ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
NGUYỄN THANH TÙNG TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SINH VIÊN
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THỪA THIÊN - HUẾ
GIAI ĐOẠN 2008-2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
1. Lý do chọn đề tài 11
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 13
3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài 13
4. Phương pháp nghiên cứu 14
5. Phương pháp thu thập thông tin 14
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 14
5.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi 14
6. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 14
6.1 Câu hỏi nghiên cứu 14
6.2 Giả thuyết nghiên cứu: 15
6.3 Mô hình nghiên cứu 15
7. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu 15
8. Mẫu và phương pháp chọn mẫu 16
9. Phương pháp thu thập thông tin, phân tích thông tin 16
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 18
1.1 Cơ sở lý luận 18
1.1.1 Một số khái niệm 19
1.1.2 Một số hình thức đánh giá HĐGD của GV 28
1.2 Tổng quan hoạt động đánh giá giảng dạy ở Việt Nam và trên TG 32
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Tổng quan về trường CĐSP TT Huế và bối cảnh nghiên cứu 40
2.1.1 Qúa trình thành lập 40
2.1.2 Quá trình hình thành 40
2.1.3 Các giai đoạn phát triển 41
2.1.4 Sơ đồ tổ chức bộ máy: 42
9
2.1.5 Hoạt động đánh giá giảng viên ở trường CĐSP TT Huế. 43
2.2 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 44
2.2.1 Mẫu nghiên cứu 44
PHỤ LỤC 3: SỐ LIỆU PHÂN TÍCH PHIẾU SỐ 1 83
PHỤ LỤC 4: SỐ LIỆU THỐNG KÊ THEO TỪNG GIẢNG VIÊN PHIẾU SỐ
1 89
PHỤ LỤC 5: SỐ LIỆU PHÂN TÍCH TỪ PHIẾU KHẢO SÁT GIẢNG VIÊN
(PHIẾU SỐ 2) 92
10
PHỤ LỤC 6 : KIỂM ĐỊNH T-TEST GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH 98
PHIẾU SỐ 1 98
PHỤ LỤC 7 : KIỂM ĐỊNH T_TEST GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH 101
PHIẾU SỐ 2 101 2
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây nước ta đã có nhiều bước phát triển vượt bậc trên nhiều
lĩnh vực khác nhau về kinh tế, chính trị, giáo dục, y tế, khoa học kĩ thuật, v.v Cùng với sự
phát triển đó, đòi hỏi cần phải đào tạo được một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và trình độ
chuyên môn để xây dựng đất nước, đưa nước ta phát triển lên một tầm cao mới sánh kịp với
các nước trong khu vực và trên thế giới. Muốn vậy cần phải thực hiện đổi mới và nâng cao
chất lượng giáo dục đại học. Việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học đòi hỏi phải được
thực hiện trên nhiều mặt khác nhau từ đổi mới chương trình đào tạo, trang thiết bị cơ sở vật
chất phục vụ dạy học và nghiên cứu đến nâng cao trình độ của đội ngũ giảng viên (GV), đẩy
mạnh nghiên cứu khoa học, hoàn thiện công tác kiểm tra, đánh giá v.v…
Kiểm tra đánh giá là khâu cuối cùng của mỗi quá trình giáo dục nhưng đóng vai trò
hết sức quan trọng, đánh giá giúp ta biết kết quả của cả quá trình đã thực hiện, từ đó mới có
thể rút ra những nhận xét, đánh giá nhận định phù hợp, thấy được những điểm tốt và những
động thăm dò diễn ra. Bản chất của hoạt động này chính là đánh giá hoạt động giảng dạy
của giảng viên, tuy nhiên để tránh gây tâm lý e ngại cho giảng viên và sinh viên khi tham
3
gia hoạt động này, nhà trường tránh sử dụng cụm từ “sinh viên đánh giá giảng viên”, đây
cũng là cách làm mà nhiều trường đại học trên thế giới đã áp dụng. Số liệu khảo sát được
thu thập chủ yếu từ 2 nguồn: nguồn thứ nhất là từ sinh viên ( sử dụng phiếu số 1) được thu
thập chủ yếu từ sinh viên năm 2, năm 3 bởi vì những sinh viên này đã được thăm dò ý kiến
ít nhất 1 lần ở những học kỳ trước đó; nguồn từ giảng viên (phiếu số 2).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Việc thăm dò mức hài lòng của sinh viên về học phần được triển khai ở trường CĐSP
TT Huế đã tác động như thế nào đến hoạt động giảng dạy của giảng viên?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu:
Giả thuyết 1: Giảng viên thực hiện giờ giấc lên lớp và chuẩn bị giáo trình
tài liệu tham khảo tốt hơn trước đây.
Giả thuyết 2: Giảng viên tích cực thay đổi hoạt động giảng dạy trên lớp hơn sau
khi nhà trường tổ chức thăm dò sinh viên về HĐGD.
Giả thuyết 3: GV tích cực thay đổi phương pháp kiểm tra đánh giá sau khi nhà
trường tổ chức thăm dò sinh viên về HĐGD.
6. Đối tƣợng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu
a. Khách thể nghiên cứu:
- Người học: SV các khoá K31, K32 đang học tại trường.
- Các giảng viên trực tiếp giảng dạy các học phần được đánh giá
- Tổ trưởng chuyên môn, Ban chủ nhiệm khoa.
b. Đối tượng nghiên cứu:
b. Phương pháp phân tích thông tin
Kết quả khảo sát sẽ được xử lý và phân tích bằng các phần mềm chuyên dụng như:
EXCEL, SPSS, QUEST.
KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm
Đánh giá: có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đánh giá, chúng ta có thể kể đến
một số cách định nghĩa như sau:
Đánh giá là việc thu thập thông tin một cách có hệ thống và đưa ra những nhận định
dựa trên cơ sở các thông tin thu được.
Đánh giá là 1 hoạt động định kỳ của chu trình quản lý, nhằm thu thập và phân tích
các thông tin, tính toán các chỉ số, để đối chiếu xem chương trình / hoạt động có đạt được
mục tiêu, kết quả tương xứng với nguồn lực ( chi phí ) bỏ ra hay không. Thông thường,
đáng giá nhằm phân tích sự phù hợp, hiệu lực, hiệu quả, tác động và tính bền vững của
chương trình.
Đánh giá là một khâu rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu quả, kết quả
của 1 chương trình. Đánh giá càng kỹ và làm càng đúng thì kết quả sẽ càng tốt, càng cao.
Đánh giá cần được làm trước, trong và sau khi triển khai chương trình, phải tiến hành
thường xuyên và có hệ thống.
Đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên là một sự rà soát, thẩm định trình độ
chuyên môn, khả năng sư phạm và ảnh hưởng của giảng viên với sinh viên, với nhà trường
và cộng đồng.
Khi đánh giá hoạt động giảng dạy, người ta thường hỏi ý kiến sinh viên, nói cách khác
là lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về việc giảng dạy của giảng viên. Đây là một trong
đánh giá giảng viên với sự tham gia của sinh viên:
a. Thời kỳ Trung cổ ở châu Âu:
Các trường đại học ở châu Âu dựa vào sinh viên để kiểm tra việc giảng dạy của giảng
viên. Hiệu trưởng chỉ định một hội đồng sinh viên, Hội đồng này có nhiệm vụ giám sát việc
giảng dạy của giảng viên và báo cáo với Hiệu trưởng (Rashdall, 1936 và Centra, 1993).
b. Thời kỳ Thực dân
Vào thời điểm cuối năm học, đại diện Hội đồng quản trị và Hiệu trưởng đã dự giờ
quan sát việc giảng viên đặt câu hỏi kiểm tra kiến thức cả năm học của sinh viên. Tuy nhiên,
việc dự giờ này cũng không thể đánh giá được kiến thức sinh viên tích luỹ được trong một
năm học và cũng không thể đánh giá được hiệu quả giảng dạy của giảng viên vì theo nghiên
cứu của Smallwood (trích dẫn Rudolph, trang 146,1977) các giảng viên thường chỉ hỏi các
câu hỏi dễ hoặc các câu hỏi mang tính gợi ý để sinh viên dễ dàng trả lời (Centra, trang 22,
1993).
c. Thời kỳ đánh giá hiện đại,
Bắt đầu từ năm 1925, được chia thành 4 giai đoạn:
Thời kỳ từ 1925 đến 1960: Công bố Bảng đánh giá chuẩn đã được kiểm nghiệm
dùng cho sinh viên đánh giá giảng viên do Herman Remmers và đồng nghiệp công bố vào
năm 1927 tại Đại học Purdue.
Thời kỳ những năm 1960: giảng viên các trường đại học và cao đẳng đã nhận thức
rõ mục đích và ý nghĩa của các Bảng đánh giá giảng dạy và đã chấp nhận sử dụng. Bảng
đánh giá chuẩn nhằm mục đích điều chỉnh việc giảng dạy của giảng viên [1, 181].
Thời kỳ những năm 1970: Bảng đánh giá chuẩn được sử dụng một cách rộng rãi.
Theo nghiên cứu của Central (1979), vào cuối thập kỷ 70 hầu hết các trường đại học ở Châu
Âu và ở Hoa kỳ đã sử dụng 3 phương pháp đánh giá hiệu quả giảng dạy đó là: đồng nghiệp
đánh giá, Chủ nhiệm khoa đánh giá và sinh viên đánh giá, trong đó các thông tin từ Bảng
đánh giá của sinh viên được công nhận là quan trọng nhất.
Thời kỳ những năm 1980 đến nay: 4 phương pháp sử dụng để đánh giá: sinh viên
đánh giá, đồng nghiệp đánh giá, chủ nhiệm khoa đánh giá và bảng tự đánh giá của giảng
viên. Tuy nhiên, qua kết quả phân tích thống kê, các nhà nghiên cứu cũng đã kết luận các hệ
số tương quan giữa sinh viên đánh giá, đồng nghiệp đánh giá, Chủ nhiệm khoa đánh giá đạt
Khoa thực hiện thường xuyên, cuối mỗi học kỳ Ban chủ nhiệm các khoa sẽ chỉ đạo Thư ký
khoa đi phát phiếu cho sinh viên của các lớp đã được lựa chọn, có thể chọn một vài giảng
viên để đánh giá hoặc chọn đánh giá tất cả các giảng viên tham gia giảng dạy trong học kỳ
đó.
Kết quả khảo sát thu được sẽ do Thư ký khoa tổng hợp lại sau đó báo cáo cho Ban
chủ nhiệm khoa, Ban chủ nhiệm khoa căn cứ vào số liệu và các ý kiến phản hồi (nếu có) thu
được để đưa ra các nhận xét đánh giá về tình hình dạy học của các giáo viên trong khoa.
Nếu giáo viên nào bị sinh viên phàn nàn nhiều thì Ban chủ nhiệm khoa và tổ chuyên môn sẽ
làm việc trực tiếp để làm rõ thêm tình hình giảng dạy của giảng viên đó và có biện pháp
khắc phục.
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Việc thăm dò mức hài lòng của sinh viên về học phần đƣợc triển khai ở trƣờng
CĐSP TT Huế đã tác động nhƣ thế nào đến hoạt động giảng dạy của giảng viên?
2.2.2 Mô hình nghiên cứu 7
bớt là 807 phiếu.
b. Số liệu khảo sát giảng viên:
Với sự giúp đỡ của các thư ký khoa, chúng tôi đã tiến hành phát phiếu cho từng giảng
viên, khi giảng viên lên khoa làm việc thư ký khoa sẽ phát phiếu thăm dò và nhận lại ngay
tại đó sau khi giảng viên đánh giá xong. Số lượng giảng viên khảo sát được mô tả ở bảng
dưới đây. Kết quả khảo sát được 95 giảng viên trên tổng sô khoảng 107 giảng viên trong
toàn trường.
2.2.6 Xây dựng phiếu khảo sát
a. Phiếu hỏi dùng cho sinh viên (Phiếu số 1): gồm 15 câu hỏi được chia thành 3 nhóm
nhân tố. Nhân tố 1 gồm 3 câu hỏi đầu tiên nội dung đề cập đến việc đảm bảo giờ
giấc và chuẩn bị tài liệu tham khảo. Nhân tố 2 đề cập đến các hoạt động dạy học trên
lớp của giảng viên. Nhân tố 3 nói về công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
CÔNG TÁC
ĐÁNH GIÁ GV
HOẠT ĐỘNG
GIẢNG DẠY
Việc đảm bảo giờ giấc và giới
thiệu đề cương chi tiết HP
Hoạt động giảng dạy trên lớp
Hoạt động kiểm tra đánh giá
môn học
8
b. Phiếu dùng cho giảng viên (Phiếu số 2):
Đối với phiếu khảo sát dành cho giảng viên tự đánh giá, cũng tiến hành nghiên cứu
tương tự như phiếu đánh giá của sinh viên, dựa trên các biến có trong bảng hỏi dành cho
sinh viên thay đổi câu từ để phù hợp với đối tượng giảng viên. Kết quả bảng hỏi thu được
gồm có 15 câu chia thành 3 nhân tố như trên. Chi tiết bảng hỏi xem trong phụ lục 2.
2.2.7 Đánh giá công cụ
a. Đánh giá phiếu khảo sát sinh viên (Phiếu số 1)
giá) có hệ số tin cậy lần lượt là 0.864 và 0.726 đều lớn hơn nhiều so với 0.3. Vì vậy có thể kết
luận cả 2 nhân tố này đều có độ tin cậy và có thể đưa vào để phân tích kết quả. Hệ số tương
quan của các câu hỏi so với toàn bộ các câu hỏi trong nhân tố từ 0.368 đến 0.520 đều lớn hơn
0.3 vì vậy các câu hỏi trong nhân tố 2 đều có độ tương quan tốt. Nhân tố 3: có độ tương quan
của các câu hỏi từ 0.435 đến 0.658, độ tương quan này cao hơn so với nhân tố 1 nhưng thấp
hơn nhân tố 2. Tuy nhiên độ tương quan này đều tốt để đưa vào sử dụng.
b. Đánh giá phiếu khảo sát giảng viên (Phiếu số 2)
Sau khi tiến hành phát phiếu và thu phiếu khảo sát đối với giảng viên như mô tả ở trên.
Tiến hành phân tích kết quả ta thu được số liệu về giảng viên như sau:
Về hệ số tin cậy của bảng hỏi Cronbach’s Alpha của phiếu số 2 đạt đươc 0.914, đây là
giá trị rất cao về độ tin cậy do đó ta có thể yên tâm sử dụng kết quả khảo sát này để phân tích.
9
Hệ số tương quan của các câu hỏi đối với toàn bảng hỏi đều lớn hơn 0.3, ngoài ra ta
thấy có nhiều câu hỏi có hệ số này khá cao như câu 7, câu 8, câu 13 chứng tỏ giữa các câu hỏi
với toàn bảng hỏi có độ tương quan tốt.
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
3.1 Kết quả khảo sát sinh viên (Phiếu số 1)
Như đã mô tả ở trên khi tiến hành khảo sát ý kiến của sinh viên, số phiếu lại được là
1002 phiếu, trong đó có 807 phiếu hợp lệ được sử dụng để phân tích, đánh giá, còn lại 195
phiếu bị loại do sinh viên khảo sát trả lời qua quýt, không phản ảnh đúng tình hình thực tế,
807 phiếu còn lại là đạt yêu cầu để đưa vào phân tích kết quả.
Qua thống kê số liệu ta thấy có 2 phương án là Kém hơn nhiều và Kém hơn chỉ có
3.42 % lựa chọn; Đa phần sinh viên cho rằng hoạt động giảng dạy của giảng viên đã tốt hơn
so với trước đây khi chưa có hoạt động thăm dò ý kiến sinh viên. Cụ thể mức Tốt hơn
(chiếm 41.67%) và Tốt hơn nhiều (45.18%). Còn lại 9.73% sinh viên cho rằng không có sự
thay đổi trong các hoạt động của giảng viên.
Phân tích giá trị trung bình và phƣơng sai của phiếu số 1
Giá trị trung bình của toàn bộ mẫu khảo sát là 4.275; Phương sai là 0.626. Câu hỏi có
động giảng dạy, tức là hoạt động giảng dạy của giảng viên trường CĐSP TT Huế có tốt hơn
so với trước khi có hoạt động thăm dò ý kiến giảng viên về học phần thông qua ý kiến đánh
giá của sinh viên nhà trường.
10
Sau khi phân tích dữ liệu đối với toàn phiếu hỏi, để chứng minh các giả thiết nghiên
cứu ta tiếp tục đi sâu phân tích theo từng nhân tố của bảng hỏi.
3.1.1 Phân tích Nhân tố 1 ( Việc bảo đảm giờ giấc và chuẩn bị giáo trình, TLTK) – Kiểm
định giả thuyết H1.
Qua phân tích, ta có được giá trị trung bình chung của nhân tố này là 4.376 (>4) còn
phương sai là 0.561. Như vậy đối với nhân tố này, sinh viên đánh giá khá cao về giảng viên
của họ.
Đối với từng câu hỏi trong bảng hỏi, giá trị trung bình và phương sai của 3 câu hỏi
trong nhân tố 1 được thể hiện trong bảng 3.5
Căn cứ vào bảng 3.5 ta thấy rằng có sự chuyển biến rõ rệt về vấn đề đảm bảo giờ giấc
lên lớp của giảng viên tiêu chí này được sinh viên đánh giá cao nhất đạt 4.54, câu hỏi 2 về
thực hiện tiến độ giảng dạy của giảng viên cũng được đánh giá cao 4.39, câu hỏi 3 về giới
thiệu danh mục giáo trình, tài liệu tham khảo cũng được giảng viên thực hiện tốt đạt 4.20.
Như vậy tất cả 3 tiêu chí trên được đánh giá ở mức tốt.
Tiếp theo, tiến hành kiểm định T-test để kiểm tra xem giá trị trung bình của từng câu
hỏi trong nhân tố 1 có đúng là lơn 3 hay không. Với mức ý nghĩa đặt ra là 99% ta thấy giá
trị sig. thu được đều là 0.0001 nhỏ hơn nhiều so với 0.001.
Vậy ta kết giá trị trung bình của 3 câu hỏi trong nhân tố 1 là khác 3, kết hợp với giá
trị cụ thể trong bảng 3.5 ta có kết luận cuối cùng là cả 3 câu hỏi này đều lớn hơn 3 tức là 3
tiêu chí này đều được đánh giá tốt hơn so với trước đậy.
Vậy ta kết luận giả thuyết H1 đặt ra là đúng.
3.1.2 Phân tích Nhân tố 2 (Hoạt động trên lớp của GV)
Nhân tố 2 gồm 8 câu hỏi từ 4 đến 11 có nội dung liên quan đến các hoạt động giảng
dạy trên lớp của giảng viên. Đây là nhân tố quan trọng và có nhiều câu hỏi nhất trong 3
nhân tố của bảng hỏi. Như đã phân tích ở chương 2 độ tin cậy của cả nhân tố này đạt rất cao
trong 95 giảng viên cơ hữu của nhà trường về tình hình hoạt động giảng dạy của giảng viên
nói chung trong nhà trường, các giảng viên được khảo sát phân bố ở 6 khoa khác nhau trong
nhà trường. Qua phân tích số liệu thu thập được từ phiếu đánh giá giảng viên (Phiếu số 2 –
xem phụ lục 2), ta thu được kết quả như sau:
Giá trị trung bình chung của tất cả các phiếu hỏi là 4.066 (lớn hơn 4) tức là nhìn
chung giảng viên trong nhà trường cho rằng hoạt động của giảng viên là tốt hơn sau khi nhà
trường tiến hành thăm dò ý kiến sinh viên về hoạt động giảng dạy. Chi tiết được trình bày
trong phần phụ lục 4.
Giá trị trung bình của câu hỏi trong phiếu hỏi có giá trị từ 3.53 đến 4.46 đều lớn hơn
mức 3 (ứng với lựa chọn còn phân vân), trong đó có 9 câu có giá trị trung bình lớn hơn 4; 6
câu còn lại có giá trị trung bình nhỏ hơn 4.
Kiểm định T-test để kiểm tra xem giá trị trung bình của các câu hỏi trong phiếu số 2
có thật sự lớn hơn 3 hay không. Kết quả kiểm định ta thu được số liệu như sau:
Với mức ý nghĩa 99%, giá trị cần so sánh là 3, từ kết quả ở phụ lục 5 ta thấy rằng các
trị số sig. (p-value) đều bằng 0.001 < 0.01 vì vậy ta có thể kết luận rằng bản thân các giảng
viên tự đánh rằng có sự thay đổi tốt hơn trong hoạt động giảng dạy sau khi nhà trường tiến
hanh hoạt động đánh giá giảng viên.
KẾT LUẬN
Qua kết quả nghiên cứu hoạt động thăm dò mức hài lòng của sinh viên về hoạt động
giảng của giảng viên ở trường CĐSP TT Huế giai đoạn 2008-2010, có thể rút ra một số kết
luận như sau về tác động của hoạt động nói trên và công tác đánh giá hoạt động này:
Đề tài đã sử dụng bộ thang đo gồm phiếu số 1 và phiếu số 2 hoàn toàn đủ độ tin cậy
để khảo sát đánh giá.
Mẫu tiến hành đánh giá khá lớn và trải đều trên tổng thể đánh giá, cho nên có hoàn
toàn mang tính đại diện khi phân tích, nhận định cho tổng thể.
Thông qua đánh giá của sinh viên
Giảng viên của Trường Cao đẳng sư pham Thừa Thiên Huế đã có sự thay đổi tích
cực hơn trong công tác giảng dạy của mình, đa phần ý kiến đánh giá của sinh viên đều cho
rằng hoạt động của giảng dạy của giảng viên đã tốt hơn hoặc tốt hơn rất nhiều (chiếm