Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong công nhân của một số nhà máy công nghiệp ở Hà Nội - Pdf 12

Bộ giáo dục v đo tạo Bộ y tế
Trờng đại học y H Nội
[\

chu thị hạnh
Nghiên cứu đặc điểm lâm sng v dịch tễ học bệnh phổi
tắc nghẽn mạn tính trong công nhân của một số nh máy
công nghiệp ở h nội

Chuyên ngnh : bệnh học nội khoa
Mã số : 3.01.31

tóm tắt luận án tiến sỹ y học

- Th viện Quốc gia
- Th viện Trờng Đại học Y Hà Nội
- Viện thông tin - Th viện Y học Trung ơng
Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan
đến luận án đ công bố

1. Chu Thị Hạnh, Ngô Quý Châu, Nguyễn Văn Tờng (2005),
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính trong công nhân của nhà máy thuốc lá Thăng Long, Y
học thực hành, số 513, Tr. 99 103.
2. Chu Thị Hạnh, Ngô Quý Châu, Nguyễn Văn Tờng (2006),
Nghiên cứu mối liên quan giữa hút thuốc với bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính trong công nhân của một số nhà máy công nghiệp ở Hà
Nội, Nghiên cứu Y học (2006), vol 42 (3), pp 78 - 81.
3. Chu Thị Hạnh, Ngô Quý Châu, Nguyễn Văn Tờng (2005),
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính trong công nhân của một số nhà máy công nghiệp ở Hà
Nội, Y học lâm sàng, số đặc san 2(12/2006), Tr. 18 - 24.
4. Ngô quý Châu, Chu Thị Hạnh và cộng sự (2005), Nghiên cứu
dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở thành phố Hà Nội, Y
học thực hành (2005), số 513, Tr. 69 74.
5. Nguyễn Thế Cờng, Chu Thị Hạnh, Ngô Quý Châu(2005),
Nghiên cứu dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong dân c
của 2 quận Đống đa và Thanh xuân, Hà Nội, Nghiên cứu Y học,
vol 36 (3), Tr. 65 - 70.
6. Chu Thị Hạnh, Ngô Quý Châu (2004), Nghiên cứu sự biến đổi
của chức năng hô hấp của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn

phải có hiểu biết toàn diện về bệnh, ngoài bệnh học thì hiểu biết về gánh
nặng bệnh tật và các yếu tố nguy cơ gây bệnh là rất cần thiết. Trên cơ sở
đó mới có thể đa ra đợc các phơng pháp chẩn đoán, điều trị và phòng
bệnh hữu hiệu nhất.
Thêm nữa, công cuộc hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nớc đã làm
cho ngành công nghiệp phát triển hơn, sự phát triển của ngành công
nghiệp đi đôi với tình trạng tăng ô nhiễm môi trờng và phát sinh nhiều
yếu tố độc hại cho sức khoẻ con ngời. Trong đó tác động của khói bụi
công nghiệp đối với BPTNMT cũng là một vấn đề cần phải quan tâm.
2

Với những lí do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: Nghiên cứu đặc
điểm lâm sàng và dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong
công nhân của một số nhà máy công nghiệp ở Hà Nội với 3 mục
tiêu:
1. Xác định tỉ lệ mắc BPTNMT trong công nhân của 4 nhà máy
công nghiệp ở Hà Nội: Thuốc lá Thăng Long, phân lân Văn
Điển, Sơn tổng hợp và nhà máy chế tạo máy điện Việt -
Hungari, năm 2003 - 2006.
2. Mô tả về đặc điểm lâm sàng, X-quang phổi chuẩn và chức
năng thông khí của nhóm công nhân mắc BPTNMT.
3. Kiểm đnh một số yếu tố nguy cơ của BPTNMT trong công
nhân của các nhà máy công nghiệp trên.
Bố cục luận án
Luận án gồm 109 trang, 4 chơng, 38 bảng, 5 biểu đồ với 20 tài
liệu tham khảo bằng tiếng Việt, 122 tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh
và 9 tài liệu tham khảo bằng tiếng Pháp. Luận án gồm các phần: Đặt

Chi phí cho các nghiên cứu loại này rất lớn do vậy các số liệu dịch
tễ học về BPTNMT không có nhiều và chủ yếu là xuất phát từ các nớc
phát triển trên thế giới.
Tại Mỹ năm 1994 có khoảng gần 16,365 triệu ngời mắc BPTNMT
trong đó 14 triệu ngời bị VPQMT và hơn 2 triệu ngời bị KPT. Trong
số đó có tới 50% số bệnh nhân bị bỏ sót không đợc chẩn đoán. Tỷ lệ
mắc bệnh ớc tính vào khoảng 4 - 5% dân số, đã có xấp xỉ 96.000 ngời
chết trong năm vì bệnh. Kể từ năm 1985 đến năm 1995 tỷ lệ tử vong do
BPTNMT tăng lên 22% và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4
sau bệnh tim mạch, ung th và đột quỵ. Trong số 28 nớc công nghiệp,
Mỹ đợc xếp hàng thứ 12 về tỷ lệ tử vong do BPTNMT và các bệnh
tơng tự ở nam giới và hàng thứ 7 ở nữ giới. Chi phí trực tiếp và gián tiếp
cho bệnh trong năm 2001 là 32,1 tỷ đô la. Với khoảng 15,7 triệu trờng
hợp mắc BPTNMT ở Mỹ, ớc tính giá chi phí cho BPTNMT là 1.522
USD cho 1 bệnh nhân trong 1 năm. Trong năm 1996 ở Mỹ tính ra mất
24 triệu ngày làm việc do BPTNMT
1.1.2. Việt Nam.
Các nghiên cứu dịch tễ về BPTNMT trong cộng đồng ở nớc ta còn
rất ít. Trong nghiên cứu điều tra của Nguyễn Quỳnh Loan (2002), tỷ lệ
mắc BPTNMT trong cộng đồng dân c > 35 tuổi của phờng Khơng
Mai quận Thanh Xuân Hà Nội là 1,53%.
Ngô Quý Châu và cộng sự nghiên cứu dịch tễ học BPTNMT trong
cộng đồng dân c có tuổi từ 40 trở lên của thành phố Hà Nội thấy tỷ lệ
mắc chung cho cả 2 giới là 2%. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam là 3,4% và ở nữ
là: 0,7%. Tỷ lệ mắc VPQMT (BPTNMT giai đoạn nguy cơ): 4,8%. 4

Chơng 2: Đối tợng v phơng pháp nghiên cứu


Trong đó: Z
2
1-

/2
= 1,96 (thang phân vị chuẩn ở mức ý nghĩa =
0,05), p = 0,03 (tỷ lệ ngời mắc BPTNMT ớc tính ở các nhà máy
công nghiệp), d = 0,01 (độ chính xác tuyệt đối mong muốn), thêm
10% phòng trừ sai số do những trờng hợp vắng mặt hoặc không
hợp tác khi điều tra.
Cỡ mẫu tính đợc là 1013 ngời.
Thực tế tổng số công nhân mà chúng tôi nghiên cứu là 1042 ngời.
Chọn mẫu: Tổng số công nhân của 4 nhà máy là 2304 ngời, số
công nhân 40 tuổi chiếm < 50%, để đảm bảo cỡ mẫu, toàn bộ số
công nhân 40 của 4 nhà máy nêu trên đều đợc chọn vào nghiên
cứu. 5

2.3.3. Một số định nghĩa
* Các đối tợng không trực tiếp sản xuất là những đối tợng thuộc
các phòng ban: phòng hành chính, tổ chức cán bộ, tài chính kế toán,
phòng kỹ thuật, nhà trẻ, nhà bếp, bảo vệ, lái xe đợc coi là không tiếp
xúc với bụi nghề nghiệp.
* Các đối tợng trực tiếp sản xuất trong các phân xởng là
những đối tợng đợc coi là tiếp xúc với bụi nghề nghiệp. Trong đó
công nhân thuộc phân xởng sấy nghiền của nhà máy Phân lân Văn
Điển và phân xởng sợi của nhà máy thuốc lá Thăng Long là những

Đặc điểm của đối tợng
nghiên cứu
Số lợng
(n)
Tỷ lệ
(%)
Giới tính

Nam 620 59,5
Nữ 422 40,5
Tổng số 1042 100
Tuổi đời

40 - 49 803 77,1
50 - 59 222 21,3
60 - 69 17 1,6
Tổng số 1042 100
Thời gian công tác

< 10 năm 42 4,0
10 - 20 năm 237 22,7
> 20 năm 763 73,2
Tổng số 1042 100

Tổng số đối tợng nghiên cứu của 4 nhà máy công nghiệp trong
nghiên cứu của chúng tôi là 1042 công nhân, trong đó nam công nhân
chiếm hơn một nửa (59,5%) và nữ công nhân chiếm 40,5%. Sự khác
biệt giữa số lợng công nhân nam và công nhân nữ không có ý nghĩa
thống kê. Số đối tợng ở độ tuổi 40- 49 tuổi chiếm đa số (77,1%).
Phần lớn (73,2%) các đối tợng nghiên cứu có tuổi nghề > 20 năm.

thấy:
Số đối tợng hút thuốc lá chiếm tỷ lệ cao (51,7%), trong đó nam
giới hút thuốc chiếm đa số (85,8% tổng số nam giới).
Có 67,5% số đối tợng nghiên cứu tiếp xúc khói bếp củi, bếp than.
Đa số (72,5%) các đối tợng nghiên cứu là những công nhân trực
tiếp sản xuất trong các phân xởng.
3.2. Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ mắc BPTNMT
Dựa vào kết quả từ 1042 phiếu phỏng vấn sàng lọc chúng tôi đã
lựa chọn đợc 667 đối tợng vào khám lâm sàng và đo chức năng
thông khí cùng với test hồi phục phế quản để định bệnh. Chúng tôi
thấy có 196 công nhân (29,4%) có rối loạn thông khí, trong đó RLTK
hạn chế chiếm tỷ lệ cao 139 ngời (20,8%), RLTK tắc nghẽn: 38
ngời chiếm 5,7%, RLTK hỗn hợp: 19 ngời chiếm 8,6%. 8

Sau test hồi phục phế quản chúng tôi thu đợc kết quả nh sau:
31/1042 đối tợng mắc BPTNMT trong đó có 28 công nhân nam (tỷ lệ
mắc ở nam giới = 4,5%) và có 3 công nhân nữ mắc BPTNMT (tỷ lệ
mắc ở nữ là 0,7%), 26 đối tợng mắc HPQ. 99 đối tợng mắc VPQMT
(BPTNMT giai đoạn nguy cơ) trong đó co 57 công nhân nam và 42
công nhân nữ.
9.5
3
2.4
85.1
VPQMT BPTNMT HPQ Bình thờng
thấp (6,5%)

Bảng 3.5. Biểu hiện của các triệu chứng thực thể của nhóm mắc
BPTNMT
Bình thờng Bất thờng
Biểu hiện

KQ khám
Đánh giá n % Đánh giá n %

Tần số thở
20 l/ph
23 74,2 > 20 l/ph 9 25,8
Hình dạng
lồng ngực
Bình
thờng
31 100
Có biến
dạng
0 0

RRFN
Bình
thờng
19 61,3 Giảm 12 38,7
Gõ Trong 27 87 Vang 4 13
Nghe
Bình
thờng

75%, MEF 50%, MEF 25% đều giảm so với số lý thuyết.

Bảng 3.7. Kết quả CNTK trung bình của nhóm mắc BPTNMT sau
test HPPQ tính theo %(n = 31)
Chỉ tiêu Trung
bình
Tối thiểu Tối đa 95% CI
SVC 84,3 66,4 101 [80,8 87,8]
FVC 57,5 47 75 [54,9 60,2]
FEV1 64,5 35,1 77,2 [61,1 67,9]
FEV1/ SVC 62,8 38,9 69,5 [60,2 65,4]
FEV1/ FVC 92,4 41,5 100 [88,3 96,5]
MMEF 69,1 20,4 98,5 [61,8 76,5]
MEF 75% 46,8 11,9 97,6 [42,2 55,3]
MEF 50% 49,2 16,2 91,2 [43,1 55,4]
MEF 25% 43,3 20,7 54,7 [36,7 57,8]

Sau test HPPQ các chỉ số FVC, FEV1, FEV1/ SVC, MEF 75%,
MEF 50%, MEF 25% đều có tăng ít nhng tăng không có ý nghĩa
thống kê (có các khoảng trùng nhau của 95% CI).
11


0
20
40
60
80
100
SVC FVC FEV1 FEV1/
SVC
FEV1/
FVC
MMEF MEF
75%
MEF
50%
MEF
25%
Trớc test Sau test12

3.4. Liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với BPTNMT
3.4.1. Liên quan giữa tuổi với BPTNMT
Bảng 3.9. Liên quan giữa tuổi với BPTNMT
Mắc
BPTNMT
Không mắc
BPTNMT
Tình trạng

[2 34,1]

Nam giới có nguy cơ mắc BPTNMT cao hơn gấp 6 lần so nữ giới.
3.4.3. Liên quan giữa hút thuốc với BPTNMT
Bảng 3.11. Liên quan giữa hút thuốc với BPTNMT
Mắc
BPTNMT
Không mắc
BPTNMT
Bệnh

Hút thuốc
n % n %

OR

95%CI
(OR)

Hút thuốc

27

87,1

512

50,6
Không hút
thuốc

(OR)

Tiếp xúc 25 80,7 678 67,1
Không tiếp
xúc
6 19,4 333 32,9
2,0 [0,8 6,2]

Không thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiếp xúc với
khói bếp và BPTNMT.
3.4.5. Liên quan giữa tiếp xúc với bụi và BPTNMT
Bảng 3.13. Liên quan giữa tiếp xúc với bụi và BPTNMT
Mắc
BPTNMT
Không
mắc BPTNMT
Bệnh

Bụi
n % n %
OR 95%CI
(OR)
Tiếp xúc 22 71,0 733 72,5
Không tiếp
xúc
9 29,0 278 27,5
0,9 [0,4 2,3]

Không thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiếp xúc với
bụi và nguy cơ mắc BPTNMT.


[2,6 - 17]
Tiếp xúc với khói bếp (1: > 20 năm;
0: < 20 năm)
3,2

[1,4 - 7,2]
Tiếp xúc với bụi (1:tiếp xúc; 0:
không)
1,4
[0,6 - 3,3]
Tuổi đời 40-49 (ref.) 1

50-59 8,8
[3,3 - 23,2]
60+ 38,6
[7,9 - 188]
Giới tính (1: Nam, 0: nữ)
1,5
[0,4 - 6,1]
Năm làm việc (1: : > 20 năm; 0: < 20
năm)
2,5
[0,5 - 11]
R2 0,31

Có 3 biến có quan hệ có ý nghĩa thống kê với BPTNMT đó là Tuổi

Ngợc lại nếu so sánh kết quả của chúng tôi với kết quả nghiên
cứu trên 2976 đối tợng dân c tuổi 40 thuộc 10 xã trong 13 huyện
ngoại thành của thành phố Hải Phòng, thì kết quả của chúng tôi thấp
hơn. Trong nghiên cứu này, các tác giả của nhóm nghiên cứu khoa Hô
Hấp bệnh viện Bạch Mai, nhận thấy tỷ lệ mắc BPTNMT chung cho 2
giới là 5,65%, trong đó, tỷ lệ mắc bệnh ở nam là 7,91% và ở nữ là
3,63%. Tỷ lệ mắc VPQMT - BPTNMT giai đoạn nguy cơ (không có
rối loạn thông khí tắc nghẽn): 14,4%. Đối tợng hút thuốc có nguy cơ
mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao hơn hẳn (OR = 4,28), tỷ lệ hút
thuốc lá trong nhóm mắc bệnh là 72,7%. Có thể thấy tỷ lệ mắc
BPTNMT trong nghiên cứu này cao hơn rất nhiều so với kết quả của
chúng tôi. Theo các tác giả của nghiên cứu này thì địa điểm nghiên
cứu khi chọn ngẫu nhiên, đã rơi vào một số làng làm nghề thủ công có
thể có ô nhiễm của khói bụi. Thêm nữa, đối tợng nghiên cứu của họ
hầu hết là nông dân có tình trạng học vấn, kinh tế thấp, tình trạng hút 16

thuốc lá, thuốc lào phổ biến. Đó chính là những nguyên nhân làm cho
tỷ lệ mắc bệnh trong nghiên cứu của họ cao hơn hẳn so với các nghiên
cứu khác ở trong nớc.
So với các nớc khác trên thế giới đặc biệt các nớc ở châu âu thì
tỷ lệ mắc ở đối tợng của chúng tôi thấp hơn. Chúng tôi nghĩ có thể
do mức độ hút thuốc của ngời Việt Nam thấp hơn. Mặt khác sự khác
biệt này cũng có thể do ảnh hởng của nhiều yếu tố khác trong đó có
sự không thống nhất về phơng pháp nghiên cứu cũng nh tiêu chuẩn
chẩn đoán bệnh.
Xu Fei và cộng sự nghiên cứu về BPTNMT ở 3 thành phố và 2
vùng nông thôn khác nhau của tỉnh Jiangsu Trung quốc cho thấy tỷ lệ

Phân tích trong nhóm công nhân mắc BPTNMT chúng tôi thấy có
tới 71% có biểu hiện của triệu chứng ho, 80,7% có khạc đờm và biểu
hiện của cả 2 triệu chứng triệu chứng ho và khạc đờm trên một đối
tợng chiếm tỷ lệ cao 64,5%. Triệu chứng khó thở gặp ở 19,4% số
bệnh nhân và chỉ có 6,5% số bệnh nhân có biểu hiện của cả 4 triệu
chứng. Đặc biệt có 14,3% số bệnh nhân không có bất kỳ 1 triệu chứng
lâm sàng nào (bảng 3.3, bảng 3.4), nh vậy nếu không đợc thăm
khám và đo CNHH thì sẽ có 14,3% số bệnh nhân không đợc phát
hiện bệnh. Chính vì vậy, việc phối hợp các phơng pháp để chẩn đoán
là rất quan trọng, tránh bỏ sót một số lợng tơng đối bệnh nhân mắc
BPTNMT không đợc phát hiện.
Theo Nguyễn Quỳnh Loan nghiên cứu trong cộng đồng thì có tới
29,4% số đối tợng không có bất kỳ một biểu hiện nào về triệu chứng
hô hấp. Các triệu chứng ho, khạc đờm cũng là 2 triệu chứng gặp nhiều
nhất với tỷ lệ > 40%.
4.3. Đặc điểm của chức năng thông khí
CNTK đợc xem nh là một công cụ đắc lực để phát hiện và theo
dõi các rối loạn thông khí trong một số bệnh hô hấp. Vai trò của
CNTK trong chẩn đoán xác định BPTNMT đã đợc nhiều nghiên cứu
trên thế giới khẳng định.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về CNTK của các đối tợng
trong nhóm có nguy cơ, thấy tỷ lệ có rối loạn thông khí là 29,4% bao
gồm cả RLTKTN, RLTKHC, RLTKHH. Trong đó tỷ lệ có rối loạn
thông khí tắc nghẽn và hỗn hợp chiếm 8,6%. Do chúng tôi không đo
đợc thể tích khí cặn nên việc nhận định phân loại RLTKHC hay
RLTKHH chỉ là tơng đối hay nói cách khác là hớng tới có
RLTKHC hay có RLTKHH mà thôi. 18

(46,2%), khoang liên sờn giãn rộng: 13/26 (50,0%), hình ảnh phổi
bẩn: 7/26 (26,9%).
19

4.5. ảnh hởng của các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ ảnh hỏng đến BPTNMT đã đợc đề cập đến
trong nhiều nghiên cứu trên thế giới. Trong nghiên cứu này chúng tôi
chỉ đề cập đến một số yếu tố đó là: Tuổi, giới, thuốc lá, khói bếp và
bụi nghề nghiệp.
- Tuổi và BPTNMT:
BPTNMT đợc đặc trng bởi tình trạng viêm mạn tính phế quản,
phổi, bệnh tiến triển kéo dài trong nhiều năm cho đến khi xuất hiện
dấu hiệu của tắc nghẽn lu lợng thở và thờng là ở độ tuổi trên 40.
Chính vì vậy rất hiếm gặp BPTNMT ở những ngời trẻ tuổi. Chúng tôi
nhận thấy tuổi là một trong số các yếu tố nguy cơ liên quan với
BPTNMT. Những đối tợng > 50 tuổi có nguy cơ mắc BPTNMT cao
hơn (OR = 8,8 với 95% CI[3,3 - 23,2]) (bảng 3.9, bảng 3.15). Nhận
xét của chúng tôi cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu khác trên thế
giới. Lacasse Y. (1999), Hindekazu Takemura, Lindberg Anne (2005).
Cholshin và cộng sự nhận thấy những ngời > 40 tuổi có tỷ lệ mắc
BPTNMT cao gấp 4,3 lần so với những ngời trẻ hơn 95% CI [2,6 -
7,0].
- Giới tính và BPTNMT
Trong nghiên cứu này khi phân tích mối liên quan giữa bệnh và giới
tính mà cha loại trừ yếu tố nhiễu thì chúng tôi nhận thấy, nam giới có
nguy cơ mắc BPTNMT cao hơn nữ giới (bảng 3.10), thực tế là do nam
giới hút thuốc nhiều hơn (85,8%) so với nữ giới (1,7%). Thực ra giới

trong gia đình nh bếp củi, than tổ ong, rơm rạ, khí sinh học cũng
đóng vai trò đối với sự xuất hiện của BPTNMT.
Với phơng pháp phân tích đa biến chúng tôi cũng nhận thấy khói
bếp là một trong 3 yếu tố nguy cơ có quan hệ có ý nghĩa thống kê với
BPTNMT. Theo kết quả của mô hình này chúng tôi thấy ở nhóm có
thời gian tiếp xúc với khói bếp > 20 năm thì nguy cơ mắc BPTNMT
cao hơn 3 lần so với nhóm không tiếp xúc và tiếp xúc < 20 năm (OR =
3,2 với 95% CI[1,4 - 7,2]). Nh vậy có thể thấy với thời gian tiếp xúc
với khói nhiên liệu đốt tối thiểu phải là 20 năm, thì mới thực sự có liên
quan đến sự phát triển của BPTNMT.
Ramiez - Venegas và cộng sự nghiên cứu thuần tập trong 10 năm
trên 481 phụ nữ Mexico, tiếp xúc với khói bếp cho thấy ở những phụ
nữ này nguy cơ mắc BPTNMT tơng tự nh những đối tợng hút thuốc
lá. Nghiên cứu của Orozco - Levi và cộng sự về mối liên quan giữa 21

khói bếp củi, bếp than với BPTNMT trên 120 phụ nữ điều trị nội trú vì
đợt cấp BPTNMT. Các tác giả nhận thấy rằng có sự kết hợp mạnh giữa
tiếp xúc với khói bếp và BPTNMT (OR = 1,8 đối với khói bếp củi, OR
= 1,5 đối với khói bếp than, OR = 4,5 đối với trờng hợp tiếp xúc với
cả 2 yếu tố), sau khi đã hiệu chỉnh với các yếu tố nguy cơ khác nh
tuổi và hút thuốc.
Với hoàn cảnh kinh tế ở đất nớc ta hiện nay đặc biệt là ở nông
thôn, khuyến cáo từ bỏ đun bếp bằng củi, bằng than là điều khó thực
hiện. Để giảm bớt ảnh hởng của khói bếp đối với ngời sử dụng,
trớc mắt có thể chỉ là cải tiến phơng pháp đun nấu, ví dụ nh đun
nấu ở nơi thoáng khí có ống khói hoặc có đờng thoát khí
- ảnh hởng của tiếp xúc bụi nghề nghiệp đến BPTNMT

vợt quá tiêu chuẩn cho phép 1,2 đến 1,5 lần. Mức độ vợt quá tiêu
chuẩn này là không đáng kể. Tuy rằng đại bộ phận các đối tợng
(73,2%) trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có thời gian công tác tại
các nhà máy này từ 20 năm trở lên (bảng 3.2). Nhng hiện nay điều
kiện làm việc tại các nhà máy đã đợc cải thiện nhiều, 100% số công
nhân đợc hỏi đều đeo khẩu trang lúc làm việc và cho rằng nơi làm
việc của họ thoáng mát. Chính vì vậy chúng tôi không thấy có mối liên
quan chặt chẽ giữa tiếp xúc với bụi và BPTNMT trong mô hình logistic
đa biến. Với kết quả nh vậy, chúng tôi nghĩ rằng ảnh hởng của bụi
lên BPTNMT sẽ rõ rệt nếu nh nồng độ bụi vợt quá tiêu chuẩn cho
phép phải từ nhiều lần trở lên. Điều này cũng đã đợc chứng minh
trong một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nớc.
Laraqui Hossini và cộng sự nhận thấy, 55,6 % công nhân sản xuất
xi măng tiếp xúc với bụi (với nồng độ bụi vợt quá tiêu chuẩn cho
phép 4 lần), có biểu hiện của các triệu chứng ho, khạc đờm, còn nhóm
không tiếp xúc thì chỉ có 13,3%. Tỷ lệ mắc VPQMT ở nhóm tiếp xúc
là 29,3% còn ở nhóm không tiếp xúc là 9,6% với p < 0,001. Nông Văn
Đồng và cộng sự trong nghiên cứu về tình hình mắc bệnh VPQMT
trong công nhân ngành xây dựng, đã nhận thấy bụi có ảnh hởng đến
tỷ lệ mắc VPQMT khi nồng độ bụi vợt quá tiêu chuẩn cho phép 5 lần.
Bergdahl I.A và cộng sự (2004) tiến hành nghiên cứu từ năm 1971
tới 1999 trên 317.629 công nhân xây dựng Thuỵ Điển, nhận thấy tiếp
xúc với bụi nghề làm tăng nguy cơ tử vong vì BPTNMT ngay cả ở
những đối tợng không hút thốc lá.
Có lẽ ảnh hởng của tiếp xúc bụi đối với BPTNMT chỉ gặp trong
một số nghề nghiệp có nguy cơ cao, nồng độ bụi cũng nh thời gian
tiếp xúc phải đạt đến mức độ cần thiết để có thể phát triển bệnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status