Nghiên cứu chế tạo vật liệu nano hệ fe2o3 mn2o3 la2o3, ceo2 mn2o3 fe2o3 để hấp phụ asen trong nước - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN ĐOÀN TRUNG HIẾU

NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VẬT LIỆU NANO
HỆ Fe2O3-Mn2O3-La2O3, CeO2-Mn2O3-Fe2O3
ĐỂ HẤP PHỤ ASEN TRONG NƢỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VẬT CHẤT

Thái Nguyên - Năm 2015

0


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN ĐOÀN TRUNG HIẾU

NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VẬT LIỆU NANO
HỆ Fe2O3-Mn2O3-La2O3, CeO2-Mn2O3-Fe2O3
ĐỂ HẤP PHỤ ASEN TRONG NƢỚC

Chuyên ngành: Hóa Vô cơ
Mã số: 60 44 01 13

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VẬT CHẤT

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Lƣu Minh Đại

Tác giả luận văn

Nguyễn Đoàn Trung Hiếu

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ............................................ iv
DANH MỤC CÁC BẢNG.............................................................................. ..v
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ vi
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN ............................................................................. 2
1.1. Tình hình ô nhiễm asen .......................................................................... 2
1.1.1. Nguồn gốc ô nhiễm asen ................................................................. 2
1.1.2. Hiện trạng ô nhiễm asen trong nƣớc ngầm ..................................... 3
1.1.3. Cơ chế tác hại của ô nhiễm asen ..................................................... 5
1.2. Giải pháp xử lý asen từ môi trƣờng nƣớc ............................................. 9
1.2.1. Các phƣơng pháp xử lý asen ........................................................... 9
1.2.2. Phƣơng pháp hấp phụ .................................................................... 10
1.2.3. Tình hình nghiên cứu sử dụng vật liệu oxit hấp phụ asen ............ 14
1.3. Phƣơng pháp tổng hợp vật liệu nano oxit ............................................ 17
1.3.1. Phƣơng pháp kết tủa...................................................................... 17
1.3.2. Phƣơng pháp sol-gel...................................................................... 18
1.3.3. Phƣơng pháp đốt cháy gel ............................................................. 19
1.4.Tình hình nghiên cứu về oxit hỗn hợp nền Ce(La)-Mn-Fe .................. 21
CHƢƠNG 2. KỸ THUẬT THỰC NGHIỆM ................................................. 23

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BET

Brunauer- Emmett - Teller : Phƣơng pháp xác định diện tích bề
mặt (lấy theo tên riêng của 3 nhà khoa học)

CMF73

Vật liệu oxit hỗn hợp nền CeO2-Mn2O3-Fe2O3 có tỷ lệ (Ce+Mn)/Fe = 7/3

DTA

Differential Thermal Analysis: Phân tích nhiệt vi sai

EDX

Energy Dispersive X-Ray Spectroscopy: Phổ tán xạ năng lƣợng tia X

KL/PVA Tỷ lệ mol ion kim loại so với PVA
LMF73

Vật liệu oxit hỗn hợp nền Fe2O3-Mn2O3-La2O3 có tỷ lệ La/(Mn+Fe) = 7/3

PVA

Poly vinyl ancohol: polyme vinyl ancol

SBET

Diện tích bề mặt riêng xác định theo phƣơng pháp BET

Bảng 3.5: Xác định dung lƣợng hấp phụ As(V) trên CMF73......................... 57
Bảng 3.6: Xác định hiệu suất hấp phụ trê
n oxit hỗn hợp Fe2O3-Mn2O3-La2O3 ... 59
Bảng 3.7: Xác định hiệu suất hấp phụ As(V) trên LMF73 theo thời gian...... 59
Bảng 3.8: Xác định các giá trị pH của LMF73 ............................................... 60
Bảng 3.9: Xác định hiệu suất hấp phụ As(V) trên LMF73 theo pH ............... 62
Bảng 3.10: Xác định dung lƣợng hấp phụ As(V) trên LMF73 ....................... 63

v


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Đƣờng đẳng nhiệt Langmuir và sự phụ thuộc của Cf /q vào Cf ...... 13
Hình 2.1: Sơ đồ tổng hợp mẫu oxit bằng phƣơng pháp đốt cháy gel PVA .... 24
Hình 3.1: Giản đồ phân tích nhiệt DTA-TGA của gel (Ce3++Mn2++Fe3+)-PVA . 36
Hình 3.2: Giản đồ XRD của mẫu gel (Ce3++Mn2++Fe3+)-PVA nung theo nhiệt độ
......................................................................................................................... 37
Hình 3.3: Phổ EDX của mẫu gel (Ce3++Mn2++Fe3+)-PVA nung ở 700oC...... 38
Hình 3.4: Phổ FTIR của mẫu gel (Ce3++Mn2++Fe3+)-PVA nung theo nhiệt độ
......................................................................................................................... 39
Hình 3.5: Giản đồ XRD của mẫu oxit hỗn hợp x%(CeO2-Mn2O3)-y%Fe2O3 41
Hình 3.6: Giản đồ XRD của mẫu oxit hỗn hợp 70%(CeO2-Mn2O3)-30%Fe2O3
......................................................................................................................... 42
Hình 3.7: Ảnh SEM của mẫu oxit hỗn hợp 70%(CeO2-Mn2O3)-30%Fe2O3 .. 43
Hình 3.8: Giản đồ phân tích nhiệt DTA-TGA của gel (La3++Mn2++Fe3+)-PVA
......................................................................................................................... 44
Hình 3.9: Giản đồ XRD của mẫu gel (La3++Mn2++Fe3+)-PVA nung theo nhiệt
độ ..................................................................................................................... 46
Hình 3.10: Phổ EDX của mẫu perovskit LaMn0,5Fe0,5O3 ............................... 47
Hình 3.11: Phổ FTIR của mẫu gel (La3++Mn2++Fe3+)-PVA nung theo nhiệt độ

nhiễm asen có thể gây một số bệnh hiểm nghèo nhƣ: Ung thƣ, tim mạch, biến
đổi gen … Do đó, trong công nghệ khai thác và xử lý nƣớc, việc loại bỏ các
chất ô nhiễm, nhất là asen trở nên hết sức cần thiết và cấp bách.
Có nhiều phƣơng pháp loại bỏ asen ra khỏi nguồn nƣớc nhƣ: kết tủa,
trao đổi ion, hấp phụ… Trong đó, hấp phụ là phƣơng pháp phổ biến và có
hiệu quả cao. Ngày nay, với sự phát triển của nhiều phƣơng pháp tổng hợp vật
liệu mới, các vật liệu oxit đƣợc tổng hợp có kích thƣớc nanomet đã thể hiện
vai trò to lớn trong lĩnh vực hấp phụ asen, đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy, vật liệu hấp phụ asen có chứa các
đơn oxit mangan (MnO2, Mn2O3), oxit sắt (Fe2O3, Fe3O4), hay oxit đất hiếm
(La2O3, CeO2)... đã thể hiện hiệu quả xử lý cao. Tuy nhiên, các oxit hỗn hợp
của chúng vẫn chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu đầy đủ. Vì vậy, đề tài
“Nghiên cứu chế tạo vật liệu nano hệ Fe2O3-Mn2O3-La2O3, CeO2 -Mn2O3Fe2O3 để hấp phụ asen trong nƣớc” đƣợc thực hiện trong khuôn khổ của
một luận văn thạc sĩ khoa học. Các kết quả đạt đƣợc của đề tài sẽ góp phần
lựa chọn điều kiện tổng hợp vật liệu oxit hỗn hợp để ứng dụng hấp phụ asen
có trong nguồn nƣớc sinh hoạt.
1


CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tình hình ô nhiễm asen
1.1.1. Nguồn gốc ô nhiễm asen
Trong tự nhiên, asen có trong nhiều loại khoáng vật nhƣ Realgar As4S4,
Orpoment As2S3, Asenolit As2O3, Asenopyrit FeAsS (có tới 368 dạng)... trong
nƣớc, asen thƣờng ở dạng asenit hoặc asenat (AsO33-, AsO43-). Các hợp chất
asen methyl có trong môi trƣờng do chuyển hóa sinh học.
Trong công nghiệp, asen có trong ngành luyện kim, xử lý quặng, sản
xuất thuốc bảo vệ thực vật, thuộc da. Asen thƣờng có mặt trong thuốc trừ
sâu, diệt nấm, diệt cỏ dại. Quá trình đô thị hoá, hiện đại hoá trong công

gia vào quá trình phong hóa càng cao hơn. Khoáng pyrite là một trong những
điển hình của hỗn hợp khoáng kém ổn định nhất trong quá trình địa hóa. Quá
trình oxi hóa diễn ra theo phản ứng:
FeAsS + O2 + H2O → H3AsO4 + H3AsO3 + H2SO4 + FeOOH
1.1.2. Hiện trạng ô nhiễm asen trong nước ngầm
Vấn đề ô nhiễm asen trong nƣớc sinh hoạt đang là một trong những mối
quan tâm đặc biệt trên toàn thế giới. Năm 1991, lần đầu tiên phát hiện ra hiện
tƣợng nƣớc ngầm ở Đài Loan chứa hàm lƣợng asen cao hơn tiêu chuẩn quốc gia
hiện hành và số ngƣời bị ảnh hƣởng bởi các nguồn nƣớc nhiễm asen này lên đến
con số 100 ngàn ngƣời, cùng với thảm hoạ nhiễm độc asen đƣợc phát hiện trên
diện rộng ở Bangladet, Mỹ, Trung Quốc, Chi Lê, Đài Loan, Hà Lan, Canada,
Hungari, Nhật Bản và Ấn Độ… Vì vậy, vấn đề ô nhiễm asen càng trở nên vô cùng
cấp thiết [64,65]. Giá trị cho phép của WHO (Tổ chức Y tế thế giới) đối với asen
trong nƣớc uống đã giảm từ 0,05 mg/l (năm 1993) xuống 0,01 mg/l [4].
Ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, trên cả
nƣớc có nhiều vùng nhiễm asen, đặc biệt các tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ nhƣ Hà
Nội, Hà Nam, Hƣng Yên, Vĩnh Phúc… nhiễm asen với mức độ cao [30], [31].
3


Theo thống kê của UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc), tại Việt
Nam có khoảng 10 triệu ngƣời có nguy cơ bị bệnh do tiếp xúc với asen. Qua
những số liệu thu thập đƣợc cho thấy sự ô nhiễm asen ở miền Bắc cao hơn
miền Nam. Đáng chú ý là cả vùng đồng bằng Bắc Bộ đều nằm trong tình
trạng đáng lo ngại về mức độ ô nhiễm asen.
Bảng 1.1: Số liệu báo cáo tình hình ô nhiễm asen của UNICEF năm 2004
Số
TT

Tỉnh

1543

240

61

25,4

10

4,2

2

Bình Phƣớc

-

52

0

0,0

0

0

3


5

Gia Lai

-

293

9

3,1

1

0,3

6

Hà Nam

49000

7042

4517

73,4

3534


338

24,7

9

Hải Dƣơng

57938

480

34

7,1

3

0,6

10 TP HCM

-

240

0

0,0


9,2

13 Lâm Đồng

-

50

11

22,3

0

0,0

2722

235

0

0,0

0

0,0

14 Long An



17 Phú Thọ

-

150

0

0,0

1

0,2

18 Quảng Nam

-

546

0

0,0

1

0,2

19 Quảng Ninh


603

0

0,0

0

0,0

22 Thái Bình

136172

125

66

52,8

1

0,8

23 Thái Nguyên

-

240


0,0

0

0,0

Số liệu từ bảng 1.1 cho thấy: Hà Nội, Hà Nam, Hà Tây (cũ), Đồng
Tháp... là những địa phƣơng có nguồn nƣớc ngầm bị nhiễm asen.
Nồng độ asen trong nƣớc ngầm : 0,01 mg/l là tiêu chuẩn cho phép
nƣớc cấp sinh hoạt QCVN 01/2009 của Bộ Y Tế [2], [22].
Theo UNICEF và WHO thì ở Việt Nam hiện nay cứ năm ngƣời thì có
một ngƣời có nguy cơ nhiễm asen trong nƣớc. Rất nhiều nơi nhiễm asen ở mức
độ cao đƣợc phát hiện và nơi nhiễm nặng nhất là tỉnh Hà Nam. Trong khoảng
gần 1 triệu dân Hà Nam thì khoảng 300 ngàn ngƣời bị phơi nhiễm asen.
1.1.3. Cơ chế tác hại của ô nhiễm asen
Asen có lẽ là nguyên tố duy nhất trong số các kim loại nặng và các
nguyên tố oxi-anion (asen, selen, antimon, molipden, vanadi, crom, ura, reni)
dễ chuyển hóa theo từng giá trị pH trong nƣớc ngầm dƣới cả điều kiện oxi
hóa lẫn điều kiện khử.
5


Asen xuất hiện trong môi trƣờng ở các dạng oxi hóa khác nhau (-3, 0,
+3 và +5) nhƣng trong nƣớc tự nhiên chủ yếu tồn tại dạng vô cơ oxi-anion với
số oxi hóa +3 hoặc +5. Các dạng asen hữu cơ có thể đƣợc tạo ra nhờ các hoạt
động sinh học trong hầu hết nƣớc bề mặt, còn trong nƣớc ngầm chúng xuất
hiện khi nguồn nƣớc bị ô nhiễm chủ yếu do công nghiệp.
Asen - một nguyên tố gây ra nhiều vấn đề khó giải quyết nhất trong
môi trƣờng bởi vì sự di chuyển của nó trên phạm vi rộng dƣới các điều kiện

7


As(III) ở nồng độ cao làm đông tụ các protein là do sự tấn công của
As(III) vào các liên kết của nhóm sunfua bảo toàn các cấu trúc bậc 2 và bậc 3.
Nhƣ vậy, asen có 3 tác dụng hóa sinh là: làm đông tụ protein, tạo phức
với enzym và phá hủy quá trình photpho hóa.
Các chất chống tính độc của asen là chất có chứa nhóm -SH nhƣ 2,3đimecaptopropanol (HS-CH2-CH(SH)-CH2OH) có thể tạo liên kết với AsO33nên không còn để liên kết với nhóm –SH trong enzym.
Sự ô nhiễm asen xuất hiện nhƣ một thảm họa môi trƣờng đối với sức khỏe
con ngƣời. Các biểu hiện đầu tiên của bệnh nhiễm độc asen là chứng sạm da, dầy
biểu bì, sừng hóa từ đó dẫn đến hoại tử hay ung thƣ da. Các điều tra tại Đài Loan
đã tìm thấy sự liên quan giữa việc nhiễm asen với các bệnh tắc nghẽn mạch máu
ngoại biên (bệnh chân đen vì các chi bị chuyển thành màu đen do bị hoại tử).
Ngày nay khoa học đã chứng minh đƣợc asen còn là nguyên nhân của rất nhiều
căn bệnh nguy hiểm khác nhƣ ung thƣ thận, phổi, bàng quang, ruột kết, mũi.
Điểm đặc biệt nguy hiểm là cả hai dạng As (III), As (V) đều là các chất dễ hòa
tan trong nƣớc và không màu, không vị, do đó không thể phát hiện bằng trực
giác, phát hiện ngƣời nhiễm asen rất khó do những triệu chứng của bệnh phải từ
5-15 năm sau mới xuất hiện. Chính vì thế mà sen đƣợc gọi là “sát thủ vô hình”.
Asen có độc tính gấp bốn lần so với thủy ngân. Nếu bị ngộ độc cấp tính bởi asen
sẽ có biểu hiện: khát nƣớc dữ dội, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, mạch yếu, mặt
8


nhợt nhạt rồi thâm tím, bí tiểu và tử vong nhanh. Nếu bị nhiễm độc asen ở mức
độ thấp, mỗi ngày một lƣợng dù nhỏ nhƣng trong một thời gian dài sẽ gây mệt
mỏi, buồn nôn và nôn, hồng cầu và bạch cầu giảm, da sạm, rụng tóc, sút cân,
giảm trí nhớ, mạch máu bị tổn thƣơng, rối loạn nhịp tim ...Mặc dù đã tốn rất
nhiều đầu tƣ trong y học nhằm tìm kiếm thuốc và phác đồ điều trị các bệnh liên
quan đến nhiễm độc asen nhƣng đến nay cộng đồng y học thế giới vẫn chƣa tìm

phụ.
Quá trình giải hấp là quá trình đẩy chất bị hấp phụ ra khỏi bề mặt chất
hấp phụ. Khi quá trình hấp phụ đạt trạng thái cân bằng thì tốc độ hấp phụ
bằng tốc độ giải hấp phụ.
Hấp phụ vật lý gây nên bởi lực VanderWaals, liên kết này yếu, dễ bị
phá vỡ; hấp phụ hóa học tạo thành liên kết hóa học giữa bề mặt chất hấp phụ
và phần tử chất bị hấp phụ, liên kết này tƣơng đối bền và khó bị phá vỡ.
Thông thƣờng, trong quá trình hấp phụ sẽ xảy ra đồng thời cả hai quá
trình trên. Trong đó, hấp phụ hóa học đƣợc coi là trung gian giữa hấp phụ vật
lý và phản ứng hóa học. Để phân biệt hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học,
ngƣời ta đƣa ra một số chỉ tiêu so sánh nhƣ sau:
- Hấp phụ vật lý có thể là đơn hoặc đa lớp, hấp phụ hóa học chỉ là đơn lớp
- Tốc độ hấp phụ : hấp phụ vật lý không đòi hỏi sự hoạt hóa phân tử do
đó xảy ra nhanh, hấp phụ hóa học nói chung đòi hỏi sự hoạt hóa phân tử do đó
xảy ra chậm hơn.
- Nhiệt độ hấp phụ : hấp phụ vật lý thƣờng xảy ra ở nhiệt độ thấp, hấp
phụ hóa học xảy ra ở nhiệt độ cao hơn.
- Nhiệt hấp phụ: đối với hấp phụ vật lý nhiệt lƣợng tỏa ra ∆H ≤
20kJ/mol, còn hấp phụ hóa học thì nhiệt tỏa ra ∆H ≥50kJ/mol.

10


- Tính đặc thù: hấp phụ vật lý ít phụ thuộc vào bản chất hóa học do đó
ít mang tính đặc thù rõ rệt. Còn hấp phụ hóa học mang tính đặc thù cao, nó phụ
thuộc vào khả năng tạo thành liên kết giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ.
1.2.2.2. Cân bằng hấp phụ và dung lượng hấp phụ
Cân bằng hấp phụ [14]: Quá trình hấp phụ là một quá trình thuận
nghịch. Các phần tử chất hấp phụ khi đã hấp phụ trên bề mặt chất hấp phụ vẫn
có thể di chuyển ngƣợc lại. Theo thời gian, lƣợng chất hấp phụ tích tụ trên bề

mặt vật rắn, ngƣời ta thiết lập phƣơng trình Langmuir trên các giả thiết sau:
- Các phần tử đƣợc hấp phụ đơn lớp trên bề mặt chất hấp phụ.
- Một tâm hấp phụ chỉ hấp phụ một phân tử (nguyên tử) chất bị hấp phụ.
- Sự hấp phụ là chọn lọc.
- Giữa các phần tử chất hấp phụ không có tƣơng tác qua lại với nhau.
- Bề mặt chất hấp phụ đồng nhất về năng lƣợng, nghĩa là sự hấp phụ
xảy ra trên bất kì chỗ nào với cùng một giá trị nhiệt hấp phụ. Nói cách khác,
trên bề mặt chất hấp phụ không có những trung tâm hoạt động.
- Giữa các phần tử trên lớp bề mặt và bên trong lớp thể tích có cân bằng
động học, khi đó trạng thái cân bằng tốc độ hấp phụ bằng tốc độ khử hấp phụ.
Phƣơng trình đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir cho sự hấp phụ chất tan
trong dung dịch trên bề mặt rắn có dạng sau:

Trong đó :
q: dung lƣợng hấp phụ tại thời điểm cân bằng (mg/g);
12


qmax: dung lƣợng hấp phụ cực đại đơn lớp trên một đơn vị khối lƣợng
chất hấp phụ (mg/g);
Cf : nồng độ chất bị hấp phụ tại thời điểm cân bằng (mg/l) ;
b: hằng số hấp phụ Langmuir (phụ thuộc vào nhiệt độ và bản chất hệ
hấp phụ.
Khi b.Cf > 1 thì q = qmax mô tả vùng bão hòa hấp phụ.
Khi nồng độ chất hấp phụ nằm giữa hai giới hạn trên thì đƣờng
đẳng nhiệt biểu diễn là một đoạn cong. Để xác định các hằng số trong phƣơng
trình đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir, có thể sử dụng phƣơng pháp đồ thị bằng
cách đƣa phƣơng trình trên về phƣơng trình đƣờng thẳng:


lg q  lg K F  lg C
n
Xây dựng đồ thị sự phụ thuộc lgq vào lgC sẽ xác định đƣợc các giá trị KF, n.
1.2.3. Tình hình nghiên cứu sử dụng vật liệu oxit hấp phụ asen
1.2.3.1. Một số công trình nghiên cứu hấp phụ asen từ oxit
Ngày nay, vật liệu hấp phụ đƣợc quan tâm nghiên cứu chế tạo và ứng
dụng có phạm vi rất rộng, từ các phế thải nông nghiệp cho tới các khoáng sét
trong tự nhiên và cuối cùng là các đơn oxit hay oxit hỗn hợp của các kim loại
chuyển tiếp đƣợc tổng hợp [17], [23], [55], [74].
Vật liệu hấp thụ có thể là các sản phẩm đƣợc chế biến từ phế thải nông
nghiệp nhƣ than xơ dừa [20], [23], [57] đƣợc sử dụng để hấp phụ đồng thời
As(III), As(V), Ni2+, Cu2+, Zn2+, Cr3+. Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu sử
dụng vây cá, chitin, chitosan để hấp phụ ion kim loại nặng cũng đƣợc nghiên
cứu, công bố [57] cho thấy, vây cá có khả năng hấp phụ cả As(III) và As(V).
Nghiên cứu khả năng hấp phụ As(V) trên hai loại quặng sắt (hematit,
magnetit) [12], [40], [42], [47], [56], [68] đã đƣợc tiến hành. Kết quả cho
14


thấy, khi so sánh hai loại quặng trong điều kiện nghiên cứu quá trình hấp phụ
đạt cân bằng sau 180 phút và khi tăng pH (4 - 9), hiệu suất hấp phụ đều giảm,
dung lƣợng hấp phụ tại thời điểm đạt cân bằng trên quặng magnetit cao hơn
quặng hemantit và đạt tƣơng ứng 7,8 µg/g và 3,6 µg/g.
Belgin và cộng sự [32] đã sử dụng quặng mangan (26 % MnO2) đƣợc
nghiền nhỏ để nghiên cứu hấp phụ As(V) từ dung dịch. Kết quả cho thấy, quá
trình hấp phụ đạt cân bằng sau 120 phút. Mô hình đẳng nhiệt Langmuir mô tả
khá tốt quá trình hấp phụ, khi thay đổi nhiệt độ hấp phụ từ 25 oC - 45oC dẫn
tới dung lƣợng hấp phụ cực đại cũng tăng 0,598 mg/g - 0,723 mg/g.
Shan Chong và cộng sự [62] đã nghiên cứu quá trình hấp phụ As(III) và
As(V) trên hỗn hợp hydroxit của La và Ce thu đƣợc từ thành phần bột mài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status