TÀI LIỆU THAM KHẢO tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về TÍN NGƯỠNG tôn GIÁO VÀ sự vận DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG sự NGHIỆP đổi mới HIỆN NAY - Pdf 41

MỞ ĐẦU
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn giáo là một bộ phận cấu thành
quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh – tài sản tinh thần to lớn của Đảng và
dân tộc ta, soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi. Cùng
với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn giáo là
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho Đảng và Nhà nước ta đề ra quan điểm,
chính sách tôn giáo; là cơ sở khoa học cho mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao
nhận thức và năng lực giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo trong thực tiễn.
Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng tôn giáo chi phối
sâu sắc đời sống tinh thần của một bộ phận nhân dân theo cả hai chiều hướng tích
cực và tiêu cực. Nhận thức đúng đắn vị trí của vấn đề tôn giáo, Đảng ta ngay từ khi
mới ra đời đã xác định vấn đề tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc
biệt. Qua các giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chiến tranh giải
phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhờ có đường lối đúng đắn trong
công tác tôn giáo, Đảng ta đã phát huy được khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó
đồng bào theo các tôn giáo, là nhân tố quyết định đối với thắng lợi của cách mạng
nước ta.
Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, bùng nổ thông tin và thực hiện đường
lối đối ngoại chủ động hội nhập quốc tế, tôn giáo nước ta chịu ảnh hưởng lớn hơn
của tình hình tôn giáo thế giới và đang có chiều hướng phát triển khá phức tạp. Cụ
thể: nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân có xu hướng gia tăng; hoạt động của
các tổ chức tôn giáo tiếp tục diễn ra phức tạp; các thế lực thù địch triệt để lợi dụng
vấn đề tín ngưỡng tôn giáo để kích động, chống phá cách mạng Việt Nam… Tất cả
những tác động đó đã làm cho ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo đến mọi mặt đời
sống xã hội tăng lên. Bên cạnh đó, thực trạng nhận thức, việc nghiên cứu, quán triệt,
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn giáo vào thực hiện công tác tôn
giáo của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung vẫn còn một số những thiếu sót hạn


chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Trong điều kiện đó, Đảng ta
vẫn khẳng định vấn đề tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt.

trong xã hội ( cả ở Việt Nam và trên thế giới) mà sinh thời Hồ Chí Minh tiếp nhận.
Bên cạnh đó, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tín ngưỡng tôn giáo là cơ
sở lý luận trực tiếp tạo nên thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách
mạng cho tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn giáo. Theo đó, có thể tiếp cận
nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn giáo gồm các yếu tố sau.
Tư tưởng Hồ Chí minh về tín ngưỡng tôn giáo có sự kế thừa một cách xuất
sắc những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, của nhân loại, trong
đó có những giá trị của các tín ngưỡng tôn giáo.
Đối với văn hóa dân tộc, Hồ Chí Minh đã tiếp thu rất sớm và sâu sắc truyền
thống kiên cường, bất khuất, cần cù, coi trọng đạo lý, yêu hòa bình, truyền thống
đoàn kết gắn bó cộng đồng làng nước… trong đó, nổi bật hơn cả là chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam để hình thành tư tưởng của mình nói chung, về tín ngưỡng tôn giáo
nói riêng. Chính chủ nghĩa yêu nước là động lực để Hồ Chí Minh tìm đường cứu
nước, là cơ sở quan trọng, là đích hướng tới để Người nhận thức, đánh giá, giải
quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo với mục đích tối cao là đoàn kết, tập hợp lực
lượng để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và nhân loại. Với Người, giải
quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo như thế nào đó để có thể đoàn kết, tập hợp quần
chúng nhân dân lao động, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo đứng lên làm cách
mạng, xây dựng cuộc sống độc lập – tự do – hạnh phúc thì đều cần thiết và đúng
đắn cả. Với điểm hội tụ đó, Người đã tìm thấy những giá trị văn hóa, đạo đức trong
các tín ngưỡng tôn giáo, điểm đại đồng giữa tín ngưỡng tôn giáo và chủ nghĩa xã
hội. Bên cạnh đó, Người cũng chịu ảnh hưởng nhất định của các giá trị văn hóa,
đạo đức của các tín ngưỡng tôn giáo. Bởi lẽ, sinh ra và lớn lên ở một nước mà hàng
nghìn năm Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo dung hợp trong tư tưởng và thực tiễn,
nhất là xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước. Do vậy, trước khi trở thành
nhà mácxít là thì “ chất nhà Nho” là một bộ phận cấu thành hết sức quan trọng


trong nhân cách của Hồ Chí Minh, là một cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về tín ngưỡng tôn giáo.

thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng cho tư tưởng của Hồ Chí
Minh nói chung, về tín ngưỡng tôn giáo nói riêng.
Đây là yếu tố quy định sự phát triển về chất – bản chất giai cấp, tính khoa
học và cách mạng của nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn giáo.
Năm 1920 – sự kiện lịch sử quan trọng – Hồ Chí Minh tiếp xúc với Luận cương về
vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Từ đây, Hồ Chí Minh đã đứng trên lập
trường của chủ nghĩa Mác – Lênin để hình thành, phát triển tư tưởng đúng đắn
sáng tạo của mình về con đường cách mạng Việt Nam, trong đó có việc xem xét,
giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo phù hợp với điều kiện lịch sử của Việt Nam
và yêu cầu của thời đại.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn giáo là kết quả của sự vận
dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin về tín ngưỡng tôn giáo vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời đó còn là
kết quả của quá trình kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tín ngưỡng tôn
giáo, văn hóa tốt đẹp của dân tộc và nhân loại trong lich sử phù hợp với truyền
thống của dân tộc và yêu cầu của thời đại. Các yếu tố đó không tác động riêng rẽ
mà tác động trong mối quan hệ biện chứng thông qua sự thâu hóa, tiếp biến rất
sáng tạo của Hồ Chí Minh trước đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh cách mạng của
Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải
phóng con người.
Có nhiều cách tiếp cận, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn
giáo, nhưng có thể tiếp cận, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn
giáo trên các nội dung chính sau đây:
Một là, quan niệm, đánh giá của Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn giáo.
Trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với
những vấn đề cơ bản về nguồn gốc, bản chất, tính chất, chức năng, lập trường,
phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo, Hồ Chí Minh còn tiếp cận tín ngưỡng tôn
giáo dưới góc độ xã hội học văn hóa, chỉ ra khía cạnh giá trị văn hóa, đạo đức của tín
ngưỡng tôn giáo, sự trựng hợp giữa mục tiờu, lý tưởng của tín ngưỡng tôn giáo và chủ
nghĩa xó hội. Từ đó, Người quan niệm tín ngưỡng tôn giáo như là một di sản văn hoá


. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội,1995, tr.431.
. Viện nghiên cứu tôn giáo, Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, Nxb KHXH. H, 1998, tr. 293.

2


Chí Minh đã đưa ra một giả thuyết táo bạo: “nếu các bậc giáo chủ của các tôn giáo
như Giêsu, Thích Ca… sinh ra trong hoàn cảnh hiện nay thì chắc các Ngài cũng sẽ
đấu tranh vì người nghèo như những người cộng sản”3. Hồ Chí Minh luôn giải thích
cho đồng bào tôn giáo hiểu, tôn giáo không đối lập với Tổ quốc, không đối lập với lý
tưởng cộng sản. Trong thư gửi Giám mục Lê Hữu Từ ngày 2/3/1947, Người viết: “
Đường lối của Chính phủ gồm 3 mục tiêu sau đây:
1. Giải phóng nhân dân khỏi đói rét ( khổ sở) và khỏi rốt.
2. Đem lại cho nhân dân tự do, tự do sống, tự do tín ngưỡng.
3. Bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc.
Nếu cộng sản mà thực hiện những việc trên đây thỡ Tụi tin chắc rằng mọi
người sẽ chấp nhận thứ cộng sản đó” 4
Hồ Chí Minh nhiều lần nói với đồng bào tín hữu rằng, mục tiêu của Đức
Chúa, Đức Phật không khác gỡ mục tiờu của những người xó hội chủ nghĩa. Từ
đó Người có cách lý giải khác nhau cho các tín đồ theo các tôn giáo sao cho hợp
với lòng dân. Đến với tín đồ Phật giáo, Người nói: “Đức Phật là đại từ, đại bi,
cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải đấu tranh
diệt lũ ác ma. Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng
chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn,
để giữ quyền thống nhất và độc lập Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ,
đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô
lệ”5. Đến với đồng bào theo đạo Công giáo, Người nói: “Chúa Cơ đốc hy sinh để
cứu loài người khỏi ách nô lệ và đưa loài người về hạnh phúc, bình đẳng, bác ái, tự
do. Chúng ta kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách

của tôn giáo và những người Cộng sản. Điều đó tránh được sự hiểu nhầm không
cần thiết, tránh mắc mưu xuyên tạc để chia rẽ khối đoàn kết lương giáo và giữa các
tôn giáo của kẻ thù. Đặt tư tưởng tôn trọng, đoàn kết, hòa hợp, khoan dung, linh
hoạt, không định kiến với các tôn giáo của Người vào bối cảnh lúc đó, nhiều người
Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa có tư tưởng đối lập thế giới quan vô thần hữu thần một cách cực đoan đang khá thịnh hành: chỉ thấy tôn giáo là “duy tâm”, “
lạc hậu”, “phản khoa học”, từ đó có biểu hiện tả khuynh trong giải quyết vấn đề
tôn giáo, gây tổn thất nhất định cho phong trào cách mạng… chúng ta mới thấy
tầm cao trí tuệ, tính độc lập, sáng tạo của Hồ Chí Minh
Trong suốt cả cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn quan tâm, tôn
trọng đời sống tâm linh của nhân dân; Người coi tín ngưỡng tôn giáo như một bộ
phận hợp thành của đời sống văn hoá, tinh thần của con người, là nhu cầu của một bộ
phận quần chúng nhân dân. Trong cuộc sống, Người khuyên mỗi người có tín ngưỡng
cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tín đồ và công dân, giữa việc đạo và việc đời.
7

. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Tam Liên, Thượng Hải, 1949, tr. 91.


“Kính Chúa và yêu nước”; “tốt đời, đẹp đạo” phải đi liền, kết hợp với nhau. Người
còn chỉ rõ: “Kinh thánh có câu: ý dân là ý Chúa”. Con đường yêu nước mà đồng bào
đang đi là hoàn toàn đúng.
Tôi mong các cụ phụ lão, các vị giám mục và linh mục hăng hái khuyến khích
tín đồ trong mọi công việc ích nước, lợi dân.
Lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất
định sẽ thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc
và xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh”8.
Người thường nhắc, nước độc lập thì tôn giáo mới được tự do, vì vậy, mọi
người phải làm cho nước nhà độc lập trước. Độc lập rồi phải quan tâm đến đời
sống nhân dân, vì “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập

cao cả, giữ vị trí trung tâm trong đời sống tâm linh của giáo dân, chi phối tâm tư
tình cảm, hành vi ứng xử của họ và lòng trung thành với lợi ích dân tộc, lợi ích giai
cấp. Nếu xúc phạm đến niềm tin tôn giáo là xúc phạm tín đồ, làm tổn thất, chia rẽ
khối đoàn kết toàn dân, là mắc mưu thâm độc của kẻ thù. Trong suốt cuộc đời hoạt
động của mỡnh, Hồ Chí Minh luôn tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào.
Bản thân người là một tấm gương mẫu mực trong lời nói và hành động của mình;
mọi lời nói và việc làm đều thể hiện sự thông hiểu, thái độ tôn trọng, tình cảm chân
thành, sự cảm thông sâu sắc đối với đồng bào các tôn giáo. Người cũng nhắc nhở
cán bộ cách mạng không được xúc phạm đến tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào.
Người khẳng định: “ Mọi người có quyền tự do tin đạo hay không tin, không ai
được cưỡng bách và khinh rẻ họ… Ngày nay chính sách của Đảng Cộng sản là bảo
hộ tôn giáo, và ngày sau cũng vậy. Đảng Cộng sản chẳng những không tiêu diệt tôn
giáo, mà còn bảo hộ tôn giáo. Đảng Cộng sản chỉ tiêu diệt tội ác người bóc lột
người”10. Ngay cả những chức sắc tôn giáo và những người ở phía đối lập cách
mạng cũng phải thừa nhận là lòng bao dung độ lượng, lòng thương người của Bác,
tư tưởng đoàn kết rất là mẫu mực. Đúng như lời nhận xét của một linh mục khi phân
tích các sự kiện liên quan đến Giám mục Lê Hữu Từ: “Các lời lẽ của Cụ phê phán
Giáo hội không bao giờ chạm đến khía cạnh đức tin, mà chỉ nằm ở phạm vi các vấn
đề cơ chế và chính trị”11. Ngay một một quan chức cao cấp chính phủ Pháp ở Đông
Dương Xanh-tơ- ni, nhân vật đối thoại chủ yếu với Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn
1945-1946 cũng thừa nhận: “Về phần tôi, phải nói rằng, chưa bao giờ tôi có cơ sở để
nhận thấy trong các chương trình của Cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ
của sự công kích, đa nghi hoặc chế giễu đối với một tôn giáo bấy kỳ nào” 12. Trong
10

. Viện nghiên cứu tôn giáo, Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, Nxb KHXH. H, 1998, tr. 294.
. Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, Nxb trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 1988, tr. 76.
12
. Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, Nxb trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 1988, tr 80.
11

13

. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.333.
. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.161.
15
. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Tam Liên, Thượng Hải, 1949, tr. 91.
14


Ngày 3-9-1945, chỉ một ngày sau khi tuyên bố nước Việt Nam độc lập, tại
phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Người đã nêu 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Về nhiệm vụ thứ sáu, Người nói: “Thực dân và
phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ bề
thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo
đoàn kết”16.
Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến của Người cũng khẳng định tư tưởng đó. Ngày 3-3-1951,
trong lời phát biểu kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, Người nêu
rõ: “vấn đề tôn giáo, thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do
tín ngưỡng của mọi người…”17.
Ngày 14-6-1955, trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà,
Người đã ký sắc lệnh số 234/SL của Chính phủ về vấn đề tôn giáo. Chương I của
Sắc lệnh ghi rõ: “Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng” và Điều 1 khẳng định: “Chính
phủ đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai
được xâm phạm quyền tự do ấy. Mỗi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một
tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào”18.
Từ các bài viết, các chỉ thị và sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ta thấy tư
tưởng của Người không phân biệt, tôn giáo, đảng phái, già trẻ, gái, trai “ Đoàn kết
của ta không những rộng rãi mà còn là đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính
sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị… Ai có tài, có đức, có sức, có

nên, chỉ có cách mạng - người đem lại cơm no, áo ấm cho đồng bào-mới là người
thực sự đảm bảo cho đồng bào tự do tín ngưỡng. Như vậy, chủ nghĩa xã hội không
những không mâu thuẫn với lý tưởng của tôn giáo, mà còn hiện thực hóa lý tưởng
đó. Đây là cơ sở khách quan khích lệ giáo dân theo Đảng, theo cách mạng để thực
hiện “tốt đời, đẹp đạo” như khát vọng thiêng liêng của đồng bào các tôn giáo.
Người yêu cầu tín đồ “Kính Chúa và yêu nước” phải kết hợp với nhau; “tốt
đời, đẹp đạo” phải đi liền với nhau, không thể phân chia tách rời. Tốt đời tạo cơ sở
vật chất cho xã hội để đẹp đạo. Muốn đẹp đạo thì phải đi theo cách mạng xây dựng
cuộc sống mới. Vì lẽ đó, không có lý do gì mà đồng bào các tôn giáo không đoàn
kết cùng toàn thể dân tộc kháng chiến, kiến quốc. Ai không thực hiện bổn phận đó
thì không phải là người Việt Nam yêu nước chân chính và cũng không phải là tín
đồ chân chính. Đây là yêu cầu phải có đối với mọi tín đồ Việt Nam chân chính,
yêu nước.
Người quan tâm sâu sắc đến lợi ích thiết thực của giáo dân cả phần đời và
phần đạo. Theo Hồ Chí Minh: nước độc lập mà dân không được ấm no, hạnh
phúc thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì. Đồng bào các tôn giáo theo cách
mạng mà Đảng, Nhà nước không quan tâm đến lợi ích thiết thực của đồng bào


để “phần xác ấm no, phần hồn thong dong” thì không thể đoàn kết được: “Nếu
giáo dục tốt thì giáo dân có thể đấu tranh… sống theo Đảng, chết theo Chúa…
Ta quan tâm đời sống quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta. Ta được lòng dân
thì không sợi gì cả” 20. Từ đó, Người đặc biệt quan tâm tỉ mỉ đến mọi mặt đời
sống sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của giáo dân… Theo tinh
thần đó, trong quá trình cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm và từng
bước đem lại lợi ích thiết thực cho đồng bào tôn giáo. Đó là thực tế để các tín
đồ tôn giáo giác ngộ, đoàn kết đi theo Đảng trong khách chiến cũng như trong
xây dựng đất nước trên con đường đổi mới.
Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến mọi người trên mọi mặt đời sống xã hội. Khi
có điều kiện, Người luôn gửi thư thăm hỏi, động viên, tặng quà cho các chức sắc

các chức sắc tôn giáo, tín đồ tôn giáo khỏi ngộ nhận. Ngay từ “Bản án chế độ thực
dân Pháp”, Người đã lên án mạnh mẽ thực dân Pháp cấu kết với các giáo sĩ, chức
sắc Công giáo để xâm lược Việt Nam. Người tố các giáo sĩ Pháp làm gián điệp,
trực tiếp bắn giết đồng bào ta cả giáo và lương. Hồ Chí Minh đó chỉ rừ: “Chính
những tên giáo sĩ đã vẽ bản đồ An Nam cho quân xâm lược. Chính bọn họ đã đưa
tin cho gián điệp dẫn đường cho đội viễn chinh và tố giác những người yêu
nước”23. Đồng thời Hồ Chí Minh đã đi đến kết luật có tính lịch sử: “Nếu có dân tộc
nào phải ơn Chúa và các giáo sĩ thì chính đó là dân tộc An Nam! Vì Chúa và các
giáo sĩ mà dân tộc này phải sa vào cảnh nô lệ như ngày nay”24.
Điều cần lưu ý ở tư tưởng của Hồ Chí Minh là phân biệt rạch ròi tín ngưỡng tôn
giáo với việc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để chống phá cách mạng của các thế lực thù
địch. Bọn đội lốt tôn giáo để chống phá cách mạng là bọn “Việt gian đồng thời cũng là
giáo dân”, chúng là bọn bất chính, giả danh tín đồ để làm điều xấu độc mà thôi. Theo
lôgíc ấy, Người khẳng định: “Nước độc lập dân mới tự do tín ngưỡng”. Khẳng định đó
có nghĩa vạch trần mọi luận điệu xuyên tạc của bọn đế quốc, giải tỏa băn khoăn, thắc
mắc, mặc cảm của một số tín đồ, chức sắc tôn giáo, làm cho đồng bào hiểu rõ chính
sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, yên tâm theo Đảng làm cách mạng vì lợi ích
chung của cộng đồng.
Một mặt, Hồ Chí Minh giáo dục cho mọi người cần tôn trọng tư do tín
ngưỡng; mặt khác, Người cũng nghiêm khắc phê phán những phần tử lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo, những kẻ hành nghề mê tín dị đoan, phê phán những việc làm sai
chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Chính phủ, ở cả giáo chức, tín đồ và
cán bộ, đảng viên.
Ba là, tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp thực hiện chính sách tín
ngưỡng tôn giáo.
2323. 24
24

. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr. 417.



. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.197.


trong giáo dục, vận động các tôn giáo, nhằm ngăn chặn sự xuyên tạc của kẻ thù.
Người căn dặn khi làm công tác tôn giáo không được đơn giản, mà phải thận trọng,
phải có kiến thức chuyên môn, nếu năng lực kém thì bị kẻ thù lợi dụng làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của đồng bào tôn giáo: “Vì cán bộ ta kém, có nơi đã có những
hành động lố lăng, phạm đến tín ngưỡng và quyền lợi của đồng bào tôn giáo” 26.
Bởi thế, Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ
làm công tác tôn giáo và lực lượng cách mạng cốt cán trong các tôn giáo nói riêng
để họ lãnh đạo, tổ chức thực hiện tốt chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.
Bản thân Hồ Chí Minh là một mẫu mực tuyệt vời về việc tuyên truyền, giáo
dục cán bộ đồng bào các tôn giáo. Phương pháp tuyên truyền giác ngộ Hồ Chí
Minh rất thiết thực, sát với đời sống tâm lý của nhân dân, lời lẽ giản dị, lấy việc
thực, người thực để làm gương sáng, mượn chuyện xa lý giải việc gần, nên mọi
người dễ tiếp thu, thực hiện. Không bao giờ Người đem lý luận chủ nghĩa cộng
sản, chủ nghĩa Mác - Lênin một cách nguyên xi để nói với những người tín hữu.
Người cũng phê bình uốn nắn cán bộ cố nhồi nhét chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ
nghĩa vô thần cho người theo đạo, dù họ đó đi theo cách mạng. Bởi vì, nhận thức
của các tín đồ tôn giáo ở bản địa không phải như ở các nước Tây Âu, mà phải
tuyên truyền, giáo dục họ theo cách của người phương Đông, sát với phong tục tập
quán của người Việt Nam.. Người luôn sử dụng các lời lẽ của chính các tôn giáo
trong các kinh thánh để nói chuyện với giáo dân tăng thêm sức thuyết phục và dễ
đi vào lòng người. Khi ở Thái Lan về Pắc Bó chính người trực tiếp giảng giải các
tín ngưỡng tôn giáo để đồng bào hiểu và chính tay Người đó từng vẽ ảnh của Đức
Phật, dựng ngôi chùa cho đồng bào khỏi phải đi lễ xa. Người đã sử dụng nhiều
hình thức linh hoạt để tuyên truyền vận động nhân dân với tư tưởng “dĩ bất biến,
ứng vạn biến”, làm gì mà để xây dựng được khối đoàn kết lương giáo có lợi cho
cách mạng đều được phép và cần thiết cả, đó là nét sáng tạo của Hồ Chí Minh.

nước” và Người còn chỉ rõ âm mưu của kẻ địch “Chúng còn lợi dụng bọn phản
động đội lốt tôn giáo gây chia rẽ trong nhân dân” 28. Cho nên, Người luôn vạch trần
tội ác của bọn thực dân, tay sai và các thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc của chúng
và chứng minh “Nước độc lập dân mới tự do tín ngưỡng” để từ đó đồng bào hiểu
và thực hiện đúng chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.
27

. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.115.
. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.345.

28


Bốn là, thực hiện quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, đồng thời kiên quyết bài
trừ mê tín dị đoan và các hiện tượng phản văn hóa khác.
Mê tín là vấn đề khá phức tạp, ranh giới giữa mê tín và tín ngưỡng tôn giáo
rất mong manh, nên khắc phục mê tín là vấn đề không đơn giản và đòi hỏi kiên trì
trong thời gian lâu dài, đồng hành quá trình xây dựng xã hội mới. Bởi vậy, Hồ Chí
Minh khuyên cán bộ một mặt phải tôn trọng và bảo đảm tự do tín ngưỡng, mặt
khác phải kiên trì giáo dục quần chúng xóa bỏ “mê tín, dị đoan” và các hủ tục lạc
hậu. Nhưng Người cũng nhắc nhở cán bộ không thành kiến, hẹp hòi, không xúc
phạm tín ngưỡng, không mắc bệnh duy ý chí, hay đao to búa lớn. “nào là khách
quan, chủ quan”, “nào là tích cực, tiêu cực”…“tốt nhất là miệng nói, tay làm làm
gương cho người khác bắt chước”29.
Hồ Chí Minh quan niệm giáo dục dể nhân dân “bớt mê tín nhảm” chứ chưa
thể nóng vội xóa bỏ hết mọi cách cực đoan ((bởi nó còn tồn tại trong đời sống tâm
lý của các tín đồ tôn giáo và các hình thức tín gưỡng dân gian khác mà khó có thể
khắc phục ngay được). Điều đó rất phù hợp với thực trạng tín ngưỡng tôn giáo Việt
Nam lúc bấy giờ và ngay cả hiện nay, mặc dầu đời sống nâng lên và nhận thức đã
phát triển. Từ đó, Người chỉ ra phương pháp giáo dục phải thận trọng, kiên trì, gần

nhau, mà Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh có sự ứng xử khác nhau đối với
vấn đề tín ngưỡng tôn giáo và trong hai trường hợp trên đều đúng. Người đã vận
dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách trung thành đầy sức sáng tạo. Chính sự
sáng tạo ở Hồ Chí Minh đã có công lao to lớn trong vấn đề quan niệm và có chính
sách tôn giáo như trên, hiện nay Đảng cộng sản Việt Nam vận dụng và phát huy tư
tưởng của Người trong điều kiện mới. Các Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban
chấp hành Trung ương Đảng khoá IX chỉ rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín
ngưỡng, tôn giáo thể hiện đầy đủ và nhuần nhuyễn quan điểm của chủ nghĩa MácLênin về tôn giáo, đồng thời cũng là những mẫu mực về việc vận dụng những quan
điểm đó vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta”31. Những tư tưởng về tín ngưỡng, tôn
giáo của Người hiện nay vẫn giữ nguyên giá trị, nó đã và đang là cơ sở lý luận,
phương pháp luận của quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo hiện nay.
2. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn giáo của Đảng
ta trong thời kỳ đổi mới hiện nay.

31

. Các Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Tài liệu nghiên cứu, Nxb.
CTQG, Hà Nội, 2003, tr.118


Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng ta là sự vận dụng trung thành và
phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
tín ngưỡng tôn giáo vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam trong những
giai đoạn lịch sử nhất định.
Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đó xỏc định vấn đề tôn giáo là vấn đề chiến
lược có tầm quan trọng đặc biệt. Qua các giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân, chiến tranh giải phóng dân tộc và cách mạng xó hội chủ nghĩa, nhờ cú
đường lối đúng đắn trong công tác tôn giáo, Đảng ta đó phỏt huy được khối đại
đoàn kết toàn dân, trong đó đồng bào theo các tôn giáo, là nhân tố quyết định đối

ở nước ta đang có những diễn biến hết sức phức tạp. Sự tác động của mặt trái nền
kinh tế thị trường làm nẩy sinh tâm lý tín ngưỡng, tôn giáo và cả mê tín dị đoan
phát sinh, phát triển; chủ nghĩa đế quốc ra sức lợi dụng kích động các vấn đề dân
tộc, tôn giáo để gây rối, can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, chống phá sự
nghiệp cách mạng của nhân dân ta… Đứng trước tình hình đó đũi hỏi Đảng ta phải
đổi mới tư duy về vấn đề tôn giáo là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Việc đổi mới tư duy về vấn đề tôn giáo được thực hiện trong khuôn khổ đổi mới
tư duy của Đảng từ Đại hội VI. Trong văn kiện Đại hội VI ghi rõ: “Đảng và Nhà nước
ta, trước sau như một, thực hành chính sách tôn trọng, tự do tín ngưỡng. Lãnh đạo và
giúp đỡ đồng bào theo tôn giáo đoàn kết xây dựng cuộc sống mới và hăng hái tham gia
bảo vệ Tổ quốc. Cảnh giác, kiên quyết và kịp thời chống lại âm mưu, thủ đoạn của bọn
đế quốc và phản động chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo, giữa đồng
bào theo đạo này với đồng bào theo đạo khác”33.
Để thực hiện quan điểm của Đảng ta về chính sách tôn giáo, Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 8 khóa VI (tháng 3-1990) về đổi mới công tác quần chúng của
Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân đã nhìn nhận: “Động lực thúc
đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài
hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân”. Đây là một trong những
cơ sở cho việc đổi mới nhận thức của Đảng về tôn giáo.
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị khoá VI được
xem như dấu mốc thể hiện quan điểm mới của Đảng về tôn giáo với ba luận điểm
quan trọng có tính đột phá là: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng
33

. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội,1987,tr.117.


tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có
nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”. Với ba luận điểm đó đã
nhanh chóng tạo nên sự đột phá nhận thức: Phải nhìn nhận tôn giáo như một “thực

35


Kể từ sau nghị quyết 24 nói trên, Đảng ta còn có nhiều văn kiện khác khẳng
định và phát triển tư duy mới về vấn đề tôn giáo, đặc biệt là chỉ thị 37-CT/TW
ngày 2/7/1998 của Bộ Chính trị khoá VIII về công tác tôn giáo trong tình hình mới,
một văn kiện quan trọng lần đầu tiên được đăng tải công khai trên báo nhân dân và
hàng loạt báo khác.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (Khóa IX) còn gọi là Nghị quyết
25 (12/3/2004) về công tác tôn giáo là sự tiếp tục đổi mới nhận thức của Đảng ta
trên lĩnh vực tôn giáo. Đây là lần đầu tiên trong quá trình lãnh đạo cách mạng,
Trung ương bàn chuyên đề về công tác tôn giáo. Trên cơ sở đánh giá tình hình tôn
giáo và công tác tôn giáo ở nước ta hiện nay,Trung ương xác định những quan
điểm, chính sách đối với tôn giáo; đề ra nhiệm vụ, những giải pháp chủ yếu và tổ
chức thực hiện công tác tôn giáo hiện nay. Chỳng ta cần thấy rừ: từ 1990 đến 2004,
đã có 13 văn kiện về các vấn đề tôn giáo gồm 2 nghị quyết, 2 chỉ thị, 9 thông báo.
Trong đó Ban bí thư ban hành 1 chỉ thị, 7 thông báo; Bộ Chính trị ban hành 1 nghị
quyết, 1 chỉ thị và 2 thông báo; Ban Chấp hành Trung ương ban hành 1 Nghị
quyết.
Điều quan trọng hơn cả là, đến nay nhận thức về vấn đề tôn giáo của cán bộ,
đảng viên và nhân dân đã có bước tiến khá dài. Một bầu không khí xã hội mới mẻ đã
lan tỏa, ranh giới vô hình mà khắc nghiệt về sự phân biệt “lương - giáo” mà các thế lực
đế quốc thực dân, phong kiến trước đây cố tình khoét sâu mâu thuẫn này đã được gỡ bỏ
căn bản, tạo nên những điểm sáng trong quan hệ đạo - đời, “tốt đời, đẹp đạo”. Trong
Nghị quyết Trung ương bảy khóa IX đã xác định phương hướng và mục tiêu cơ bản
của hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo là nhằm: “tăng cường đoàn kết đồng bào
các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn
dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây
dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”36

dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao
tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc; thông qua
việc thực hiện tốt cỏc chớnh sỏch kinh tế - xó hội, an ninh, quốc phũng, bảo đảm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status