LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến cô giáo TS. Vũ
Thị Khánh Linh, cô luôn tận tụy hướng dẫn về mặt khoa học, luôn khích lệ,
động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các em sinh viên
trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình đã nhiệt tình cộng tác để tôi có thể
hoàn thành đề tài này.
Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, với tinh thần thực sự
cầu thị, rất mong nhận được sự chia sẻ, góp ý kiến của quý thầy cô cùng các
bạn để đề tài được hoàn thiện hơn !
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2016
Tác giả
Phan Thị Mai
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
LỜI CẢM ƠN......................................................................................................................................................1
Bảng 2.1.1a Thống kê số lượng sinh viên theo năm học và theo giới tính(%) N=290.....................................45
Bảng 2.1.1b Số lượng sinh viên theo chuyên ngành, nơi sinh...........................................................................45
Bảng 3.1.1 Nhận thức về khái niệm MXH (1≤X≤ 3)........................................................................................53
Bảng 3.1.1 Các loại MXH sinh viên tham gia...................................................................................................54
Bảng 3.1.2a Thời gian và nội dung sinh viên vào mạng xã hội (1≤x≤3)..........................................................56
công nghệ thông tin, các ứng dụng của nó len lỏi tới mọi ngõ ngách của cuộc
sống, đến mọi người hơn. Thế giới thực sự “phẳng”, chỉ với một chiếc
smartphone với cái chạm tay, cả thế giới hiện ra trước mắt bạn.
Mạng xã hội là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên lại với
nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian.
Những người tham gia vào mạng xã hội còn được gọi là cư dân mạng.
Mạng xã hội có những tính năng như phim ảnh, voice chat, chia sẻ file,
blog và xã luận. Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau
và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên
khắp thế giới. Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm
kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành
phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc
dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc),
lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán...
Bên cạnh những mặt tích cực thì việc sử dụng mạng xã hội cũng gây
không ít “phiền toái” cho người dùng đặc biệt là những người trẻ, phổ biến
nhất là đã làm nảy sinh biểu hiện “nghiện” mạng xã hội ở một số thành viên
như tiêu tốn thời gian “lướt mạng” truy cập và tìm kiếm những thông tin vô
bổ, thậm chí có hại; chơi game online bất kể giờ giấc và nhiều người sa vào
những game bạo lực, khiêu dâm... Mạng xã hội còn tiềm ẩn nguy cơ khi
những thông tin, nội dung, hình ảnh riêng tư được đưa lên mạng để chia sẻ
với người thân, bạn bè… nhưng vô tình bị kẻ xấu lợi dụng và sử dụng vào
mục đích xấu, hoặc là người sử dụng mạng xã hội chưa có ý thức, vô trách
nhiệm trong việc đưa thông tin xấu lên mạng gây ảnh hưởng không tốt đến
1
suy nghĩ của một bộ phận cư dân mạng và dư luận xã hội. Những cá nhân dễ
“nổi tiếng” nhờ mạng xã hội nhưng cũng dễ bị mạng xã hội “ném đá”, vùi dập
hội, bảo mật các kết nối mạng, bảo mật giao dịch trực tuyến, an toàn trong
giao tiếp Email, bảo mật thiết bị di động…
Từ những phân tích sơ bộ như trên, chúng tôi lựa chọn đề tài luận văn
là “Kỹ năng tự bảo vệ khi tham gia các mạng xã hội của sinh viên trường
Cao đẳng sư phạm Thái Bình”, nhằm tìm hiểu về thực trạng sử dụng mạng
xã hội, khả năng tự bảo vệ các thông tin cá nhân, đề xuất các biện pháp nâng
cao kỹ năng tự bảo vệ cho sinh viên khi tham gia mạng xã hội.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tiến hành tìm hiểu thưc trạng kỹ năng tự bảo vệ bản thân khi
tham gia các mạng xã hội của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình.
Các nguyên nhân ảnh hưởng đến kỹ năng này của sinh viên. Từ đó đề xuất
một số biện pháp nhằm phát triển kỹ năng tự bảo vệ bản thân khi tham gia các
mạng xã hội cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng tự bảo vệ bản thân khi tham gia mạng xã hội của sinh viên
trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình.
3.2 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên các khoa Khoa học Tự nhiên, khoa Xã hội Nhân văn, Khoa
Ngoại ngữ, khoa Giáo dục Tiểu học, Khao Giáo dục Mầm non thuộc trường
Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
4. Giả thuyết khoa học
Nhìn chung kỹ năng tự bảo vệ bản thân của sinh viên khi tham gia
mạng xã hội đều ở mức thấp. Có sự khác biệt về mức độ kỹ năng giữa nhóm
sinh viên nam và sinh viên nữ, sinh viên ở các khoá học khác nhau. Nguyên
nhân chủ yếu ảnh hưởng đến thực trạng này là do sinh viên chưa có nhận thức
3
- Kĩ năng xác định mức độ các hành vi tự bảo vệ phù hợp/ kĩ năng lựa
chọn các ứng phó/tự bảo vệ phù hợp
- Kĩ năng cập nhật các thông tin/cách thức sử dụng MXH
- Kĩ năng bảo vệ tài khoản MXH
- Kĩ năng bảo mật thông tin cá nhân trên tài khoản MXH
- Kĩ năng kiểm chứng tính xác thực của thông tin
- Kĩ năng tự bảo vệ khi tham gia Facebook
- Kĩ năng xử lí khi gặp tình huống giả mạo/lừa đảo trên trang cá nhân
- Kĩ năng bảo vệ tài khoản Facebook khỏi bị đánh cắp
6.2Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 245 sinh viên của trường Cao đẳng Sư
phạm Thái Bình
Trong đó, 65 sinh viên năm nhất, 90 sinh viên năm 2, 90 sinh viên năm
ba; 35 sinh viên nam và 210 sinh viên nữ.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, thì luận văn còn có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về kỹ năng tự bảo vệ khi tham gia các mạng
xã hội
Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3. Kết quả nghiên cứu thực trạng kĩ năng tự bảo vệ khi tham
gia các mạng xã hội của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
với máy móc. Với quan điểm của trường phái tâm lý học hành vi, theo chúng
6
tôi, đây là vấn đề mà các nhà tâm lý học và giáo dục học cần quan tâm bởi
vấn đề không chỉ là rèn luyện kỹ năng hành động mà cần phải hình thành kỹ
năng tổ chức hành động. tìm ra được cách giải quyết đạt hiệu quả cao trong
mọi tình huống, mọi hoàn cảnh.
Trong tâm lý học lao động, các nhà tâm lý học phương tây khi nghiên
cứu kỹ năng lao động đã đề cập đến kỹ năng, kỹ xảo, vai trò của kỹ năng
trong lao động, vấn đề hình thành kỹ năng cho người lao động trong quá trình
hoạt động, sự thành thạo về thao tác là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu
quả lao động, nhưng không có nghĩa là mọi hoạt động của con người cần phải
đạt đến kỹ xảo. Trên thực tế nhiều hoạt động đòi hỏi người lao động phải linh
hoạt, mềm dẻo, con người không chỉ thành thạo các thao tác nghề nghiệp, mà
còn cần có sự linh hoạt, sáng tạo, đại diện là K.K.Platonov, G.G.Golubev,
V.V.Tsêbưsêva [69].
Lĩnh vực quản lý cũng có nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng. Các
chuyên gia hàng đầu về khoa học quản lý như Harold Koontz, Cyril
O’Donnell và Heinz Weihrich [36] chỉ ra những kỹ năng cơ bản của nhà quản
lý là: Kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng thực hiện các mối quan hệ con người, kỹ
năng nhận thức. Theo các tác giả thì tầm quan trọng của các kỹ năng này thay
đổi tùy theo cấp độ quản lý (cấp cao, cấp trung gian, cấp cơ sở). Nghĩa là cấp
quản lý càng cao thì kỹ năng nhận thức và thiết kế càng có ý nghĩa. Ngược lại
đối với cấp quản lý thấp thì kỹ năng kỹ thuật lại có ý nghĩa hơn. Trong cuốn
“Các kỹ năng lãnh đạo giành cho nhà quản trị” của tác giả Marlene Caroselli
cũng đề cập đến các kỹ năng cụ thể cần có của nhà quản trị [14], các nhóm kỹ
năng cần thiết để công tác tổ chức quản lý có hiệu quả. Theo
P.M.Kecgientsev [37] đã phân tích và đề xuất những yếu tố cơ bản của công
chung, kỹ năng dạy học của giáo viên và kỹ năng học tập của học sinh nói
riêng. Các nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Như An, Ngô Công
Hoàn đã có những công trình chuyên sâu về kỹ năng hoạt động sư phạm và
8
quy trình hình thành kỹ năng hoạt động sư phạm cho sinh viên các trường sư
phạm. Một số tác giả nghiên cứu về kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm
của giáo viên, sinh viên sư phạm, tiêu biểu như tác giả Nguyễn Đình Chỉnh
[16]; Tác giả Trần Thị Quốc Minh [48]. Tác giả Nguyễn Hữu Dũng quan tâm
và khẳng định vai trò cần thiết của việc hình thành kỹ năng sư phạm cho sinh
viên là: “Cần hết sức coi trọng việc hình thành kỹ năng sư phạm cho giáo sinh
sư phạm”. Một số tác giả như Nguyễn Đình Chỉnh, Trần Hữu Luyến, Trần
Ngọc Diễm đã trình bày kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm theo một quy
trình xác định. Các tác giả đưa ra một hệ thống các tình huống sư phạm và
hướng dẫn cách giải quyết theo quy trình nhất định.
Hướng thứ ba: Nghiên cứu về kỹ năng trong công tác quản lý, tổ chức
hoạt động. Tác giả Trần Quốc Thành [68] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc của
kỹ năng tổ chức hoạt động. Theo tác giả này, hệ thống kỹ năng tổ chức rất
phong phú với 5 thành phần cơ bản: Nhận thức, Thiết kế, Phân công - phối
hợp, giao tiếp, thực hiện nhiệm vụ. Các thành phần này có mối quan hệ chặt
chẽ, chi phối lẫn nhau trong quá trình hoạt động. Trong cuốn “Kỹ năng trong
quản lý” [29] của Giang Hà Huy tác giả đề cập đến các kỹ năng mà nhà quản
lý cần rèn luyện như kỹ năng tổ chức hoạt động, kỹ năng quản lý con người
và các mối liên hệ, bên cạnh đó tác giả đã giải thích và đơn giản hoá suy nghĩ
của các chuyên gia quản lý hàng đầu thế giới và các nhà quản lý khác bằng
các suy nghĩ thực tế thông thường nhưng rất có ích cho tất cả các đối tượng
làm công tác quản lý từ giám đốc công ty, các nhà quản lý trường đại học,
công chức nhà nước, sĩ quan quốc phòng, quản đốc nhà máy và rất có giá trị
kết nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau, với nhiều mục
đích khác nhau. Khi các cá nhân tham gia vào xã hội ảo - mạng xã hội thì
khoảng cách về không gian địa lý, giới tính, độ tuổi, thời gian trở nên vô
nghĩa. Nhờ vào những ưu việt này mà mạng xã hội đang có tốc độ lây lan
chóng mặt ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là ở thanh niên trên toàn thế giới.
10
Mạng xã hội xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1995 với sự ra đời của trang
Classmate với mục đích kết nối bạn học. Tiếp theo là sự xuất hiện của
SixDegrees vào năm 1997 với mục đích giao lưu kết bạn dựa theo sở thích
[23]. Năm 2002, Friendster trở thành một trào lưu mới tại Hoa Kỳ với hàng
triệu thành viên ghi danh. Năm 2004, MySpace ra đời với các tính năng như
phim ảnh (embedded video) đã nhanh chóng thu hút hàng chục ngàn thành
viên mới mỗi ngày [24] MySpace trở thành mạng xã hội đầu tiên có nhiều
lượt xem hơn cả Google và được tập đoàn News Corporation mua lại với giá
580 triệu USD. Cùng năm 2004, Facebook ra mắt. Ban đầu đây là địa chỉ dành
cho sinh viên đại học kết nối và chia sẻ. Ngay sau khi ra đời tại trụ sở trường
đại học Harvard, Facebook đã có tới 19.500 sinh viên đăng kí trong tháng đầu
tiên. Hai năm sau, Twitter cũng kịp thời ra đời, ghi dấu mốc quan trọng trong
quá trình phát triển của mạng xã hội. Tại thời điểm năm 2008, mỗi giây người
dùng Twitter đăng lên 3.283 thông điệp và mỗi ngày mạng xã hội Twitter cũng
thực hiện hơn 800 triệu lượt tìm kiếm [25]. Năm 2006 đánh dấu bước ngoặt
mới cho hệ thống mạng xã hội Facebook trực tuyến cho phép người dùng tạo ra
những công cụ mới cho cá nhân mình, cũng như các thành viên kết nối khác.
Hiện nay Facebook có tốc độ phát triển chóng mặt, với số lượng người dùng
khoảng 600 triệu. Theo khảo sát vừa được công bố tại Mỹ, Facebook nói riêng
và mạng xã hội nói chung chính là điểm đến tiêu tốn nhiều thời gian nhất của
người dùng.
Greenfield, một nhà thần kinh học của Đại Viện Hoàng gia Anh, cho rằng,
việc tiếp xúc liên tục với mạng xã hội sẽ đảo ngược mọi hoạt động của não:
“Các mạng xã hội, trò chơi điện tử bạo lực, chương trình truyền hình sẽ làm
chậm tốc độ phát triển của não trẻ, vì chúng rất dễ bị thu hút bởi âm thanh và
ánh sáng mạnh”. Baroness cũng khẳng định việc việc chơi game, chat và
tham gia mạng xã hội có thể khiến cả một thế hệ mất đi khả năng tập trung trí
óc: “Tôi luôn sợ rằng một ngày nào đó, cách giao tiếp truyền thống sẽ bị thay
12
thế bởi những hộp thoại trên màn hình máy tính”, bà tâm sự [29].
Nhiều nhà tâm lý cũng cho rằng công nghệ số đang thay đổi cách tư
duy của con người. Họ chỉ ra rằng học sinh ngày nay không cần phải lập dàn
ý trước khi viết bài luận vì sự phổ biến của các chương trình xử lý văn bản
trên mạng. Sue Palmer, tác giả của cuốn tiếng Toxic Childhood, phát biểu:
“Sự phát triển trí óc của trẻ em ngày nay đang bị cản trở vì chúng không
tham gia vào những hoạt động mà loài người đã thực hiện từ hàng nghìn năm
nay. Tôi không phản đối việc cho trẻ tiếp cận với công nghệ số và máy tính,
nhưng trước khi tham gia vào xã hội ảo, chúng cần phải biết cách tạo mối
quan hệ với người thực”. Trong một cuốn tên Alone Together vừa xuất bản
mới đây, tiến sĩ Turkle đã kêu gọi người dân nên bớt thời gian dành cho các
trang mạng xã hội như Twitter hay Facebook. Thay vào đó, chúng ta nên tăng
cường các hoạt động giao tiếp trong xã hội thực [30].
Không thể phủ nhận rằng các mạng xã hội như Facebook, Twitter rất
dễ gây nghiện và một nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng việc sử dụng mạng xã
hội đang ngày càng trở nên phổ biến và dễ gây nghiện hơn cả việc dùng rượu
hay hút thuốc. (Nghiên cứu được thực hiện bởi trường Đại học Chicago Booth
School of Business, với 205 tình nguyện viên tham gia cung cấp số liệu)[31]
Theo một khảo sát gần đây nhất của WeAreSocial, một tổ chức có trụ
năm: “Ý thức về bản thân của chúng ta thay đổi nhiều hơn, trong khi ý thức
về sự riêng tư mở rộng hơn. Những gì đã từng được coi là thầm kín thì nay
được chia sẻ với hàng triệu người chỉ bằng một cú nhấp chuột” [33].
Theo ông Effendy Ibrahim, giám đốc kiêm cố vấn Luật về An toàn
Internet của Symantec Châu Á: “Chúng ta đang cho đi một cách hào phóng
những thông tin mà tin tặc có thể lợi dụng để tấn công chính chúng ta”. Chỉ
bằng những thông tin công khai có được, tin tặc có thể dễ dàng nắm được sở
thích chiếm được niềm tin của người dùng. Chúng có thể dễ dàng truy cập và
tấn công trang profile để rồi từ đây mở rộng vùng tấn công sang toàn bộ bạn
14
bè trong Frendlist [34].
Tại Việt Nam, Zing Me có 6,1 triệu người sử dụng chiếm xấp xỉ 20 %
tổng số người dùng Internet Việt Nam; Yume.Vn có 2,9 triệu người dùng;
Facebook có 2,6 triệu người dùng. Hiện nay, cộng đồng mạng ngày càng thu
hút đông đảo học sinh, sinh viên, doanh nhân, doanh nghiệp...Theo ước tính
của VNG thì đến năm 2014 tỉ lệ sử dụng mạng xã hội của người Việt Nam có
thể lên tới 50% [35].
Giới trẻ Việt Nam hiện nay năng động và thành thạo với công nghệ
thông tin. Việc tham gia vào các mạng xã hội của giới trẻ như là một nhu cầu
tất yếu. Tuy nhiên tính kết nối toàn cầu của mạng xã hội Việt Nam còn thấp.
Các mạng xã hội riêng của Việt Nam như Tamtay.vn; Truongxua.vn;
Banbe.net hay Zing me ...cũng ít người dùng dù giao diện dễ sử dụng, có các
chức năng thuận lợi cho việc tìm lại bạn học cũ ở mọi miền đất nước, giao
lưu, chia sẻ tâm tình... Theo khảo sát của tổ chức Cimigo Việt Nam, số người
dùng mạng xã hội tính tới cuối năm 2010 tại Việt Nam đã đạt gần 10 triệu
người [34]. Khảo sát này chưa đi sâu vào thói quen và hành vi lướt mạng xã
hội của người dùng Việt, nhưng chắc chắn chân dung ảo của đại đa số người
Thực
trạng
và
giải
pháp”.Mã
số
VI
1.1-
2011.04
( 04/2012/V/HĐXH). Đề tài nghiên cứu thực trạng và giải pháp sử dụng mạng
xã hội của thanh niên Việt Nam hiện nay. Đề tài đang được triển khai chưa có
nghiệm thu kết quả.
- Xem xét những tác động của internet đến hoạt động học tập của sinh
viên, Nguyễn Quý Thanh cùng nhóm tác giả Nguyễn Vân Anh, Nguyễn
Khánh Hòa, Nguyễn An Ni nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ của việc sử dụng
internet và hoạt động học tập của sinh viên” Mã số Q.CL.05.01[13]. Đề tài đã
tiến hành khảo sát 640 sinh viên của 10 trường đại học, trong đó 5 trường ở
Hà Nội và 5 trường ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Đề tài đã đưa ra những kết quả chính như: Mối liên hệ giữa hành vi học
tập chủ động tích cực của sinh viên với việc sử dụng internet đó là, internet chỉ
cứu được khảo sát trên 1200 người sử dụng Internet tại 4 thành phố Hà Nội,
TPHCM, Đà Nẵng và Cần Thơ bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Nghiên
cứu mang tính chất khảo sát và chỉ dừng lại ở mục đích nhằm cung cấp thông
17
tin cho các nhà tiếp thị và truyền thông những thông tin về thói quen sử dụng
Internet của người Việt Nam, từ đó hoạch định các chiến lược Maketing trên
Internet phù hợp hơn với người Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu chuyên sâu qua cuộc nghiên cứu về xu hướng sử
dụng Internet tại các thành phố lớn ở Việt Nam cho thấy, một tầm nhìn tổng
quát về các hoạt động trực tuyến của người sử dụng bao gồm thói quen sử
dụng các phương tiện truyền thông liên kết, lối sống tâm lý của người sử dụng
Internet và việc nghiên cứu thương hiệu mà họ quan tâm và ưa chuộng. Qua
kết quả nghiên cứu cho thấy: Thời gian bình quân sử dụng Internet mỗi ngày
đã tăng gần gấp đôi, từ 22 phút năm 2006 lên 43 phút năm 2008. Chi phí bình
quân cho việc truy cập Internet (bao gồm phí thuê bao) là 174.000
đồng/tháng. Xu hướng truy cập Internet tại nhà (66%) đã vượt trội hơn so với
việc ra quán café Internet (53%). Tuy nhiên, lứa tuổi thanh thiếu niên lại hay
truy cập Internet ở các quán café Internet hơn. Cập nhật thông tin và sử dụng
công cụ tìm kiếm là các hoạt động online phổ biến. 82% số người được hỏi sử
dụng các công cụ tìm kiếm và gần 90% trong số họ đọc tin tức trên Internet.
Hơn 95% người sử dụng Internet ở Việt Nam dùng các dịch vụ Yahoo!
Messenger và Email [36]
- “Thực trạng sử dụng Internet ở thanh thiếu niên Việt Nam”, 2004 trên
trang web chungta.com. Bài viết sử dụng phương pháp quan sát và phỏng
vấn một số đối tượng là thanh, thiếu niên và một vài giáo viên. Kết quả cho
thấy được Internet có vẻ như đã trở thành một phương tiện rất quen thuộc đối
với đông đảo thanh thiếu niên nhất là ở các thành phố lớn. Bài viết chỉ ra
hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội
nhập quốc tế hiện nay, tác giả đã đề cập tới một số khái niệm công cụ và khía
cạnh phương pháp luận của các vấn đề nghiên cứu. Trên cơ sở của các cách
tiếp cận, tác giả trình bày cho phép nhận diện và đánh giá xu hướng và mức
độ biến đổi của lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh đẩy nhanh
19
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước chủ động hội nhập quốc tế.
- Tác giả Nguyễn Bích với bài viết “Internet và những tác động làm
thay đổi tại Việt Nam”. Tác giả nhận định rằng, một trong những dịch vụ hàng
đầu của thông tin đại chúng là sự xuất hiện của Internet. Nó là một phương
tiện không thể thiếu của nhân loại hiện nay, một dịch vụ nhanh gọn, tiện ích,
một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy cập cộng đồng. Chính vì
những ưu thế đó, Internet đã và đang thâm nhập vào mọi lĩnh vực từ kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội và hoạt động sống của con người thuộc mọi tầng lớp
trong xã hội.
Qua tổng quan các tài liệu trên, tác giả đề tài nhận thấy Internet nói chung
và mạng xã hội nói riêng là một sản phẩm công nghệ mới đồng thời dưới góc độ
tâm lý học, nó là một hình thức mang nhiều đặc trưng mới làm phong phú cho
cuộc sống của con người. Tuy nhiên, với nhiều chức năng vừa mang tính tích
cực vừa mang tính tiêu cực, mạng xã hội đã và đang là mối quan tâm cũng như
đã gây nhiều lo ngại cho các nhà quản lý và nhiều tổ chức liên quan, trước nhu
cầu hiểu biết ngày càng cao về loại hình phương tiện truyền thông mới mẻ này
của giới trẻ. Qua đó, tác giả luận văn cũng nhận thấy được sự bỏ ngõ đối với lĩnh
vực quan trọng này dưới góc độ khoa học xã hội.
Về phương pháp nghiên cứu trong các tài liệu trên, các tác giả sử dụng
phương pháp và công cụ xã hội học là chủ yếu, tùy thuộc vào cách tiếp cận
mà người nghiên cứu đưa ra. Một số nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp
phỏng các quan hệ trong xã hội thực. Quan niệm này khẳng định mạng xã hội
khác rất nhiều so với blog, đó là một khái niệm rộng lớn hơn trong khi blog
chỉ đơn thuần là một dịch vụ, một loại hình giao tiếp trong mạng xã hội. Do
đó, sẽ có MXH được xây dựng trên nền tảng chính là blog, nhưng cũng có
những MXH không có dịch vụ này.
Như vậy, qua việc phân tích các khái niệm trên trong khuôn khổ đề tài
này chúng tôi định nghĩa: Mạng xã hội là một xã hội ảo với hai thành tố
21