BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
NGUYỄN THỊ HUỆ
NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN
THIÊN NHIÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
HUYỆN ĐẢO KIÊN HẢI, TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành : Địa lí tự nhiên
Mã số: 60 44 02 17
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thục Nhu
HÀ NỘI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Luận văn có tên: “Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên
nhiên phục vụ phát triển bền vững huyện đảo Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang”
được hoàn thành tại khoa Địa lý, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới sự
hướng dẫn khoa học nghiêm túc, sự chỉ bảo tận tình của PGS.TS. Nguyễn
Thục Nhu. Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến Cô
Nguyễn Thục Nhu – người đã thường xuyên dạy dỗ, khuyến khích, động viên
tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã nhận được sự chỉ bảo, động
viên, đóng góp ý kiến của các thầy cô, các nhà khoa học trong khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Viện Địa lý - Viện Khoa học và Công nghệ
Việt Nam; Bộ môn Địa lý - Khoa Sư phạm - Đại học Cần Thơ;
BVMT
: Bảo vệ môi trường
CNH
: Công nghiệp hóa
CoC
: code of conduct (Qui tắc ững xử Biển Đông)
ĐBSCL
: Đồng bằng sông Cửu Long
ĐKTN
: Điều kiện tự nhiên
FDI
: Foreign Direct Investment (Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài)
GAP
: Good Agriculture Production (Thực hành nông nghiệp sạch)
GIS
: International Organization for Standardization (Tổ chức
tiêu chuẩn hóa quốc tế)
KH&CN
: Khoa học và công nghệ
KT – XH
: Kinh tế - xã hội
KT
: Kinh tế
KTB
: Kinh tế biển
KTST
: Kinh tế sinh thái
KTTS
: Khai thác thủy sản
NTTS
: Ủy Ban Môi Trường và Phát Triển Thế Giới
UBND
: Ủy ban nhân dân
UNESCO
: United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization (Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa
của Liên Hợp Quốc)
WTO
: World Trade Organnization (Tổ chức Thương mại thế giới)
MỤC LỤC
Bảng 2.1: Diện tích các đảo của huyện Kiên Hải..............................................................................26
Nguồn thống kê đất đai huyện Kiên Hải đến ngày 01/01/2013.......................................................27
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích các đảo của huyện Kiên Hải..............................................................................26
Nguồn thống kê đất đai huyện Kiên Hải đến ngày 01/01/2013.......................................................27
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiên Hải là một trong hai huyện đảo của tỉnh Kiên Giang; gồm 23 đảo
2. Mục tiêu của đề tài
- Làm sáng tỏ đặc điểm, tiềm năng ĐKTN và TNTN huyện Kiên Hải,
tỉnh Kiên Giang.
- Trên cơ sở những đặc thù về TNTN, KT - XH có thể đưa ra được
những kiến nghị, định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
huyện đảo Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.
3. Nội dung nghiên cứu
- Vận dụng lý luận, phương pháp của địa lý tự nhiên tổng hợp cho việc
nghiên cứu, phân tích các ĐKTN và TNTN huyện đảo Kiên Hải.
- Xác định những nét đặc thù của ĐKTN, TNTN và KT – XH của lãnh
thổ để nghiên cứu.
- Phân tích tiềm năng tự nhiên và TNTN phục vụ cho phát triển một số
ngành KT trọng điểm của huyện đảo như: nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, du
lịch và hậu cần nghề cá…
- Đề xuất, kiến nghị sử dụng hợp lý TNTN và BVMT của huyện đảo.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1.Giới hạn về không gian
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào huyện đảo Kiên Hải gồm
4 đơn vị hành chính: thị trấn Hòn Tre, các xã Lại Sơn, An Sơn và Nam Du
với diện tích tự nhiên gần 2.558,59 ha. Trong đó chủ yếu tập trung vào các
đảo: Hòn Tre, đảo Nam Du – (xã An Sơn), Hòn Sơn Rái (xã Lại Sơn) và Hòn
Ngang (xã Nam Du). Phạm vi có thể mở rộng và có sự liên kết không gian với
phần đất liền và các đảo khác của tỉnh Kiên Giang.
- Ranh giới phạm vi hành chính lãnh thổ nghiên cứu được xác định trên
cơ sở bản đồ hành chính, bản đồ qui hoạch của tỉnh Kiên Giang năm 2013.
2
4.2.Giới hạn về nội dung
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
Quan điểm hệ thống: Huyện đảo Kiên Hải được xem là một hệ thống tự
nhiên, trong đó có sự tác động tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên cũng như
giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội. Do vậy, mỗi thành phần
phải được nghiên cứu trong mối liên hệ với các hiện tượng và thành phần
khác trong hệ thống về không gian, thời gian và động lực phát sinh lãnh thổ.
Quan điểm tổng hợp: Trong công tác nghiên cứu ĐKTN và TNTN
của huyện Kiên Hải cần phải dựa trên cơ sở các kết quả phân tích đồng bộ
và toàn diện. Vì mỗi hệ thống tự nhiên là tập hợp của nhiều yếu tố tự nhiên,
giữa các hợp phần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo những quy luật
phát triển riêng. Khi có sự tác động vào một hợp phần hay một bộ phận tự
nhiên nào đó sẽ kéo sự theo thay đổi mang tính dây chuyền của hàng loạt
các yếu tố tự nhiên khác. Điều đó có thể dẫn đến những hậu quả to lớn, có
khi vượt qua ngoài phạm vi không gian lãnh thổ bị tác động. Vì vậy, phải
vận dụng quan điểm này khi nghiên cứu về các ĐKTN và TNTN của huyện
Kiên Hải, đây là một cơ sở quan trọng phục vụ cho việc định hướng và khai
thác lãnh thổ cũng như công tác bảo vệ môi trường.
Quan điểm lãnh thổ: Bất kỳ đối tượng địa lý nào cũng đều gắn với một
không gian lãnh thổ nhất định. Trong không gian lãnh thổ nhất định đó, các
đối tượng địa lý có các quy luật hoạt động riêng, chúng gắn bó và phụ thuộc
rất chặt chẽ vào đặc điểm của lãnh thổ đó. Trong mỗi lãnh thổ luôn có sự
phân hóa nội tại và có mối quan hệ chặt chẽ với các lãnh thổ cận kề cả về tự
nhiên cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội. Kiên Hải là một huyện đảo
nằm trong vịnh Rạch Giá, thuộc tỉnh Kiên Giang. Vì vậy mà việc nghiên cứu
ĐKTN và TNTN trong nội bộ huyện đảo Kiên Hải cũng phải có sự kiên kết
không gian với nhau, với các đảo xung quanh và đất liền của tỉnh Kiên Giang
cũng như các tỉnh lân cận.
4
5
Quan điểm phát triển bền vững: Tất cả các lãnh thổ khi tiến hành khai
thác ngành kinh tế đều cần phải đứng trên quan điểm phát triển bền vững.
Chủ tịch Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển - Brutland đã phát biểu
năm 1987: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng nhu cầu của các thế hệ
tương lai”. Theo Luật bảo vệ Môi trường Việt Nam, Số: 55/2014/QH13 “Phát
triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm
tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở
kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và
bảo vệ môi trường.
Quan điểm này góp phần rất quan trọng trong đề xuất định hướng kiến
nghị, giải pháp cho mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
của đề tài nghiên cứu. Đây là tiêu chí hàng đầu cho nghiên cứu các ĐKTN và
TNTN phục vụ cho các mục tiêu cụ thể.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Các hợp phần Địa lí của đảo tồn tại
trong hệ thống “biển – đảo” có một sự thống nhất chặt chẽ và mối quan hệ
mật thiết. Sự biến đổi của mỗi yếu tố sẽ gây ra những biến đổi sâu sắc các hợp
phần khác bên trong mỗi phụ hệ và do đó thay đổi cả hệ thống. Việc nghiên
cứu, phân tích tiềm năng của một lãnh thổ nhất thiết phải dựa trên các phép
phân tích mang tích hệ thống, lô gic, phù hợp với qui luật phát triển của mỗi
địa hệ để thấy được sự vận động và dự báo xu thế biến đổi của chúng.
- Phương pháp thu thập, xử lý và thống kê số liệu:
+ Các loại tài liệu cần thu thập, các đại lượng và mức độ chi tiết của tư
liệu phụ thuộc vào dự kiến mực tiêu đánh giá ban đầu.
+ Cần xây dựng một mô hình ban đầu làm cơ sở cho việc thu thập tư liệu.
+ Nguồn tư liệu phải đồng bộ: đủ về thành phần và đảm bảo độ chính
- Từ kết quả nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học, xây dựng các định
hướng phát triển và thiết kế tổ chức không gian phát triển KT-XH cho huyện
đảo đồng thời có các giải pháp bảo vệ, sử dụng hợp lý TNTN, BVMT sẽ là
7
cơ sở để địa phương áp dụng cho thực tiễn qui hoạch, xây dựng chiến lược
phát triển trong tương lai của huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.
8. Cấu trúc luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: “Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu ĐKTN và TNTN
phục vụ phát triển KT – XH và bảo vệ môi trường huyện đảo Kiên Hải, tỉnh
Kiên Giang”
Chương 2: “ĐKTN và TNTNT huyện đảo Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang”
Chương 3: “Định hướng và giải pháp khai thác ĐKTN và TNTN phục
vụ phát triển bền vững huyện đảo Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang”
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU ĐKTN VÀ TNTN
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KT – XH VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
HUYỆN ĐẢO KIÊN HẢI, TỈNH KIÊN GIANG
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm
a. Điều kiện tự nhiên
8
Điều kiện tự nhiên bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên có sẵn như đất,
c. Phát triển bền vững
Khái niệm Phát triển bền vững được thể hiện đầy đủ và cụ thể trong
Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất
vào tháng 6/ 1992 tại Rio de Janeiro (Braxin) với việc nêu lên 27 nguyên tắc
cơ bản liên quan đến môi trường và PTBV.
Theo tinh thần của Tuyên bố này PTBV tựu trung theo đuổi 3 mục tiêu, có
thể gói gọn trong 12 chữ:" toàn vẹn sinh thái; hiệu quả kinh tế; công bằng xã hội
". Mục tiêu toàn vẹn sinh thái được tập trung vào nhiệm vụ bảo vệ đa dạng sinh
học ở mọi cấp bậc, mà căn bản là nguồn gien, các loài và các hệ sinh thái. Hiệu
quả kinh tế là mục tiêu nhằm tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, mà
bản chất là giảm thiểu tiêu thụ tài nguyên không tái tạo so với tài nguyên có thể tái
tạo. Mục tiêu công bằng xã hội thể hiện cơ bản ở cách giải quyết vấn đề thừa
hưởng các giá trị về sinh thái và di sản văn hóa trong nội bộ một thế hệ và giữa
các thế hệ, với mục đích cuối cùng là đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà
không làm tổn hại đến thế hệ mai sau đáp ứng nhu cầu của họ.
Về mặt bảo vệ môi trường có thể hiểu PTBV về bản chất là sự phát
triển mà môi trường được giữ vững, không bị ô nhiễm. Vì vậy quản lý môi
trường là chìa khóa cho sự phát triển có hiệu quả và bền vững.
Theo UBMT&PTTG (Ủy Ban Môi Trường và Phát Triển Thế Giới)
đưa ra năm 1987 thì: “Phát triển bền vững là những thế hệ hiện tại cần đáp
ứng nhu cầu của mình mà không làm hại đến khả năng các thế hệ tương lai
đáp ứng nhu cầu của họ”. Như GS. TS Lê Đức An nhận định “Vấn đề then
chốt của phát triển bền vững không phải là sản xuất ít đi mà là sản xuất khác
đi”, bên cạnh việc phát triển kinh tế cần phải bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước,
bảo vệ đất để nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng. Môi trường chỉ có thể
chứa đựng những chất thải đến một ngưỡng nhất định nào đó, nếu quá sức
10
luôn được bền vững.
e. Kinh tế sinh thái
Kinh tế sinh thái là một khái niệm tổng hợp, đề cập đến mối liên hệ
giữa hệ thống sinh thái và hệ thống kinh tế với tầm bao quát, rộng mở và có
liên quan đến nhiều ngành khoa học khác nhau.
Các hệ sinh thái ven bờ và những hệ sinh thái đảo là những hệ sinh thái
có tính đa dạng sinh học cao, là nguồn vốn thiên nhiên quí giá cho phát triển
kinh tế biển - đảo nhưng đây lại là những hệ sinh thái nhạy cảm dễ bị hủy
hoại, suy thoái nếu không có chiến lược và hướng khai thác hợp lý. Vì vậy
khi phát triển kinh tế biển đảo cần phải dựa trên cơ sở của kinh tế sinh thái,
đây là hướng đi để tiến tới phát triển bền vững.
Khi tiến hành nghiên cứu theo định hướng phát triển bền vững cho các
hệ thống biển đảo ven bờ cần phải tiến hành một cách toàn diện, cẩn trọng và
phải dựa trên quan điểm sinh thái bền vững. Tổ chức Hải dương học liên
chính phủ (IOC) đã đưa ra các tiêu chí cho việc nghiên cứu các hệ sinh thái
đảo và vùng biển nông cho mục đích phát triển bền vững với các nội dung
như sau: chất lượng môi trường (đất, nước, không khí) trên đảo nhất là vùng
nước quanh đảo, các tai biến thiên nhiên và các nguy cơ tiềm ẩn cùng biện
pháp phòng tránh, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên (sinh vật), bảo vệ và phát
triển các hệ sinh thái (đảo, vùng triều, rạn san hô, cỏ biển,…)
1.1.2. Cơ sở lý luận chung về nghiên cứu ĐKTN và TNTN phục vụ phát
triển KT và bảo vệ môi trường lãnh thổ
a. Các điều kiện tự nhiên
Hệ thống đảo - biển có những đặc thù riêng không giống như một lãnh
thổ trên đất liền. Ở đây có mối liên hệ không gian giữa đảo và biển về nhiều
mặt, khu vực ven biển và trên đảo là các điều kiện tạo thành đất, đặc điểm về
nước mặt, nước ngầm, thời tiết, khí hậu, chế độ gió mưa, nhiệt độ, độ ẩm, gió
mùa… Ở vùng biển lại có sự tương tác của các đặc điểm hải văn như sóng,
khác. Tuy nhiên, nếu đảo càng gần đất liền, gần các vùng kinh tế trọng điểm,
13
các khu kinh tế mở, khu chế xuất thì càng có lợi thế để phát triển, nhất là phát
triển các ngành dịch vụ cho nhu cầu của các trung tâm kinh tế lớn như: nhu
cầu nghỉ ngơi, dịch vụ du lịch, vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi cuối tuần, du lịch
sinh thái,… huyện đảo Kiên Hải tiếp giáp với các trung tâm kinh tế như: phía
đất liền có thành phố Rạch Giá và các huyện của tỉnh Kiên Giang, trên biển
tiếp giáp với Phú Quốc (khu kinh tế biển tổng hợp lớn nhất cả nước). Đây là
các điều kiện thuận lợi để huyện Kiên Hải phát triển kinh tế - xã hội.
Các đơn vị hành chính xã của các huyện đảo Kiên Hải không liền kề
với nhau như trên đất liền mà cách xa nhau do các đảo phân bố rải rác nên
phương tiện di chuyển nơi đây chủ yếu là đường thủy mà môi trường nước lại
nhiều tính biến động và rất nhạy cảm. Vùng biển Kiên Hải ít xuất hiện các tai
biến thiên nhiên như: dông, bão, sóng lớn và tiềm ẩn nguy cơ động đất… Ở
huyện đảo Kiên Hải tuy có những lợi thế nhất định nhưng bên cạnh đó cũng
tồn tại rất nhiều khó khăn. Do đó đòi hỏi phải có những cách tiếp cận từ nhiều
góc độ trong việc nghiên cứu và tiến hành các hoạt động kinh tế.
c. Vị thế của hệ thống đảo là một nội dung quan trọng và mang tính bắt buộc
khi nghiên cứu về hệ thống đảo - biển
- Vị thế được hiểu ở đây là những lợi thế so sánh về mặt địa lý, về khai
thác các giá trị vật chất và phi vật chất của một đơn vị lãnh thổ nhất định.
Tiềm năng vị thế được biết đến thông qua việc phân tích, đánh giá hoặc khả
năng phát hiện của chủ thể quản lý, chủ sở hữu hoặc các chuyên gia tư vấn
phát triển đối với lãnh thổ đó.
- Tầm quan trọng của các huyện đảo không phải chỉ là vốn tài nguyên
mà chủ yếu là vị thế của chúng. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với việc
phát triển kinh tế xã hội mà còn đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ an ninh
huyện đảo mà có phương pháp khai thác cụ thể.
a. Khẳng định được vị thế của huyện đảo là chính là nội dung quan trọng nhất
Không giống như trên đất liền, các huyện đảo không chỉ có không gian
lãnh thổ riêng mà còn là điểm để xác định không gian lãnh thổ của quốc gia.
15
Vì vậy vị thế của chúng có một tầm quan trọng hết sức đặc biệt.
Huyện Kiên Hải thuộc nhóm đảo phía trong, vị trí của Kiên Hải nằm
trong vùng biển phát triển kinh tế trọng điểm của tỉnh Kiên Giang, khoảng
cách với các trung tâm kinh tế trên đất liền như tp Rạch Giá, huyện An Biên,
An Minh, Phú Quốc (trung tâm kinh tế biển lớn nhất cả nước) không lớn. Đây
là những đầu cầu kích thích nền kinh tế Kiên Hải phát triển. Không gian biển
của huyện lớn và biển giàu tài nguyên nên thuận lợi cho các hoạt động đánh
bắt và nuôi trồng thủy sản quanh các đảo Hòn Tre, Hòn Sơn Rái và quần đảo
Nam Du, các hoạt động thương mại trên biển và du lịch. Vị trí của Kiên Hải
có ý nghĩa quốc phòng rất lớn nơi đây được xem là khu vực hậu cần cho các
đảo tiền tiêu Thổ Chu và Phú Quốc trong việc bố trí và triển khai các kế
hoạch quân sự, cứu hộ, cứu nạn trên biển. Đây còn là cửa ngõ của các tỉnh
ĐBSCL hướng ra ĐNA trên biển.
b. Có mối quan hệ chặt chẽ với vùng biển xung quanh đảo
Tiềm năng của các đảo không chỉ được xác định ở trên đảo mà còn ở
vùng biển bao quanh đảo. Tuy hai hệ sinh thái phát triển tương đối độc lập
nhưng giữa chúng có một mối quan hệ hữu cơ rất chặt chẽ về các quá trình
ngoại sinh như: bóc mòn, bồi tụ, dòng chảy, xói lở,… khi hiểu được mối quan
hệ này sẽ dễ dàng đưa ra những định hướng phát triển cụ thể của từng huyện
đảo như: nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, phát triển hàng hải, du lịch…
c. Không gian liên kết với các khu vực xung quanh
Sự phát triển của một huyện đảo không chỉ phụ thuộc vào nguồn tài
Những tồn tại cơ bản và lâu dài trong phát triển KT - XH của các huyện
đảo chính là hạn chế về vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, thiếu khoa học
công nghệ và nguồn nhân lực cho sự phát triển. Những khó khăn này có thể
được khắc phục khi “mở cửa” cho nước ngoài vào đầu tư, nhất là trong lĩnh
vực du lịch - sinh thái và dịch vụ hàng hải, đánh bắt và nuôi trồng hải sản,
nâng cấp và xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng. Tất cả các dự án đầu tư cả trong
17