Bộ Khoa họcCông nghệ đã tổ chức Hội đồng đánh giá, nghiệm thu cấp nhà nước Đề tài “Bảo
vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trong tình hình mới”. Thượng tướng
Võ Trọng Việt, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm chủ
nhiệm Đề tài, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng là cơ quan chủ trì
thực hiện Đề tài. đề tài đã tập trung nghiên cứu những nội dung lý luận và thực
tiễn bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trong tình hình mới. Đề tài làm
rõ khái niệm: Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia; hệ thống một số
quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về bảo vệ chủ quyền,
quyền chủ quyền quốc gia; cơ sở pháp lý, lịch sử bảo vệ chủ quyền, quyền chủ
quyền quốc gia, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và Việt Nam về bảo
vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia. Đề tài đi sâu phân tích đánh giá thực
trạng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trong 30 năm
qua; phân tích đặc điểm, tình hình tác động trực tiếp đến bảo vệ chủ quyền,
quyền chủ quyền quốc gia; đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn
mạnh; 5) Phát triển kinh tế biển nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng biển, đồng
thời bảo đảm thường xuyên an ninh và chủ quyền biển, đảo; 6) Cung cấp thông
6
tin đầy đủ, trung thực để nhân dân biết rõ về các âm mưu, hành động của các thế
lực bành trướng xâm phạm chủ quyền biển, đảo nước ta.
Công trình “Phát huy sức mạnh toàn dân, bảo vệ vững chắc chủ quyền,
an ninh biên giới quốc gia” của tác giả Phạm Huy Tập, công bố trên Tạp chí
Cộng sản ( Số 857- Tháng 3/ 2014), Sự nghiệp bảo vệ biên giới quốc gia là
nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó Bộ đội biên phòng là lực
lượng nòng cốt, chuyên trách và nguồn lực tại chỗ hết sức quan trọng là quần
chúng nhân dân ở khu vực biên giới, biển, đảo. Xây dựng và bảo vệ biên giới
hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển là vấn đề chiến lược quan trọng, cấp
thiết, thể hiện chủ trương, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác biên phòng, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên
phòng phải dựa chắc vào nhân dân, phát huy sức mạnh của toàn dân, của cả hệ
thống chính trị; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc
phòng - an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại; gắn bảo vệ an ninh biên giới với
an ninh nội địa... Bộ đội Biên phòng cần tiếp tục được chăm lo xây dựng vững
mạnh toàn diện, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy truyền thống vẻ
vang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc
gia, xứng đáng với sự tin cậy c ủa Đảng, Nhà nước và nhân dân. v.v.
Bên cạnh các công trình được xuất bản thành sách, các công trình công
bố trên các tạp chí chuyên ngành còn có các luận án. Trong đó có thể kể đến các
luận án tiêu biểu như sau:
Luận án Phó tiến sỹ Khoa học Triết học của tác giả Đặng Vũ Liêm về
công trình:“Nhân dân các dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh
biên giới phía Bắc”, thực hiện năm 1996 tại Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác –
trạng, quan điểm chỉ đạo và giải pháp, kết hợp kinh tế với quốc phòng trong bảo
vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia trên tuyến biên giới đất liền. v.v.v
Qua đó có thể thấy trong những năm vừa qua, tình hình nghiên cứu nhằm
nâng cao nhận thức, giáo dục về chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia cho nhân
dân cả nước nói chung và nhân dân vùng biên nói riêng rất đa dạng và phong
phú, các công trình đó là những bệ đỡ quý báu về tri thức, tạo điều kiện góp
phần nâng cao nhận thức, giáo dục cho nhân dân vùng biên giới, thúc đẩy các cá
nhân tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu để đưa đất nước ngày càng đi lên, xã hội
8
ngày một tiến bộ, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đó là vấn đề vô
cùng quan trọng tạo nên một quốc gia vững mạnh, sánh vai với các cường quốc
trên thế giới trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay.
Do vậy trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề trên, luận văn đề xuất quan
điểm nhằm: “Nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ quyền biên giới, an ninh quốc
gia cho nhân dân tỉnh Lạng Sơn theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn
thạc sĩ hy vọng góp một phần nhỏ để giải quyết và làm rõ vấn đề có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Làm rõ tư tưởng của Hồ Chí Minh về chủ quyền an ninh biên
giới quốc gia. Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp góp phần nâng cao nhận thức về
bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia của các tầng lớp nhân dân tỉnh Lạng
Sơn.
Nhiệm vụ: Hệ thống hóa quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ quyền biên
giới, an ninh quốc gia.
Phân tích, đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện phát triển kinh tế xã
hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh, nâng cao nhân thức về chủ quyền biên
giới, an ninh quốc gia cho nhân dân tỉnh Lạng Sơn, chỉ rõ những thành tựu, hạn
thống kê của các cơ quan, sở, ban, ngành ở tỉnh lạng sơn, các công trình liên
quan đến đề tài đã được công bố, kết quả điều tra nghiên cứu thực tế có liên quan
đến đề tài là cơ sở lý luận, thực tiễn của luận văn.
-
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của khoa học chính
trị Mác – Lênin. Sử dụng phương pháp thống kê thu thập các số liệu về kinh tế xã hội, về tình hình an ninh biên giới, trình độ dân trí nhằm phục vụ nghiên cứu.
Phương pháp tổng hợp, phân tích kinh tế - xã hội: Tổng hợp và phân tích
đánh giá tác động các yếu tố kinh tế - xã hội và an ninh chính trị đến vấn đề ổn
định dân cư, nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới nhằm đề
xuất giải pháp thích hợp.
Tổ chức khảo sát điều tra, phỏng vấn sâu tại một số xã thuộc huyện biên
giới của tỉnh Lạng Sơn để thu thập thông tin và phân tích yếu tố tác động nhằm
nâng cao nhận thức cho nhân dân hiệu quả cao.
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn
Hệ thống hóa và làm rõ hơn một bước cơ sở khoa học về nâng cao nhận
thức về bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới.
10
Phân tích đánh giá thực trạng và nhận diện những vấn đề đặt ra đối với
việc nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới ở tỉnh Lạng Sơn
theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay.
Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ
quyền, an ninh biên giới cho nhân dân tình Lạng Sơn nói riêng và nước ta nói
chung trong thời gian tới.
7. Kết cấu luận văn
chí kiên cường, bất khuất của nhân dân ta đã được phản ánh qua các truyền
thuyết, các trận đánh chống lại các thế lực xâm lược, để đấu tranh giành độc lập
và bảo vệ Tổ quốc, chứng minh tinh thần yêu nước, sức mạnh đoàn kết của toàn
dân tộc, nó được nêu lên như bản hùng ca về sức mạnh trường tồn của dân tộc,
đó cũng là cội nguồn của sức mạnh tinh thần và phương pháp ứng xử của người
12
Việt trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng dân tộc, giữa giai cấp và tầng
lớp nhân dân đứng trong hàng ngũ dân tộc.
Với lợi ích và chủ quyền quốc gia, quá trình dựng nước và giữ nước là
yếu tố song hành liên tục từ quá khứ tới hiện tại và tương lai, giữ cho nền độc
lập dân tộc mãi trường tồn, bền vững, minh chứng cho ý thức trách nhiệm cao cả
của mọi người dân đối với vận mệnh của Tổ quốc. Trong quá trình hình thành và
phát triển của lịch sử dân tộc, truyền thống đó có ảnh hưởng sâu sắc đến những
thành quả vật chất và tinh thần của nhân dân ta. Yêu nước đối với nhân dân ta
trước hết là chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa...
để tạo sức mạnh bên trong bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc.
Dưới chính sách đô hộ của phong kiến phương Bắc, tuy trải qua bao khổ
cực, nhân dân ta vẫn kiên cường, giữ đất, giữ làng, giữ vững nơi chôn nhau, cắt
rốn của mình. Tinh thần yêu nước, thương nòi của nhân dân ta, trong muôn vàn
khó khăn, gian khổ vẫn không giảm sút mà nó cháy trong lòng người Việt và
được thể hiện bằng những hành động cụ thể, trong đấu tranh chinh phục tự
nhiên, xây dựng cuộc sống, giữ gìn những phong tục tập quán tốt đẹp có từ buổi
đầu dựng nước, để khi có thời cơ thì đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giải
phóng đất nước. Đó là hành động bảo vệ quyền sống, quyền bình đẳng, bảo vệ
phẩm giá con người, các giá trị văn hóa, văn minh, lòng tự tôn dân tộc, thể diện
quốc gia. Đồng thời, chống lại mọi âm mưu và hành động xâm lược, nô dịch, tàn
sát, cướp bóc… tức là chống lại cái ác, cái dã man, cái tham lam bất chính,
Trong thời chiến, ý chí đoàn kết toàn dân, đoàn kết quân dân, tinh thần “tướng sĩ
đồng lòng” càng phải gắn bó quan điểm đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là
đoàn kết rộng rãi, lâu dài, đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của
Tổ quốc và để xây dựng nước nhà. Người chỉ rõ, trong chính sách đại đoàn kết,
cần chống hai khuynh hướng sai lầm là cô độc, hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên
tắc; phải lấy công tác mà củng cố đoàn kết, lấy đoàn kết mà đẩy mạnh công tác.
Người khẳng định: “Đoàn kết là một lực lượng vô cùng mạnh mẽ. Ngoài thì ta
đoàn kết với nhân dân Miên, Lào, Liên Xô, Trung Quốc và các nước bạn khác.
Trong thì đoàn kết toàn thể nhân dân yêu nước, tức là công nhân, nông dân, tiểu
tư sản, tư sản dân tộc và những thân sĩ kháng chiến nghĩa là 99 phần trăm toàn
dân ta. Đó là một sức mạnh vô địch” [54, tr.272].
14
Kế thừa truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hoá của dân tộc ta trong hai
cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã
lãnh đạo toàn dân, toàn quân phát huy cao độ sức mạnh đoàn kết bên trong, luôn
thực hiện quân dân một ý chí, toàn quân một ý chí. Trong chiến tranh giải phóng
cũng như trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, quân và dân ta đã biến lời dạy của
Người “Đoàn kết là sức mạnh vô địch” thành hành động cụ thể tạo nên sức mạnh
diệu kỳ, lập nên những chiến thắng vang dội. Cùng với chiến lược hoà hiếu bên
ngoài, cha ông ta đã luôn khéo léo kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh
quân sự, nhằm giữ được mối hoà hiếu bang giao, vừa giữ nguyên bờ cõi, nhiều
thời kỳ đã ngăn chặn, đẩy lùi được nguy cơ chiến tranh và đặc biệt là để kết thúc
chiến tranh ở thế có lợi nhất cho dân tộc: “Nhiệm vụ giải phóng, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc ta còn rất nặng nề và quan trọng. Các cháu đã thấy: “Các vua
Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. [55,
tr.59]. Rõ ràng tư tưởng của Hồ Chí Minh về việc giữ gìn độc lập, thống nhất đất
nước và toàn vẹn lãnh thổ là sự hun đúc, kết tinh từ lòng yêu nước, tinh thần đấu
phóng của dân tộc Việt Nam diễn ra kéo dài thời gian, số lượng lớn. Trong điều
kiện khắc nghiệt đó, để sống và chiến thắng, dân tộc ta phải phát huy cao độ ý
chí độc lập tự chủ, tự lực tự cường, tinh thần bất khuất, lòng tự tôn dân tộc như
Hồ Chí Minh đã viết: “Mỗi người dân phải là một người lao động hăng hái, đồng
thời là một chiến sĩ dũng cảm, vừa xây dựng nước nhà, vừa bảo vệ Tổ quốc” [60,
tr.27]. Đó chính là yếu tố hàng đầu để chỉ rõ trách nhiệm của từng công dân đất
việt, nền tảng và biểu hiện cao nhất của lòng yêu nước, là tinh thần tự tôn dân
tộc, ý chí tự lực tự cường. Cho nên mỗi dân tộc dù lớn, dù nhỏ, dù trình độ phát
triển khác nhau, đều có lòng tự tôn dân tộc, tự khẳng định mình trước thiên hạ,
tận dụng mọi thời cơ cách mạng: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào
cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế,
phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền
thống với yếu tố hiện đại [31, tr.66].
Suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc
Việt Nam đã tạo cho mình kho tàng kinh nghiệm. Cũng từ đó, đúc kết và khái
quát thành lý luận, soi đường cho dân tộc đi lên. Trong đó, chủ nghĩa yêu nước
16
đã trải qua hành trình phát triển, lúc đầu từ tình cảm tự nhiên, tự phát đến ý thức
tự giác và từ ý thức tự giác phát triển cả về tầm cao, chiều sâu thành triết lý yêu
nước và đến đỉnh cao là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam: “Vì vậy, trong cách
mạng giải phóng dân tộc cũng như trong hòa bình xây dựng đất nước, một mặt,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực,
tự cường, nhưng Người luôn luôn kêu gọi phải tăng cường sự đoàn kết và hợp
tác quốc tế, đồng thời phải ra sức ủng hộ và giúp đỡ đối với các cuộc đấu tranh
của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
trên thế giới. Trên ý nghĩa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là biểu tượng của
có gì quý hơn độc lập tự do” và “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ” [61, tr.709] Đối với Hồ Chí Minh, nguyên
tắc tự lực cường là quan trọng và xuyên suốt lý tưởng sâu xa, vì đó là cách duy
nhất để đạt được sự thay đổi tích cực và lâu dài cho tương lai. Việc phát huy tinh
thần dân tộc, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn,
phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử và xu thế của thời đại,
đáp ứng được nhu cầu, lợi ích và khát vọng của nhân dân ta. Nhằm thúc đẩy
nhân dân hiểu rõ hơn và nâng cao tinh thần trách nhiệm của bản thân: “Mỗi một
người dân phải hiểu: có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do. Đã đoàn kết,
ta phải đoàn kết chặt chẽ rộng rãi thêm. Đã cố gắng, ta phải hăng hái mà cố gắng
mãi. Mỗi một người phải lấy việc xung phong trong phong trào Thi đua ái quốc
là nhiệm vụ thiêng liêng của mình, phải cố làm cho được” [51, tr.553].
Mỗi một người dân yêu nước là một thành viên trong cộng đồng dân tộc,
luôn lắng nghe và học hỏi, sự truyền đạt và thấu hiểu nỗi lòng của dân thì làm
việc gì ắt cũng thành công, đạo lý của những người làm thầy, luôn định hướng
về mục đích đúng đắn cho những học trò yêu nước, dạy cho mình biết thế nào là
yêu nước, làm sao để tự đứng vững trên dây khi mà chiếc dây cứ lắc lư mãi: “Vì
vậy, cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có
chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”
[51, tr.120]. Đó chính là giá trị nhân văn khẳng định sức sống trường tồn mãnh liệt
với thời gian của đất nước nhỏ bé, với ý chí kiên cường và bản lĩnh, vượt qua mọi
khó khăn để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tạo nên truyền thống vẻ
vang cho các thế hệ nối tiếp nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
18
1.1.2 Tiếp thu tinh hoa văn hóa, tư tưởng của nhân loại trong việc bảo
vệ độc lập chủ quyền dân tộc
Công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc của các quốc gia trên thế giới là