BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ DUYÊN
BIỂU TƯỢNG NƯỚC, LỬA
TRONG SÁNG TÁC CỦA
MỘT SỐ NHÀ VĂN NỮ ĐƯƠNG ĐẠI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã ngành: 60220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Lê Quang Hưng
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS Lê Quang Hưng –
người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Ngữ Văn - trường
Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin cảm ơn phòng Sau Đại học, Thư viện trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, Kho tư liệu khoa Ngữ Văn - trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo
điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho tôi nguồn tài liệu quý giá.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều
kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 30 tháng 09 năm 2015
1.1.3. Sự khác biệt giữa biểu tượng với kí hiệu và hình tượng, hình ảnh trong
15
16
21
24
tác phẩm nghệ thuật …………………………………………………..
1.1.4. Một số đặc trưng cơ bản của biểu tượng nghệ thuật …………………
1.1.5. Chức năng của biểu tượng nghệ thuật ………………………………..
1.2. Giới thuyết về biểu tượng nước và lửa ………………………………
1.2.1. Biểu tượng nước ……………………………………………………...
1.2.1.1. Nước và ý nghĩa biểu tượng ………………………………………..
1.2.1.2. Biểu tượng nước trong Văn học Việt Nam ………………………...
1.2.2. Giới thuyết về biểu tượng lửa ………………………………………..
1.2.2.1. Lửa và ý nghĩa biểu tượng …………………………………………
1.2.2.2. Biểu tượng lửa trong văn học Việt Nam …………………………...
CHƯƠNG 2: CÁC HƯỚNG NGHĨA CỦA BIỂU TƯỢNG NƯỚC, LỬA
28
30
32
32
32
34
37
37
39
43
65
2.1.3.2. Mưa – những hiểm họa bất trắc tiềm ẩn trong đời sống …………...
2.2. Biểu tượng lửa trong sáng tác của Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà,
68
71
Nguyễn Ngọc Tư …………………………………………………………...
2.2.1. Lửa gắn với chết chóc ………………………………………………..
2.2.1.1. Lửa – thiêu đốt, hủy diệt …………………………………………...
2.2.1.2. Lửa – oán hận, căm thù …………………………………………….
2.2.1.3. Lửa – dục vọng, cháy bỏng ………………………………………...
2.2.2. Lửa gắn với sự sống…………………………………………………..
2.2.2.1. Lửa – hơi ấm tình yêu ……………………………………………...
2.2.2.2. Lửa – sức mạnh tái sinh, giác ngộ ………………………………….
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG NƯỚC, LỬA
71
71
74
77
79
79
86
90
TRONG SÁNG TÁC CỦA VÕ THỊ HẢO, VÕ THỊ XUÂN HÀ,
NGUYỄN NGỌC TƯ ……………………………………………………...
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………...
PHỤ LỤC …………………………………………………………………..
105
108
110
111
113
119
122
128
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1.
Mỗi dân tộc trên thế giới đều có những đặc sắc riêng về văn hóa. Biểu
tượng chính là một trong những yếu tố tạo nên sắc diện riêng đó. Biểu tượng
có khả năng biểu đạt, hàm chứa nội dung rộng lớn, vì thế nghiên cứu biểu
tượng cũng chính là khám phá con đường trở về cội nguồn văn hóa, là hành
trình tìm kiếm những giá trị chân, thiện, mỹ của dân tộc và cũng là để hiểu
được cảm quan nghệ thuật sâu sắc của nhà văn. Nói như Jean Chevalier, tác
giả cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới thì tìm hiểu biểu tượng chính
là tìm ra “chìa khóa của những con đường đẹp đẽ... vượt qua cái dáng vẻ bên
ngoài ta thấy được những chân lý, niềm vui, những ý nghĩa ẩn kín và thiêng
liêng của mọi điều trên mặt đất quyến rũ và kinh khủng này” [2; 66].
1.2.
của họ gây ấn tượng mạnh với bạn đọc không chỉ bởi những thông điệp được
gửi gắm đằng sau mỗi câu chữ mà còn bởi sự xuất hiện của hàng loạt biểu
tượng: nước, lửa, đất trời, mây, mưa, màu sắc, bóng đêm, … Nhiều tác
phẩm đã khước từ những hình ảnh quá rõ ràng mà sử dụng biểu tượng như
một phương thức để giải mã đời sống bên trong con người. Với họ thì hệ biểu
tượng đã trở thành một thủ pháp và tư duy biểu tượng đã trở thành một phong
cách riêng độc đáo.
1.4.
Từ các lí do trên, nghiên cứu Biểu tượng nước, lửa trong sáng tác của
một số nhà văn nữ đương đại giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về tự
nhiên, tìm ra được những giá trị tiềm ẩn khuất lấp sau từng biểu tượng cũng
như mối liên hệ giữa chúng, hiểu được quan niệm nghệ thuật của nhà văn
cùng những thông điệp mà họ gửi gắm qua đó khẳng định tính nhân văn của
tác phẩm.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu biểu tượng
Biểu tượng là vấn đề có tính chất liên ngành và ngày càng thu hút được
sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều ngành khoa học như:
Triết học, Phân tâm học, Tâm lý học, Ngôn ngữ học, Văn hóa, Văn học, …
Trên thế giới, việc nghiên cứu biểu tượng từ lâu đã được nhiều ngành
khoa học quan tâm, vì thế mà lý thuyết về biểu tượng là vô cùng phong phú
và đa dạng.
2
Biểu tượng trước hết là đối tượng khảo cứu của Triết học.
Nhà Triết học Trung Quốc nổi tiếng đời Tống, Chu Hy (1131 - 1200)
Nhìn từ phương diện văn hóa, tác giả Tạ Đức trong công trình Nguồn
gốc và sự phát triển của kiến trúc biểu tượng và ngôn ngữ Đông Sơn,
(1999) đã đề cập tới biểu tượng trong kiến trúc cổ truyền Việt Nam – Đông
Nam Á, nguồn gốc và sự phát triển của các biểu tượng trong kiến trúc Đông
Sơn [16].
Năm 1999, tác giả Chu Thị Quỳnh Giao trong công trình nghiên cứu
Biểu tượng rùa trong văn hóa Việt Nam và thế giới đã kết luận “rùa là con
vật mang ý nghĩa biểu trưng khá độc đáo trong văn hóa của nhiều dân tộc
trên thế giới” [19; 22].
Các tác giả Phạm Đức Dương với bài viết Thế giới biểu tượng tiếp cận
từ góc độ văn hóa học, (2002) [13]. Hồ Sĩ Vịnh với bài Biểu tượng hình học
trong thần thoại là gì, (2004) [76]. Phan Đăng Nhật với bài viết Ngữ nghĩa
của hệ thống biểu tượng trong nghi lễ Ê Đê, (2004) [50] … Các bài viết này
nhìn chung đã nghiên cứu biểu tượng trên nhiều phương diện khác nhau: có
bài viết nghiên cứu về ý nghĩa biểu trưng của các biểu tượng đặc thù trong các
nền văn hóa, có bài viết lại nghiên cứu về mặt lý thuyết hoặc đưa ra những
cách thức để tiếp cận biểu tượng văn hóa.
Trên phương diện văn học, biểu tượng cũng được các nhà nghiên cứu
đề cập trong một số công trình, bài báo khoa học.
Trong công trình Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam, (1956) của tác giả
Vũ Ngọc Phan có đề cập đến một số hình ảnh tiêu biểu có đặc tính tượng
trưng trong ca dao như: lan, huệ, trúc, đào, … đặc biệt là hình ảnh con cò, con
bống: “Người lao động Việt Nam đem hình ảnh con cò và con bống vào ca
dao, dân ca là đưa ra một nhận thức đặc biệt về một khía cạnh của đời sống
vào văn nghệ, lấy cuộc đời của những con vật trên để tượng trưng vài nét đời
sống của mình, đồng thời cũng dùng hình ảnh ấy để khơi gợi hồn thơ” [55;
57].
4
Tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa trong khoảng thời gian từ 2001 - 2006
với các bài viết: Biểu tượng chiếc áo trong đời sống tinh thần người Việt
qua thơ ca; Biểu tượng đôi giầy trong văn hóa và ngôn ngữ thơ ca Việt
Nam cùng luận án tiến sỹ Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang
phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam đã nghiên cứu biểu tượng ca dao
trong tính chỉnh thể, chú ý đến những biến thể, những hình thái cũng như ý
nghĩa của biểu tượng, đặc biệt là mối quan hệ giữa các biểu tượng làm nổi bật
chiều sâu của đặc trưng văn hóa và cảm xúc thẩm mĩ của biểu tượng.
Năm 2008, trong chuyên luận Nghiên cứu Văn học dân gian từ mã
văn hóa dân gian tác giả Nguyễn Thị Bích Hà đã khẳng định “Biểu tượng là
một loại tín hiệu ra đời từ rất cổ, cùng với sự xuất hiện của loài người, ngay
từ buổi bình minh của sự hình thành nhân loại” [22;13].
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu biểu tượng còn được lồng ghép trong
nhiều công trình nghiên cứu văn hóa. Trên đây, chúng tôi chỉ điểm qua vài
công trình nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam. Những công trình này thật sự là
định hướng quan trọng để chúng tôi làm căn cứ triển khai đề tài Biểu tượng
nước, lửa trong sáng tác của một số nhà văn nữ đương đại.
2.2. Lịch sử nghiên cứu biểu tượng nước, lửa trong Văn học Việt Nam và
trong sáng tác của Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư
2.2.1. Tình hình nghiên cứu biểu tượng nước, lửa trong Văn học Việt Nam
Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ biểu tượng là một phương thức
đắc dụng đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để giải mã tác phẩm
văn chương của các nhà văn, nhà thơ.
Nghiên cứu về biểu tượng nước:
Năm 2002, TS. Nguyễn Văn Chiến trong bài viết Nước - biểu tượng
văn hóa đặc thù trong tâm thức người Việt và từ nước trong tiếng Việt cho
rằng nước là yếu tố cơ bản, đặc thù trong văn hóa tâm thức, tín ngưỡng
nguyên thủy của người Việt. Tác giả đã đi vào khảo sát và mô tả cấu trúc ngữ
ảnh lớn và có vai trò quan trọng trong kết cấu tác phẩm và trong việc truyền
tải các thông điệp thẩm mĩ của nhà văn [28].
7
Nghiên cứu về biểu tượng lửa:
Tác giả Bùi Công Hùng với bài viết Biểu tượng thơ ca đăng trên tạp
chí văn học số 1/1998 có viết: “Thời trẻ, thời thơ ấu sản sinh và gìn giữ trong
kí ức nhiều biểu tượng đẹp về mái nhà, ngọn lửa, em bé, mẹ già, bầu vú, ngọn
đèn,…” [40; 74]. Tác giả đề cập đến nhiều biểu tượng trong đó có biểu tượng
lửa, ngọn đèn và xem đó như những biểu tượng đẹp.
Năm 2001, tác giả Nguyễn Đức Hạnh với bài viết Một số biểu tượng
thơ ca dân gian trong thơ Việt Nam hiện đại đi vào khảo sát biểu tượng non,
thuyền, bến, lửa, đèn trong thơ cách mạng và kháng chiến Việt Nam để thấy
rằng quá trình vận động của biểu tượng, của thơ ca dân gian đến thơ hiện đại
cũng đồng thời là quá trình liên tục mở ra những khả năng biểu đạt mới của
chúng trong sự sáng tạo của các nhà thơ [29].
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà trong luận văn thạc sĩ Trường nghĩa
lửa trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và thơ Tố Hữu, sau khi đi khảo sát
trường nghĩa lửa trong hệ thống từ vựng Tiếng Việt đã chỉ ra một số hướng
nghĩa cơ bản của lửa trong Truyện Kiều Nguyễn Du và thơ Tố Hữu.
Nguyễn Thị Thanh Xuân trong bài viết Đi tìm cổ mẫu trong Văn học
Việt Nam, (2006) sau khi nói về vai trò của mẫu gốc trong văn học, tác giả
bàn về hai mẫu gốc nước và lửa trong Văn học Việt Nam “Chúng ta thấy lửa
được xem là một trong ngũ hành trong quan niệm của người phương Đông và
người Việt lại khá hiu hắt trong tác phẩm cổ kim”.
Trên đây là những công trình nghiên cứu tiêu biểu về hai cổ mẫu nước
và lửa mà chúng tôi đề cập đến và đó thật sự là những định hướng để chúng
tôi triển khai luận văn Biểu tượng nước, lửa trong sáng tác của một số nhà
thiêu được đánh giá:“Mặc dù rất hấp dẫn nhưng là cuốn tiểu thuyết không dễ
đọc. Cũng như những truyện ngắn của Võ Thị Hảo cuốn tiểu thuyết này đang
đi theo con đường riêng của nó, ngấm dần vào trái tim người ta và những
9
tầng lớp ngữ nghĩa cũng như hình tượng nghệ thuật này thường trở đi trở lại
và ám ảnh người đọc. Tác giả bài viết đã có những cảm nhận tinh tế khi phát
hiện ra tầng lớp ngữ nghĩa xâu xa của những hình tượng nghệ thuật. Nếu
nhắc đến hình tượng nghệ thuật trở đi trở lại và ám ảnh người đọc chắc rằng
người phê bình cũng không quên được hình tượng lửa”.
Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên đánh giá Giàn thiêu “là xứ
sở của lối văn chương mê hoặc và huyền bí” với “nhiều tầng hình tượng mà
mỗi lần tiếp cận người đọc lại ngạc nhiên thấy mình khám phá ra một lớp ý
nghĩa khác ẩn mình sau những câu chữ”.
Đối với các sáng tác của nhà văn Võ Thị Xuân Hà, giới nghiên cứu,
phê bình cũng có không ít những bài nghiên cứu về các tác phẩm của chị. Đó
là những bài phân tích từ những tác phẩm riêng lẻ, tiêu biểu là các bài phân
tích tác phẩm Đàn sẻ ri bay ngang rừng của nhà lý luận phê bình Cao Việt
Dũng đã chỉ ra một số vấn đề như: kết cấu, nhịp điệu, biểu tượng, … trong tác
phẩm này từ đó đi đến nhận xét đặc trưng cho cách viết của Võ Thị Xuân Hà
là “một giọng văn điềm đạm, nhiều nhận xét, ít tình cảm, đậm nét cay đắng”.
Tác giả Lê Thị Hường trong bài viết Tư duy biểu tượng trong văn
xuôi nữ đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội ngày 25/10/2013 đã đề cập đến
một số biểu tượng như: biển, ngọn lửa, mưa, màu máu, … trong các tác phẩm
của chị.
Luận văn thạc sĩ Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân
Hà (2011) của tác giả Bùi Tuấn Ninh đã đi vào khai thác một số nội dung như
cảm hứng nghệ thuật, thế giới nhân vật và một số phương diện nghệ thuật
công trình khác được nhìn dưới các góc độ khác nhau như: Ngôn ngữ, Phong
cách học, Lí luận văn học, …
Trong những bài viết, công trình trên các tác giả dù ít, nhiều đều có đề
cập đến vấn đề nghiên cứu của đề tài. Chúng tôi coi những công trình đi trước
như những gợi dẫn qúy báu trong quá trình thực hiện luận văn. Cho đến nay
chưa có công trình nào nghiên cứu về biểu tượng nước, lửa trong sáng tác
11
của Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà và Nguyễn Ngọc Tư. Lựa chọn đề tài này
chúng tôi hi vọng đóng góp một cách nhìn mới, toàn diện hơn về nghệ thuật
sử dụng biểu tượng trong sáng tác của ba cây bút nữ tiêu biểu.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là biểu tượng nước và lửa trong
sáng tác của Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một luận văn cao học chúng tôi không có điều kiện
khảo sát biểu tượng nước và lửa trong sáng tác của nhiều nhà văn nữ đương
đại mà chỉ tập trung vào sáng tác của ba cây bút nữ Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân
Hà, Nguyễn Ngọc Tư với những tác phẩm cụ thể sau.
Võ Thị Hảo:
Người sót lại của rừng cười, Nxb Phụ Nữ, 2005 (tập truyện)
Giàn thiêu, Nxb Phụ Nữ, 2005 (tiểu thuyết)
Góa phụ đen, Nxb Phụ Nữ, 2006 (tập truyện)
Võ Thị Xuân Hà:
Đàn sẻ ri bay ngang rừng, Nxb Quân Đội Nhân Dân, 2005 (tập truyện)
Chuyện của con gái người hát rong, Nxb Hội nhà văn, 2006 (tập
truyện)
tập truyện, tiểu thuyết mà luận văn đã chọn để hình thành nên cơ sở lí luận và
tiện cho việc theo dõi, đánh giá.
Biểu tượng bao giờ cũng tồn tại trong hệ thống tạo thành một chỉnh thể
nhất định, chỉnh thể ấy chính là toàn bộ tác phẩm và thế giới nghệ thuật của
nhà văn. Vì vậy, khi nghiên cứu biểu tượng nước, lửa trong sáng tác của Võ
Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà và Nguyễn Ngọc Tư chúng tôi luôn đặt chúng
trong hệ thống hình ảnh của từng tác phẩm, xâu chuỗi chúng trong thế giới
nghệ thuật của mỗi nhà văn.
13
5.3. Phương pháp so sánh
Mỗi biểu tượng không phải là xác ép khô cứng mà hoàn toàn sống
động. So sánh, đối chiếu biểu tượng nước, lửa trong sáng tác của ba cây bút
nữ và so sánh với biểu tượng nước, lửa trong sáng tác của các nhà văn khác
cùng thời để thấy được điểm giống và khác nhau trong sự sáng tạo.
5.4. Phương pháp phân tích – tổng hợp
Đây là phương pháp mang tính quyết định tạo nên cơ sở khoa học và
tính thuyết phục cho những kết luận của luận văn. Việc giải mã biểu tượng
dựa trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa bề mặt ngôn từ và ý nghĩa biểu
trưng. Trong quá trình phân tích, luận văn tập trung làm rõ các hướng nghĩa
cũng như các biến thể của biểu tượng nước, lửa để từ đó tổng hợp và rút ra
những kết luận mang tính khái quát và khách quan nhất.
5.5. Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Biểu tượng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Vì vậy,
nghiên cứu đề tài này chúng tôi có vận dụng kiến thức về Tâm lý, Văn hóa,
Văn học, Triết học, Ngôn ngữ, … để lý giải các hướng nghĩa biểu trưng của
biểu tượng nước, lửa trong sáng tác của Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà và
Nguyễn Ngọc Tư.
tuệ về cái chưa biết và cái vô tận”. Nghiên cứu văn hóa, văn học từ biểu
tượng là một hướng tiếp cận khoa học, thú vị và ngày càng trở nên phổ biến.
Tiếp thu các thành tựu khoa học nghiên cứu về biểu tượng của những
người đi trước, chúng tôi muốn nhìn nhận lại một cách có hệ thống lý thuyết
về biểu tượng – cơ sở để tiến hành nghiên cứu làm sáng tỏ đề tài của mình
một cách khoa học và có sức thuyết phục cao trên các phương diện sau:
- Khái niệm
- Quá trình chuyển hóa biểu tượng
- Một số đặc trưng cơ bản của biểu tượng
- Sự khác biệt giữa biểu tượng với kí hiệu, hình ảnh và hình tượng
trong tác phẩm nghệ thuật.
15
1.1.1. Khái niệm
Từ lâu biểu tượng đã trở thành một phần quan trọng không thể thiếu
trong đời sống tinh thần của nhân loại. Nó vừa mang những đặc trưng văn hóa
chung của từng nền văn minh, tôn giáo lại vừa mang những màu sắc riêng của
mỗi quốc gia, dân tộc. Vì thế “giải mã” ngôn ngữ biểu tượng vừa là cách để
mở rộng trường nhận thức, vừa để khám phá ra những giá trị văn hóa truyền
thống còn chìm khuất trong lòng đời sống cộng đồng – xã hội, vừa nhằm làm
chủ một “năng lượng tinh thần” của một loại hình ngôn ngữ đặc biệt.
Thuật ngữ biểu tượng (symbol) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp. Symbol có
nghĩa là “dấu hiệu nhận nhau”, có ý nghĩa tương đương với từ kí hiệu
“sigual”.
Cũng có lý thuyết cho rằng chữ symbol bắt nguồn từ động từ Hy Lạp
“symballo” có nghĩa là “ném vào một vị trí”, “liên kết”, “suy nghĩ về”, “thỏa
thuận”, “ước hẹn”, …
Trong tiếng Hán biểu tượng được chiết tự: “Biểu” có nghĩa là “dấu
vi tiếp cận. Ở đây, chúng tôi đưa ra những cách hiểu cơ bản nhất:
Trên thế giới
Trong Triết học, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã định nghĩa
biểu tượng là “hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn
trực quan sinh động. Đó là hình ảnh cảm tính và tương đối hoàn chỉnh còn
lưu lại trong bộ óc con người về sự vật khi sự vật đó không còn trực tiếp tác
động vào các giác quan” [54; 302].
Alain Gheerbrant và Jean Chevalier cho rằng: “Tự bản chất của biểu
tượng, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong
cùng một ý niệm. Nó giống như mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến
ảo, hiển nhiên mà không nắm bắt được. Ta sẽ cần phải dùng các từ để gợi ra
một hay nhiều ý nghĩa của một biểu tượng” [2].
Georges Gurvitch thì lại cho rằng: “Các biểu tượng tiết lộ mà che giấu
và che giấu mà tiết lộ” [2].
17
Còn Freud lại quan niệm: “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp,
bóng gió và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột. Biểu
tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư
tưởng, mọi lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng” [2].
Trong khi đó C. G. Jung lại cho rằng: “Biểu tượng không phải là một
phúng dụ, cũng chẳng phải một dấu hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình
ảnh thích hợp để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất ta mơ hồ nghi hoặc của tâm
linh” [2].
Ở góc độ ngôn ngữ thì C. G. Jung lại cho rằng “biểu tượng là một danh
từ, một tên gọi hay một đồ vật tuy đã quen thuộc với ta hằng ngày, nhưng còn
gợi thêm những ý nghĩa khác bổ sung vào ý nghĩa ước định, hiển nhiên và
trực tiếp của nó”.
gồm mọi dạng thức hình ảnh tĩnh cũng như động và những biểu tượng này có
thể được tạo nên từ các loại hình nghệ thuật khác nhau như hội họa, điêu
khắc, sân khấu, kiến trúc, điện ảnh. Trong văn học chất liệu để xây dựng biểu
tượng là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Với ca dao không có ngôn ngữ thì
không có biểu tượng” [15].
Từ góc độ tâm lí học “biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng
và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng. Khác với tri giác
biểu tượng có thể mang tính khái quát. Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại
thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai” [11].
Như vậy, xét ở phạm trù tâm lí thì biểu tượng có hai cấp độ sau:
Cấp độ thứ nhất, biểu tượng là kết quả của hoạt động nhận thức, cao
hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật còn lưu lại trong tư duy khi còn các
kích thích trực tiếp (biểu tượng trực quan).
Nếu cảm giác mang lại cho ta từng đặc điểm cụ thể riêng biệt của sự
vật, hiện tượng thì biểu tượng cho ta những dấu hiệu chung nhất, một tên gọi
đơn giản nhất. Nếu tri giác là sự phản ánh trung thực tiếp toàn bộ sự vật trong
một trường hợp cụ thể thì biểu tượng phản ánh khái quát và trừu tượng hơn.
19
Ở cấp độ thứ hai, những ý nghĩa được hình thành thông qua quá trình
tưởng tượng dựa trên khả năng nhận thức về những đặc điểm bản chất của đối
tượng
Như thế, ở mỗi biểu tượng còn bao hàm yếu tố của một sự đánh giá tùy
theo chủ thể. Biểu tượng “đất” trong cách nhìn của người nông dân lại khác
với cách nhìn của nhà địa chất và khác với cách nhìn của nhà văn, nhà thơ.
Dưới góc nhìn văn hóa, biểu tượng là những thực thể vật chất hoặc tinh
thần có khả năng biểu hiện những ý nghĩa rộng hơn chính hình thức cảm tính
của nó, tồn tại trong một tập hợp, một hệ thống đặc trưng cho những nền văn
định với những tầng ý nghĩa. Vượt qua ý nghĩa miêu tả, biểu tượng đã vươn
lên biểu đạt chiều sâu cảm xúc mang lại hơi thở dân tộc, thời đại.
Từ những khái niệm về biểu tượng nêu trên, chúng tôi thấy các nhà
khoa học đã căn cứ vào đặc trưng của các chuyên ngành của họ để định nghĩa
về biểu tượng. Trong mỗi định nghĩa về biểu tượng bên cạnh những nét
chung, cơ bản (dấu hiệu – biểu trưng, vật biểu trưng mang một ý nghĩa lớn
hơn nó, … ) đều có những nét riêng phụ thuộc vào từng lĩnh vực chuyên
ngành, trong từng thời kì lịch sử (từ khi nó mới phát sinh, phát triển đến ngày
nay) và ở từng nền văn hóa. Đặc biệt biểu tượng nghệ thuật ngôn từ không là
biểu tượng trực quan mà phải được chuyển hóa thành một biểu tượng phi trực
quan, nó không thể hiện những hình ảnh cụ thể của sự vật hiện tượng mà là sự
tổng hòa và thẩm thấu toàn bộ những biểu hiện ngẫu nhiên và cá biệt để đạt
đến cái bản chất, cái tất yếu của đối tượng.
1.1.2. Quá trình chuyển hóa biểu tượng
Biểu tượng tồn tại và đến với chúng ta không phải bằng một hằng số
bất biến mà dưới dạng biến thể, vô vàn những biến thể. Đó là kết quả của quá
trình chuyển hóa không ngừng giữa các cấp độ của biểu tượng, là sự biến đổi
ý nghĩa của biểu tượng trong những phạm vi khác nhau như: đời sống văn
hóa, văn học, nghệ thuật, …
Khởi nguyên những biểu tượng xuất hiện sớm nhất được gọi là “mẫu
gốc”. Mẫu gốc (archetype, còn được gọi là “siêu mẫu”, “cổ mẫu” ).
21