VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
NGHIÊN CỨU BIỂU HIỆN GEN GP5 CỦA VIRUS GÂY
HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ HÔ HẤP Ở LỢN
(PRRS) TRÊN TẾ BÀO THUỐC LÁ VÀ HẠT ĐẬU TƯƠNG
Chuyên ngành: Di truyền học
Mã số: 62 42 01 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
ii
HÀ NỘI – 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của tôi và một số kết quả cùng cộng tác với các
cộng sự khác;
Các số liệu và kết quả trình bày trong luận án này là trung thực, một phần đã
công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành với sự đồng ý và cho phép của các
đồng tác giả;
Phần còn lại chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 19 tháng 8 năm 2016
Tác giả
EDTA
E. coli
ELISA
HRP
HSE
HSP
GA3
GFP
GM
gus
IAA
IBA
kb
kDa
LB
MS
NAA
nptII
NSP
OD
PCR
PPT
PRRSV
RM
Rpm
scFv
Acetosyrigone
6-benzyladenine purin
Môi trường cơ bản theo Gamborg (1968)
revolutions per minute, vòng/phút
Single-chain variable fragment
iv
SDS-PAGE
SDS
SIM
SEM
Taq
T-ADN
Ti- plasmid
T0, T1
T0
T1
Sodium dodecyl sulfate polyacrylamide gel electrophoresis
Sodium dodecylsulfat
Môi trường tạo chồi
Môi trường kéo dài chồi
Thermus Aquaticus
Vùng ADN plasmid chuyển vào thực vật
Plasmid tạo khối u
Các thế hệ cây chuyển gen
Cây chuyển gen tái sinh từ chồi
Hạt của cây chuyển gen T0 nảy mầm thành cây T1
Vir
v/p
vvp
DANH MỤC HÌNH
Bảng 1.1. Một số vaccine PRRS thế hệ mới...................................................................12
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN KHÁNG NGUYÊN TÁI TỔ HỢP TRONG THỰC
VẬT PHÒNG CHỐNG PRRS............................................................................................27
1.3.3.Tình hình nghiên cứu phát triển kháng nguyên tái tổ hợp trong thực vật phòng
chống PRRS..................................................................................................................31
Bảng 1.2. Các nghiên cứu biểu hiện gen của virus PRRS ở thực vật...............................32
2.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.......................................................................39
3.2.4. Nghiên cứu tạo cây đậu tương chuyển gen biểu hiện GP5..................................97
3.2.4.2. Phân tích sự có mặt của gen chuyển ở các dòng đậu tương chuyển gen..........99
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ....................................................121
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ..........................................................................................121
SUMMARY..................................................................................................................122
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine Reproductive and
Respiratory Syndrome, PRRS) hay còn được gọi là bệnh lợn tai xanh là một bệnh
truyền nhiễm nguy hiểm, gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi lợn trên khắp
thế giới. Bệnh gây ra bởi virus PRRS. Ở Việt Nam, virus PRRS được phát hiện lần
đầu tiên, ở thể kinh điển, vào năm 1997 trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào phía Nam.
Virus thể độc lực cao được phát hiện vào đầu năm 2007 tại Hải Dương, sau lây lan
khắp cả nước, gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi nước nhà.
Với những nỗ lực kết hợp các biên pháp phòng chống và tiêm phòng
vaccine, dịch bệnh lợn tai xanh tại Việt Nam đã giảm đi đáng kể. Tuy vậy, dịch
bệnh vẫn còn xảy ra lẻ tẻ, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch trong tương lai. Nhiều
loại vaccine thương mại hiện được sử dụng, chủ yếu là các vaccine truyền thống
trong thực vật sử dụng qua đường miệng trên động vật thí nghiệm.
3. Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1. Nghiên cứu biểu hiện kháng nguyên GP5 của virus PRRS trong
hệ thống tế bào thuốc lá BY-2 nuôi cấy huyền phù:
- Tối ưu điều kiện nuôi cấy tế bào thuốc lá BY-2 quy mô phòng thí nghiệm.
- Thiết kế vector biểu hiện ổn định GP5 dựa trên virus thực vật TMV dưới sự
điều khiển của promoter cảm ứng nhiệt HSP 18.2.
- Tạo dòng tế bào thuốc lá BY-2 chuyển gen biểu hiện GP5.
- Đánh giá sơ bộ tính sinh miễn dịch của protein tái tổ hợp GP5 trên động vật
thí nghiệm.
Nội dung 2. Nghiên cứu biểu hiện kháng nguyên GP5 của virus PRRS đặc
hiệu trong hạt đậu tương.
- Đánh giá khả năng tái sinh đa chồi của một số giống đậu tương Việt Nam,
tạo nguyên liệu in vitro phục vụ chuyển gen.
- Thiết kế vector biểu hiện GP5 dưới sự điều khiển của promoter đặc hiệu ở
hạt β-phaseolin.
- Biển hiện gen GP5 trong cây mô hình.
- Tạo cây đậu tương chuyển gen mang gen GP5.
3
4. Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã thiết kế thành công 2 hệ vector tăng cường biểu hiện gen GP5
trên tế bào thuốc lá BY-2 và hạt đậu tương là pHsp-TMV-LTB-GP5 và pDestphaso-LTB-GP5, mức độ biểu hiện của gen đích có thể đạt tới 3,4% hàm lượng
protein hoà tan tổng số;
- Protein tái tổ hợp GP5 thụ nhận được từ nghiên cứu của luận án đã có khả
năng kích thích tạo kháng thể đặc hiệu ở lợn.
5. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
5.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài bổ sung bằng chứng khoa học về tiềm năng của việc sản xuất các
1.1.1. Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine reproductive and
respiratory syndrome - PRRS) (còn gọi là bệnh lợn tai xanh) là một bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm ở lợn (kể cả lợn rừng). Biểu hiện đặc trưng của lợn bệnh là bị các
rối loạn về sinh sản ở lợn nái như sảy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết yểu hoặc
viêm đường hô hấp rất nặng, tỉ lệ chết cao ở lợn con theo mẹ và lợn nái hậu.
Bệnh PRRS lần đầu tiên được phát hiện ở Hà Lan vào năm 1986, sau đó là ở
Mỹ năm 1987 rồi nhanh chóng lan rộng ra nhiều nước chăn nuôi lợn trên thế giới như
Canada (1988); Đức (1990); Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Anh (1991), Pháp (1992)...
(Rossow KD, 1998). Lúc đầu, do chưa xác định được căn nguyên bệnh nên được gọi
là “bệnh bí hiểm ở lợn” (mistery swine disease – MSD). Sau khi lan rộng trên toàn
thế giới, bệnh được gọi bằng nhiều tên như hội chứng hô hấp và sinh sản của lợn
(Swine Infertility and Respiratory Syndrome – SIRS), hội chứng hô hấp và sảy thai ở
lợn (Porcine Endemic Abortion and Respiratory Syndrome – PEARS), hội chứng hô
hấp và sinh sản lợn (PRRS), bệnh tai xanh (Blue ears)... Năm 1991, lần đầu tiên
nguyên nhân gây bệnh “bí hiểm” đã được Wensvoort và cs thuộc Viện Thú y
Trung ương - Lelystad - Hà Lan phân lập được trên tế bào đại thực bào phế
nang của lợn, là một loại virus ARN và đặt tên là virus Lelystad-LV . Năm
1992, Collins và cộng sự cũng báo cáo về việc phân lập được virus gây bệnh
với tên gọi là VR-2332 để chỉ các chủng phân lập ở Bắc Mỹ. Hội nghị quốc tế
về bệnh này được tổ chức cũng vào năm 1992, tại St. Paul, Minnesota đã thống nhất
tên bệnh là hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn, được tổ chức Thú y thế giới
(OIE) công nhận. Từ đây, virus gây bệnh được gọi phổ biến trên thế giới là virus
PRRS (Rossow KD, 1998).
Tại Trung Quốc, PRRS xuất hiện từ những năm 1995, gây chết hàng loạt con
5
lợn. Năm 2006, PRRS lại hoành hành tại đây trong vòng 3 tháng, làm trên 2 triệu lợn
6
thấy, virus PRRS tại Việt Nam thuộc thể độc lực cao, chủng Bắc Mỹ. Cấu trúc gen
vùng NSP2 được phát hiện có sự thiếu hụt không liên tiếp về axit amin tại các vị trí
481 và từ 532 - 560. Tất cả các mẫu virus PRRS của Việt Nam đều có mức tương
đồng cao so với virus PRRS chủng độc lực cao của Trung Quốc (99,0-99,7%). Nếu
như cả năm 2007, toàn quốc có 18 tỉnh, thành phố có dịch với 70 577 con lợn mắc
bệnh thì đến năm 2010, dịch đã lan trên 49 tỉnh thành với 833 641 con lợn mắc
bệnh, trong đó chết và tiêu hủy 457 708 con (Cục Thú y, 2010). Dịch có xu hướng
giảm năm 2011 nhưng lại tiếp tục gia tăng vào năm 2012. Từ tháng 7/2013 đến
tháng 09/2015, cả nước đã kiểm soát thành công dịch tai xanh. Tuy nhiên, từ đầu
tháng 10/2015 đến nay cả nước đã xuất hiện 19 ổ dịch tai xanh tại 11 huyện của 06
tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng và Cần Thơ. Tổng số lợn
mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 1 228 con (Phòng Dịch tễ, Cục Thú y, 2016). Nhìn
chung, bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp bởi đặc tính sinh miễn dịch khác lạ của
virus PRRS và việc vẫn còn tồn tại virus trong những đàn lợn lành bệnh lâm sàng
cho thấy nguy cơ lớn từ bệnh này vẫn còn tiếp tục trong thời gian tới.
1.1.2. Virus PRRS
1.1.2.1. Đặc điểm hình thái và phân loại
Virus PRRS (Porcine reproductive and respiratory syndrome virus) là virus
ARN sợi đơn, dương. có vỏ bao bọc, thuộc chi Arterivirus, họ Arteriviridae, bộ
Nidovirales (Ansari IH, 2006).
Dựa trên đặc điểm sinh học và phân tích kiểu gen, virus PRRS được chia làm
hai nhóm lớn, nhóm I gồm các virus có nguồn gốc ở châu Âu (đại diện tương ứng là
chủng Lelystad - LV), nhóm II gồm các virus có nguồn gốc Bắc Mỹ (đại diện tương
ứng là chủng VR2332) với nhiều phân nhóm đã được xác định. Mặc dù, hai nhóm
xuất hiện gần như đồng thời và gây ra các dấu hiệu lâm sàng gần giống nhau song
mức độ tương đồng về cấu trúc chuỗi nucleotide của hai nhóm chỉ vào khoảng 5060% (Fang Y, 2007). Hiện nay, cả hai nhóm virus này vẫn lưu hành rộng khắp trên
toàn cầu. Báo cáo về mặt di truyền cho thấy, virus PRRS rất đa dạng và biến đổi hàng
năm. Bản thân các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về chuỗi
8
ORF1a và ORF1b mã hóa cho các protein chức năng như Serine protease,
helicase, polymerase. Bảy khung đọc mở ORF2a, 2b, 3-7 mã hóa cho các protein
cấu trúc GP3, E, GP3, GP4, GP5, M và N (Fang Y & Snijder EJ, 2010).
Các phân tử glycoprotein nhỏ GP2, GP3, GP4 và protein E tương tác với nhau
để tạo thành một cấu trúc heterotetrameric phức tạp trong các tế bào bị nhiễm. Việc
hình thành phức hợp này là cần thiết trong việc truyền nhiễm của virion (Das PB,
2011; Wissink E, 2005). GP2 được mã hóa bởi ORF2a, có kích thước khoảng 29-30
kilodalton (kDa), mang trình tự tín hiệu N-terminal và cấu trúc neo màng ở đầu C.
GP2 có chứa 2 điểm N-glycosyl hóa (Meulenberg JIM, 1995). Ở nhóm Bắc Mỹ, vị
trí N-glycosyl hóa nằm ở các vị trí N178 và N184. Vị trí glycosyl hóa có vai trò
quan trong trong việc truyền nhiễm của virus, ít nhất một trong hai vị trí là điểm
tương tác với receptor CD163 (Das PB, 2011).
Protein E có kích thước nhỏ khoảng 10 kDa, có mặt ở tất cả các
Arteriviruses. Protein E chứa một miền kị nước ở trung tâm. Protein E chứa vị trí
N-terminal N-myristoylation và vị trí casein kinase II phosphoryl hóa tiềm năng
Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy protein E hình thành homo-oligomers bởi
tương tác không cộng hóa trị trong vỏ virus hoạt động như một kênh vận chuyển
ion (Lee C & Yoo D, 2006).
Glycoprotein GP3 có kích thước dao động 45-50 kDa, là một trong những
protein biến đổi nhất của virus PRRS, mức độ tương đồng acid amin giữa 2 nhóm
châu Âu và Bắc Mỹ chỉ vào khoảng 54-60%. GP3 là protein glycosyl hóa cao, chứa
bảy vị trí N-oligosaccharides liên kết. Các khu vực biến đổi nhất của GP3 nằm ở 35
axit amin đầu tiên, điểm biến đổi cao nhất được cho là trình tự peptide tín hiệu dẫn
tới ER với mức độ tương đồng chỉ đạt 29% giữa 2 nhóm châu Âu và Bắc Mỹ
(Mardassi H, 1995).
Glycoprotein GP4 có trọng lượng phân tử vào khoảng 31-35 kDa. GP4 chứa tín
hiệu peptide dẫn tới ER. GP4 có chứa epitope có khả năng kích thích kháng thể trung
hòa yếu bào. GP4 có vai trò trong quá trình tái bản của virus, có khả năng sử dụng hoặc
thay đổi cấu trúc của tế bào chủ để vận chuyển virus hoặc thành phần tế bào đến bề mặt
nhất. Hiện nay, trên thế giới đã có hơn 20 loại vaccine thương mại phòng bệnh lợn
10
tai xanh. Các vaccine được chế từ các chủng virus dòng châu Âu và dòng Bắc Mỹ
dưới dạng vaccine truyền thống là vaccine sống - nhược độc (modified-live virus
vaccine -MLV) và vaccine vô hoạt (killed vaccine - KV).
1.1.3.1. Vaccine truyền thống
Hầu hết các vaccine sống - nhược độc (MLV) thương mại được sản xuất
trên các dòng tế bào động vật và được cấy chuyển nhiều lần dưới áp lực
chọn lọc cho tới khi chủng vaccine bị mất độc lực. Hầu hết các dòng tế
bào động vật sử dụng bắt nguồn từ dòng tế bào thận khỉ MA-104, là
những dòng tế bào liên tục đáp ứng cho sự nhân lên của virus PRRS.
Tuy nhiên, các dòng tế bào khác, ví dụ như, MARC-Complimentary cells
(Welch S, 2004), các tế bào PK, FK, và BHK biểu hiện CD163, PK-15 với
CD163, tế bào SJPL, bạch cầu đơn nhân lợn và ZMAC cũng được phát triển
và sử dụng để nuôi cấy và phân lập virus PRRS cho việc sản xuất vaccine
(Renukaradhya GJ, 2015).
Các vaccine nhược độc hiện được cấp phép lưu hành rộng rãi trên thế giới và
tùy vào dịch bệnh trong từng nước để sử dụng vaccine được chế từ các chủng virus
dòng châu Âu (như Porcilis PRRS (từ DV; Merck), Amervac-PRRS (từ VP046;
Hipra), Pyrsvac-183 (từ All-183; Syva)) hay dòng Bắc Mỹ (như Ingelvac PRRS
MLV; ReproCyc PRRS-PLE (cả hai đều của VR-2332; Boehringer Ingelheim),
Ingel-vac PRRS ATP (từ JA-142; Boehringer Ingelheim), JXA1-R (chủng JXA1-
R, thể độc lực cao của Trung Quốc) hoặc cả hai dòng này. Mới đây, Việt Nam lần
đầu tiên đã sản xuất thành công vaccine nhược độc phòng bệnh lợn tai xanh từ
chủng virus PRRS Hanvet1.VN gây bệnh ở Việt Nam.
Các vaccine nhược độc tạo ra mức bảo vệ tốt đối với các chủng tương đồng
nhưng vẫn tồn tại một số quan ngại như phản ứng bảo vệ tương đối chậm, thường
virus, có khả năng bảo vệ tốt cũng như khắc phục được các hạn chế mà các vaccine
hiện hành là cần thiết. Nhiều hướng nghiên cứu phát triển vaccine đã và đang tiếp
tục như cải tiến công nghệ trong sản xuất vaccine truyền thống như bổ sung tá chất,
phương pháp vô hoạt, sử dụng các hạt nano... Hay phát triển các vaccine mới như
vaccine ADN, vector tái tổ hợp biểu hiện protein của virus, vaccine thực vật.
12
Bảng 1.1. Một số vaccine PRRS thế hệ mới
(Nguồn: Wasin Charerntantanakul, 2012)
Vaccine
ORF/GP
Miễn dịch
Bảo vệ
Kháng thể CMI
Tham khảo
Chủng
tương
đồng
Chủng
không
tương đồng
Barfoed, 2004
ND
ND
PRV vector vaccine
GP5,M
+
+
+
ND
Poxvirus vector
GP3,5,M
+
+
+
ND
TGEV vector
-
+
ND
Bastos, 2004
Biểu hiện ở côn trùng ORF 3,5,7
+
ND
+
ND
Plana Duran, 1997
Vaccine thực vật
+
+
ND
ND
13
Để tăng cường đáp ứng miễn dịch của vật chủ đối với kháng nguyên của virus
PRRS, các vector tái tổ hợp biểu hiện các protein của virus được gắn với các protein
khác nhau hoặc cùng biểu hiện nhiều protein của virus cùng một lúc. Chuột tiêm
GP5 và M biểu hiện từ vector replication-defective adenovirus có hàm lượng kháng
thể trung hòa cao hơn đáng kể so với chuột chỉ được tiêm vector biểu hiện GP5
hoặc M riêng rẽ (Jiang W, 2006). Fowlpox virus tái tổ hợp đồng biểu hiện GP5 và
GP3 cũng cho làm chuột được tiêm giảm sốt và số lượng virus trong các tế bào phổi
thấp hơn so với đối chứng (Shen G, 2007). Tổ hợp GP3-GP5 hoặc GP3-GP4-GP5
cũng đồng thời tăng cường miễn dịch thể và tế bào (Jiang W, 2008). Tuy nhiên, hạn
chế về thời gian và mức độ miễn dịch, khả năng bảo vệ hiện là những hạn chế của
vaccine tiểu đơn vị biểu hiện ở baculovirus.
Vaccine ADN chống lại PRRSV là một dạng được quan tâm nghiên cứu xem
như là một vaccine an toàn hơn. Li và cs (2009) đã sử dụng gen mã hóa cho protein
GP5 và sử dụng S. typhimurium nhược độc như là hệ thống mang vaccine ADN
chứa ORF 5 qua đường miệng. Kết quả cho thấy lượng kháng thể trung hòa trong
huyết thanh của chuột tương đương như trong chuột được tiêm với plasmid ADN
mang ORF 5. Vaccine ADN dựa trên GP5 bị đột biến ở đầu N-glycosylation hoặc
đồng biểu hiện với các protein chức năng khác cũng cho thấy làm tăng miễn dịch
của các vaccine ADN (Li G, 2009). Chia và cs (2010) sử dụng gen mã hóa GP5 và
M đồng thời kết hợp với đoạn axit amin mã hóa cho glycine-proline-glycine-proline
(GPGP) nhằm tạo mối liên kết giúp ổn định cấu trúc bậc ba. Với ba cấu trúc:
plasmid ADN mã hóa đồng thời protein GP5/M không có GPGP liên kết (pcADN56), plasmid ADN mã hóa GP5/M được gắn kết bởi một mối liên kết GPGP
(pcADN-5L6), và plasmid ADN mã hóa M /GP5 protein phản ứng tổng hợp liên
hợp bởi một GPGP là mối liên kết (pcADN-6L5) sử dụng như một vaccine ADN.
Kết quả cho thấy, cả ba cấu trúc đều có khả năng kích thích sinh ra kháng thể. Sau
khi thử thách với virus PRRS, lợn được tiêm chủng với cấu trúc pcADN-5L6 và
pcADN-6L5 có virus trong máu ở mức độ thấp hơn và thời gian ngắn hơn và lượng
virus trong mô cũng thấp hơn so với lợn được tiêm chủng với pcADN-56. Điều này
nhược điểm chính ở một số hệ thống biểu hiện nổi bật được sử dụng trong hướng
nghiên cứu làm vaccine thực vật sau.
15
1.2.1.1. Cây trồng cho lá
Những nghiên cứu thăm dò để tạo ra các cây chuyển gen ổn định biểu hiện
protein tái tổ hợp thường được tiến hành trên các cây mô hình như Arabidopsis
thaliana và thuốc lá. Quy trình chuyển gen ở Arabidopsis đã được thiết lập và có
thể dễ dàng tiến hành. Tuy nhiên, Arabidopsis khó có thể trở thành hệ thống sản
xuất thương mại vì có sinh khối thấp (Fischer R, 2004). Trong khí đó, thuốc lá sản
xuất sinh khối khá cao và không phải là cây thực phẩm, vì thế không có nguy cơ
chiếm chỗ của các cây cung cấp thực phẩm cho người và động vật (Fischer R,
2004). Tuy nhiên, việc trồng cây thuốc lá chuyển gen ngoài tự nhiên lại đòi hỏi
phải tuân theo pháp luật hiện hành về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi
gen vì thế thời gian có được sẽ kéo dài. Ngoài ra, cây thuốc lá chuyển gen lại
không thể sử dụng trực tiếp mà phải chế biến vì lá thuốc lá chứa hàm lượng
nicotine cao và các alkaloid độc phải loại bỏ trước khi sử dụng qua đường miệng.
Vì thế, việc sử dụng các dòng tế bào thuốc lá nuôi cấy huyền phù, có hàm lượng
alkaloid thấp có thể giảm thiểu các chất có thể gây độc và an toàn hơn trong việc
sản xuất protein tái tổ hợp. Ngoài thuốc lá, các cây trồng cho lá khác như cỏ
alfalfa, cỏ ba lá và rau diếp cũng đã được sử dụng để sản xuất protein tái tổ hợp
(Fischer R, 2004). Lá của các cây này có thể ăn trưc tiếp không cần qua đun nấu
nên rất có lợi trong việc phát triển vaccine cho vật nuôi (Fischer R, 2004). Ngoài
ra, các loại lá này còn chứa hàm lượng protein cao và có năng suất sinh khối trên
một đợn vị diện tích lớn. Cỏ alfalfa có thể được thu hoạch 9 lần/năm. Kiểu biến
đổi sau dịch mã trong cỏ alfalfa khá đồng nhất (Fischer R, 2004). Quá trình Nglycosyl hóa ổn định là một trong những tiêu chí quan trọng cho việc sản xuất
protein làm thuốc vì chức năng sinh học của protein bị ảnh hưởng bởi cấu trúc
glycan gắn tại đầu N. Trong khi đó, N-glycosyl hóa trong cây thuốc lá lại không
đồng nhất (Bardor M, 2003).
tăng chi phí.
1.2.1.3. Cây trồng lấy hạt
Hạt là một hệ thống biểu hiện khác để tổng hợp và dự trữ protein và kháng
nguyên tái tổ hợp và được xem là một hệ thống có nhiều ưu điểm. So với các thực vật
17
dễ bị hỏng như cây cho lá và quả thì hạt có thể cất giữ protein tái tổ hợp đã được sản
xuất trong thời gian dài (Lau O & Sun S, 2009). Hạt thường có hàm lượng nước thấp
khoảng 10% sinh khối, trong khi hàm lượng này của lá là hơn 90% (Boothe J, 2010).
Bên cạnh đó, hạt có hàm lượng protein tương đối cao từ 10% đến 40% trọng lượng
tươi, trong khi ở trong lá lại hầu hết là thấp hơn 5% (Boothe J, 2010). Vì thế, hạt là nơi
có thể thúc đẩy việc việc tích tụ và dự trữ ổn định của protein. Thêm vào đó hoạt tính
của các enzyme phân hủy protein trong hạt thấp, vì thế nguy cơ mất hoạt tính của
protein tái tổ hợp do phân hủy nội bào được giảm đi đáng kể (Fischer R, 2004). Nhiều
nghiên cứu cho thấy rằng kháng thể và kháng nguyên biểu hiện trong hạt có hoạt tính
ổn định trong nhiều năm ở nhiệt độ phòng (Stöger E, 2000). Vì thế, hạt là hệ thống biểu
hiện phù hợp cho tiêu thụ trực tiếp và đặc biệt thích hợp để phát triển vaccine cho vật
nuôi và các động vật khác. Việc trồng, sản xuất, thu hoạch, cất giữ, phân phối và chế
biến hạt ở quy mô công nghiệp đã được thiết lập cho hầu hết các cây trồng phổ biến
(Lau O & Sun S, 2009). Trong đó, nổi bật ở cây họ ngũ cốc (ngô, lúa...) và cây họ đậu.
Đậu Hà lan và đậu tương là hai hệ thống thông dụng nhất để nghiên cứu việc
phát triển trang trại phân tử trong thực vật (Lau O & Sun S, 2009) vì có thể tích tụ
hàm lượng protein cao trong hạt. Hạt đậu tương đã được sử dụng để biểu hiện tiểu
đơn vị B của độc tố đường ruột không bền nhiệt (LTB) của E. coli (Moravec T,
2007). Sau khi cho ăn, các hạt chuyển gen này đã tạo ra được cả miễn dịch dịch thể
và miễn dịch hệ thống ở chuột và giúp chuột chống chịu một phần khi tiến hành
công cường độc. Một trong những ưu thế của cây họ đậu so với cây ngũ cốc là hàm
lượng protein của hạt cao hơn chiếm đến 40% protein tổng số, trong khi ở ngũ cốc
chỉ vào khoảng 8 đến 13% (Stoger E, 2005). Tuy nhiên, quá trình chuyển gen ở cây