BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LƯƠNG THỊ DUNG
CHỦ ĐỀ TRUY TÌM BẢN NGÃ
TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN NGỌC TƯ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60.22.01.25
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Văn Sơn
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất tới
TS. Chu Văn Sơn – Người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tác giả
trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tác giả trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu trường Đại học sư phạm Hà
Nội, ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, các thầy cô giáo bộ môn đã tham gia
giảng dạy, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn khoa học, đóng góp ý kiến quý
báu và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tại trường cũng như quá trình
thực hiện luận văn.
Cuối cùng tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ,
động viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để tác giả hoàn thành
tốt chương trình học tập và nghiên cứu đề tài khoa học này.
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài. Và cho đến nay, chị đã có được vị
trí chắc chắn trong đời sống văn học : tác giả hàng đầu của văn xuôi Nam Bộ,
cây bút sáng giá của văn xuôi Việt Nam đương đại.
1.2. Với sở trường là những tác phẩm viết về con người và vùng đất nơi
miền cực Nam của Tổ quốc, sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là nguồn cảm
hứng sớm và lớn cho giới nghiên cứu phê bình trong và ngoài nhà trường suốt
1
từ khi chị xuất hiện đến nay. Số lượng các bài báo lớn nhỏ trong Nam ngoài
Bắc, trên giấy trên mạng đã có đến hàng trăm. Tính riêng số lượng những
công trình là luận văn cử nhân, luận văn thạc sĩ tại các khoa văn Đại học và
Cao đẳng trong nước đã lên tới nhiều chục. Nhiều vấn đề trong sáng tác của
tác giả này đã được đặt ra đề nghiên cứu, nhiều giá trị đã được khám phá.
1.3. Truy tìm bản ngã là một chủ đề lớn trong sáng tác Nguyễn Ngọc
Tư, xuyên suốt các thể loại từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, từ tản văn đến thơ.
Chẳng biết từ bao giờ, các câu hỏi “ta là ai?”, “cái gì làm nên ta?” chưa bao
giờ thôi nhức nhối trong con người có ý thức nói chung và những nhà nhân
văn nói riêng, nhất là khi xã hội càng phát triển trong một cơ cấu phức tạp
hơn, có nhiều hơn những quy tắc lề luật mà con người định ra để ứng xử với
nhau, đánh giá nhau, và dần xiết chặt nhau trong những mối ràng rịt đó… Mỗi
cá thể con người phải đấu tranh để thích nghi, đấu tranh với cái trong mình để
thích nghi với cái ngoài mình, gọt đi cái bản thể tự nhiên của mình cho vừa
với cái vai xã hội mình đang đóng. Con người càng trong xã hội hiện đại càng
cảm thấy mình bơ vơ, mang cái tâm thức lạc loài, mất gốc. Sinh ra và lớn lên
ở một miền sông nước mênh mang, trải nghiệm nhân sinh về nỗi phù du của
phận người càng khiến Nguyễn Ngọc Tư có nhiều trăn trở với câu hỏi đó.
Sáng tác của chị, về mặt nào đó, là câu trả lời mang đậm dấu ấn cá nhân cho
câu hỏi này. Đến nay, chủ đề này trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư vẫn chưa
khi chị đã gặt hái được quá nhiều thành công với thể loại truyện ngắn và tản văn.
Trần Ngọc Sinh đã có lời nhận xét ngắn gọn nhưng bao quát về tiểu
thuyết Sông như sau: “Đẹp. Đáo để. Trần tục và hư ảo” [2]
Trong bài viết: Đọc tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư – khảo về
sự biến mất, tác giả Mai Anh Tuấn cũng viết: “Với Sông, trong cách đặt tiêu
đề ngắn gọn đến tưởng như triệt hạ mọi phỏng đoán vươn tới một địa danh
cụ thể, Nguyễn Ngọc Tư càng cho thấy mình là người tận lực với cơ địa văn
hóa vùng miền, bởi, xét rộng hơn, phần lớn những không gian nổi bật, những
3
hình tượng nghệ thuật vươn tới biểu tượng trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư,
một cách chủ ý, đều dấp dính sông nước và những hắt bóng của nó như lời ăn
tiếng nói, phong cảnh tập tục, đến nhân tình thế thái” [48]
Trong số những người yêu mến Nguyễn Ngọc tư phải kể đến Trần Hữu
Dũng – người đã giành nhiều tình cảm đặc biệt cho cô trong trang web tập
hợp những bài nghiên cứu phê bình về văn chương của chị. Với bài Nguyễn
Ngọc Tư “đặc sản” Miền Nam ông đề cao tài năng sử dụng ngôn ngữ Nam
Bộ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, đó là một đặc sắc riêng không thể trộn lẫn
với bất kì nhà văn nào khác.
Huỳnh Công Tín trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư nhà văn trẻ Nam Bộ
đã chú ý không gian Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư: “Đặc biệt
vùng đất và con người Nam Bộ trong các sáng tác của chị được dựng lại bằng
chính chất liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiểu chất Nam Bộ của chị”.
Tìm hiểu con đường Nguyễn Ngọc Tư đã đi và đang đi tới, Bùi Công
Thuấn có bài Nguyễn Ngọc Tư và hành trình đã đi đã mang đến một cách
nhìn tổng quan về hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ những tác
phẩm trước Cánh đồng bất tận, đến những tập truyện sau đó như Gió lẻ,
Khói trời lộng lẫy… Tác giả bài báo nhận ra, cầm bút với Nguyễn Ngọc Tư là
tìm kiếm bản thể “trên con đường không dấu chân”.
Tác giả Hoài Phương với bài Sông" và hành trình “bản ngã” của
Nguyễn Ngọc Tư viết: “Có phải vì cái áp lực vô hình đó mà ở Sông, ta gặp
một giọng văn dường có chút phân vân, chênh chao, đôi chỗ gồng lên, như
thể muốn dứt khỏi cái mình đã là nhưng chưa tới được cái mình muốn là.
Thật thú vị, cái giọng văn đang đi tìm chính mình ấy, vô tình, hay nếu là chủ
ý thì trong một xếp đặt khéo léo đến mức không còn dấu vết của tính toán, lại
phù hợp kỳ lạ với cái ý tưởng xuyên suốt tiểu thuyết Sông, làm nên cái
“duyên” riêng của nó”. [39]
Tác giả Hòa Bình trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư thèm nghe tiếng
5
người nhận định: “Không có cánh đồng, không có dòng sông, Đảo bắt
đầu bằng nội tâm và kết thúc bằng nội tâm của nhân vật song con đường
đó cũng dài vô tận trong cuộc đấu tranh, chịu đựng, khao khát và bản ngã
của mỗi người. [5]
Với những bài viết trên, đa phần các tác giả dù ít dù nhiều đều đề cập
những vấn đề liên quan đến đề tài. Chúng tôi coi những bài viết và các
công trình khoa học đi trước như là những gợi dẫn quý báu trong quá trình
thực hiện đề tài này. Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về
Chủ đề truy tìm bản ngã trong văn xuôi của Nguyễn Ngọc Tư. Vì vậy,
người viết chọn đề Chủ đề truy tìm bản ngã trong văn xuôi Nguyễn Ngọc
Tư với hi vọng đóng góp một cách nhìn mới, toàn diện hơn về văn xuôi
Nguyễn Ngọc Tư.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chủ đề truy tìm bản ngã trong
văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư, thể hiện từ quan niệm được phát biểu trực tiếp
tác phẩm thuộc về các thể loại văn xuôi khác nhau như thế thì không thể
không vận dụng phương pháp này.
4.3. Phương pháp thống kê phân loại
Để có những căn cứ cụ thể, xác thực trong văn bản làm chỗ dựa
cho những khái quát và nhận định của luận văn, thì không thể không tiến
hành thống kê và phân loại các dữ kiện thuộc cả về nội dung cùng hình
thức của nó.
4.4. Phương pháp so sánh
Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp so
sánh, đối chiếu qua đó làm nổi bật sự độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư ở chủ đề
này. Cụ thể chúng tôi so sánh Nguyễn Ngọc Tư với những tác giả cùng thời;
so sánh Nguyễn Ngọc Tư với các tác giả trước đó để thấy được đóng góp của
Nguyễn Ngọc Tư trong cả tiến trình văn học.
7
5. Đóng góp của luận văn
Với đề tài Chủ đề truy tìm bản ngã trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư,
luận văn hướng đến những đóng góp sau:
- Làm nổi bật một giá trị còn ít được đề cập trong văn xuôi Nguyễn
Ngọc Tư : chủ đề truy tìm bản ngã.
- Góp phần xác định những đóng góp độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư đối
với văn xuôi nói riêng, văn học Việt Nam nói chung.
- Đóng góp một tài liệu hữu ích cho các bạn sinh viên yêu thích tác giả
Nguyễn Ngọc Tư cùng các sáng tác của nhà văn này
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung chính của luận văn bao gồm ba
chương
Chương 1 : Chủ đề truy tìm bản ngã trong văn học và quan niệm về
Trong triết lý Phật giáo, "cái tôi", thường gọi là "ngã", là "cái tôi"
được thiết thuyết với một thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng của tụ tán,
sinh tử. Đạo Phật, đặc biệt là truyền thống nguyên thủy (Nam Tông, Tiểu
thừa), không công nhận sự hiện diện "sự có mặt" của một "ngã" như tâm lý
học. Cái mà người ta hiểu lầm là cái tôi thì nó được cấu thành từ Sắc (phần
9
thân thể) và Danh (phần tâm thức) biến đổi không ngừng trong từng sát na
(đơn vị nhỏ hơn 1 giây). Danh gồm những tiến trình tâm, một tiến trình có
tâm vương (là tâm chủ) và các trạng thái tâm thuộc tâm vương, gọi là các
tâm sở. Danh gồm 4 phần Thọ (cảm giác), Tưởng (tư tưởng, hồi tưởng),
Hành (các hoạt động tâm có tác ý), Thức (đồng sanh và đồng diệt với Thọ
Tưởng Hành). Hành có 50 tâm sở (trạng thái liên kết với Tâm Vương, hay
Tâm Chủ, hay gọi tắt là Tâm, hoặc là Thức). Theo như Phật Thích Ca thuyết
(trong Kinh Vô Ngã Tướng) thì Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức là vô thường;
cái gì vô thường thì mang bản tính hoại diệt nên khổ; cái gì là khổ, sanh lên
tùy nhân duyên thì là vô ngã (không có cái tôi, không có cốt lõi vững bền)”
[60].
Trong luận văn này, bản ngã được hiểu như là những giá trị làm nên
bản sắc của con người cá nhân. Giá trị ấy có thể là những phẩm hạnh,
những năng lực, những khát khao, những quan niệm tốt đẹp, những trải
nghiệm nhân sinh quý giá... Nó khiến một cá nhân có thể vững tâm kiêu
hãnh làm người trong cõi nhân gian của mình. Bởi lẽ, như một quy luật, là
con người, ai cũng muốn đánh dấu sự hiện diện của mình trong cuộc sống.
Bản ngã là đánh dấu sự hiện diện của con người vừa mang tính bản năng
cùng với sự nỗ lực tự thể hiện của cá nhân. Nhu cầu thể hiện bản ngã khẳng
định tính tồn tại, tính chủ quyền, tính hơn hẳn, tính khác biệt. Bởi vậy bản
ngã quan trọng nhất là giá trị riêng có của một người trong xã hội, được xã
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Nguyễn Công Trứ - một vị quan văn võ song toàn đã đóng góp
nhiều công lao cho đất nước lại thể hiện một cái tôi vừa thách thức vừa
thề bồi trong thơ:
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
11
(Vịnh cây thông)
Dù ý thức hay không ý thức được thì những câu thơ trên của các nhà
thơ mang đầy tính bản ngã. Tính bản ngã là một trong những nguyên nhân
sinh ra tính nhân bản của nền văn học dân tộc.
Văn học trung đại chứa đựng tâm sự của cái tôi trữ tình, cái tôi tiềm ẩn
mà thời đại hầu như không chứa nổi, khiến Nguyễn Du phải quay hỏi hậu thế:
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
(Chẳng biết ba trăm năm có lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?)
(Độc “Tiểu Thanh kí”)
Với tư tưởng “trung quân ái quốc”, xã hội phong kiến coi vua là tuyệt
đối, mọi cá nhân không được nhìn nhận. Thế nhưng, với chức năng bày tỏ
khát vọng, ước mơ, phẫn nộ và dự cảm về số phận con người, cái nhìn của
văn chương không phải là cái nhìn của vua mà là tiếng nói tình cảm khát vọng
của nhân dân, của cá nhân con người trong xã hội. Và trong một chế độ xã hội
không chấp nhận sự tồn tại của cá nhân thì việc nhà thơ đề cập đến cá nhân đã
bị tư tưởng phong kiến coi thường khước từ. Các nhà thơ trung đại người thì
bị coi là nghịch sĩ, người bị coi là nghịch tử và nghịch thần.
Văn học trung đại không hiếm sự tích về ý thức cá nhân, về tri âm, tri
lạc hậu, cái tôi trong văn học lãng mạn là một bước ngoặc có ý nghĩa nhân
văn. Nó đánh dấu sự tự ý thức về mình của con người với những ràng buộc
nghiệt ngã của thiết chế phong kiến. Cái tôi trong văn chương lãng mạn
được biểu hiện như sau:
Thứ nhất, cái tôi trong tôi trong văn chương lãng mạn là cái tôi bản thể
của con người. Đó là cái tôi vốn có từ khi con người xuất nhưng dưới chế độ
xã hội nô lệ và phong kiến, cái tôi ấy bị chà đạp và tỏa chiết. Con người đã
đánh rơi cái tôi của mình ngay từ đầu, cái tôi bị trói buộc hay chìm đắm trong
một mớ giáo lí kinh viện.
13
Thứ hai, cái tôi trong tôi trong văn chương lãng mạn gắn liền với nhu
cầu giải phóng cá tính khi giai cấp Tư sản hình thành và phát triển, nó đánh
thức cái tôi bản thể
Thứ ba, cái tôi trong tôi trong văn chương lãng mạn là cái tôi của cá
tính sáng tạo của nhà văn với tư cách là một nghệ sĩ. Cái tôi nghệ sĩ cũng
chính là cá tính sáng tạo, là bản lĩnh của nhà văn, nhà thơ. Vai trò của nó là
quyết định sự hình thành của phong cách nghệ thuật. Nó được thể hiện ở sự
tìm tòi, khám phá, phát hiện riêng của từng nhà văn, nhà thơ trong việc chọn
đề tài, nêu vấn đề, sử dụng ngôn ngữ, xây dựng hình tượng, tổ chức cốt
truyện, kết cấu tác phẩm …
Như vậy, cái tôi của văn chương lãng mạn chỉ tiến bộ tích cực và mang
ý nghĩa nhân văn ở giai đoạn đầu. Ðến giai đoạn sau, nó trở nên cực đoan, hẹp
hòi - biến thành một thứ chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, đối lập với xã hội.
Sau 1975, đặc biệt là khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, những quy
luật thời bình sớm muộn sẽ chi phối văn học. Sự thức tỉnh ý thức cá nhân diễn
ra mạnh mẽ, khi giá trị cá nhân được coi trọng. Nếu trước 1975, các nhà văn
có xu hướng thể hiện con người theo tiêu chí giai cấp, lựa chọn nhân vật điển
1.3. Quan niệm về bản ngã của Nguyễn Ngọc Tư
Là một nhà văn, Nguyễn Ngọc Tư ý thức sâu sắc về vấn đề bản ngã.
Điều đó được thể hiện như sau:
1.3.1. Bản ngã là phần cốt lõi của con người cá nhân
Macxim Gorki đã từng khẳng định: “Văn học là nhân học”. Đó là nghệ
thuật miêu tả, biểu hiện con người. Do vậy, con người chính là đối tượng chủ
yếu, là nhân vật trung tâm của văn học. Theo J.P. Sartre, con người khác con
vật ở chỗ con người có đời sống nội tâm, có ý thức, và con người có thể tạo
dựng cho thế giới những giá trị. Để khẳng định mình, để “hiện sinh”, con
người luôn có tham vọng đạt tới một cái đích nó mong muốn. Và để khẳng
định bản sắc riêng, trả lời câu hỏi: Tôi là ai? Tôi đến từ đâu? Tôi tồn tại ở cõi
15
đời này vì điều gì? Cái gì khiến cho tôi là chính tôi? con người buộc phải
tham gia vào cuộc kiếm tìm. Tìm những gì họ đã trải qua, đã đánh mất, nhìn
nhận lại những giá trị đích thực của bản thân, đánh giá vị trí của mình trong
cõi nhân sinh.
Sau 1975, khát vọng kiếm tìm, tự vấn của con người trong văn học là
quá trình vận động, phát triển của ý thức cá nhân. Nếu khởi đầu sau hòa bình,
dấu hiệu rõ nhất của cá nhân là sự thức tỉnh, ý thức về giá trị của chính mình,
là mong muốn tách mình khỏi số đông, xác lập quyền tự do lựa chọn cho bản
thân thì giai đoạn sau, con người cá nhân đi đến sự kiếm tìm, đào sâu vào bản
thể. Con người nhận thức về sự phức tạp, đa ngã của bản thân nó và các mối
quan hệ của nó trong gia đình, xã hội. Đó cũng chính là cơ sở để họ có nhận
thức rõ hơn về ý nghĩa đích thực của đời sống.
Là một cây bút trẻ, nhưng Nguyễn Ngọc Tư ý thức được sâu sắc trách
nhiệm và vai trò của người cầm bút trong sáng tác văn chương. Là người luôn
tôn trọng cái tôi, cá tính riêng và khát khao được sống là chính mình với suy
Như vậy, các nhân vật trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư luôn khao khát
được sống với chính mình, được khẳng định mình. Mặc dù con đường tìm
kiếm bản thân của họ là vô cùng gian nan, đau đớn nhưng tất thảy họ đều
nguyện hi sinh tới cùng cho mục đích sống tốt đẹp ấy. Bởi điều con người
quan tâm là được sống theo những suy nghĩ, những chân lí của mình, tìm ra
nguồn cơn sự thật, được thể hiện, khẳng định mình trong cuộc sống …
1.3.2. Hạnh phúc sâu sắc nhất là được sống với bản ngã của mình
Khi nhận thức về giá trị của cái tôi, con người cá nhân luôn có khát
vọng tìm kiếm những giá trị đích thực của đời sống. Điều đó giúp con người
được sống với bản ngã của mình, cũng có nghĩa là được thể hiện những giá
trị, nét tính cách riêng của mình với những phẩm hạnh, năng lực, khát khao …
của mỗi người.
Để thực hiện đam mê, khát vọng của mình, cá nhân con người luôn
17
có những lựa chọn khác nhau. Vượt qua khuôn thước số đông, có người tìm
đến với tình yêu, có người đam mê nghệ thuật, có người mơ về cái đẹp toàn
mĩ… Kiếm tìm tình yêu lí tưởng là chủ đề trong khá nhiều tác phẩm của
Nguyễn Ngọc Tư (Hiu hiu gió bấc, Huệ lấy chồng, Nước như nước mắt,
Tình Lơ, Sông …)
Bên cạnh những khao khát kiếm tìm sự hoàn hảo trong tình yêu, con
người trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư còn khao khát kiếm tìm sự nghiệp lí
tưởng. Nhà văn đã không ít lần đề cập đến lí tưởng và khao khát sự nghiệp
chân chính của những nghệ sĩ nghèo miền Tây trong hàng loạt tác phẩm.
Quách Phú Thàn (Cải ơi) vì yêu ca hát, muốn trở thành ca sĩ nối tiếng đã đành
bỏ nhà đi vì cha anh không chấp nhận niềm đam mê đó. Đào Hồng (Cuối
mùa nhan sắc) say mê nghiệp hát đến mức gửi con để đi hát; hát cả khi mang
trọng bệnh; hát đến lịm tiếng, ngã gục trên sân khấu. Phi (Biển người mênh
1.3.3. Bản ngã được hiện diện thường trực trong cảm giác
Là một phụ nữ của thời đại mới, hơn nữa lại là một nhà văn, Nguyễn
Ngọc Tư ý thức sâu sắc về giá trị của bản thân. Chị quan niệm: “Thoải mái
và vui vẻ, cảm giác bản thân là quan trọng. Gia đình, chồng con, văn
chương là quan trọng, nhưng cảm giác bản thân quan trọng nhất. Bởi
mình có muốn sống thì mình sẽ sống vì gia đình, sống cho văn chương, cho
những điều quan trọn hơn kia” [12]. Đó là một quan niệm nghe ra có vẻ
ích kỉ. Song, suy nghĩ một chút, ta sẽ thấy chị có lý. Bởi trước khi biết sống
cho người khác, sống vì người khác, mỗi người trước tiên phải biết sống tốt
với bản thân mình. Ý thức về giá trị của bản thân, tôn trọng bản thân mới
có thể biết tôn trọng giá trị của người khác. Một con người phải tìm thấy ý
nghĩa của cuộc sống mới biết cách sống.
Nguyễn Ngọc Tư coi trọng cảm giác cá nhân, muốn có một cuộc sống
“thoải mái và vui vẻ”. Đó là một quan niệm đúng, bởi nghĩ cho cùng, trong
cuộc đời mỗi người đều cố gắng phấn đấu để có được cuộc sống “thoải mái
19
và vui vẻ”. Chỉ khi bản thân thấy hạnh phúc, thỏa mái với những gì mình có
thì sự vật lộn ấy mới có ý nghĩa. Do vậy, muốn sống vì gia đình, vì sự nghiệp
thì trước hết mỗi người phải tự chăm sóc lấy bản thân mình, nuôi dưỡng tinh
thần, rèn luyện sức khỏe, ý chí để có thể đưa tay ra giúp đỡ người khác.
Bên cạnh cuộc sống “thoải mái và vui vẻ”, uớc muốn về một cuộc sống
giản đơn, thanh thản luôn là một nhu cầu thường trực của con người từ xưa
đến nay. Sinh ra và lớn lên giữa những người nông dân hiền lành chất phác,
Nguyễn Ngọc Tư luôn ước muốn một cuộc sống như thế. Trong Nguyệt người bạn không viết văn chị đã suy nghĩ nhiều khi chứng kiến cuộc sống
của Nguyệt và Bèo. Nguyệt chẳng liên quan gì đến văn chương, cô sống thỏa
mái, thanh thản, chỉ biết chăm sóc chồng con. Người bạn tên Bèo cuộc sống
còn nhiều khó khăn, nhà cửa dột nát, nghề nghiệp cũng bấp bênh. Vậy mà cô
21
Chương 2
CHỦ ĐỀ TRUY TÌM BẢN NGÃ TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN NGỌC
TƯ, NHÌN TỪ THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG
2.1. Hình tượng tác giả đầy trăn trở về bản thể người
Hình tượng tác giả là một trong những thành tố của tác phẩm văn học,
là hình thức có mặt gián tiếp của tác giả ngay bên trong tác phẩm của mình.
Nói đến hình tượng tác giả là nói đến dấu ấn cá nhân của những lớp ngôn từ
nghệ thuật, sự hình 2 thành hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất gắn với cái
“tôi” hoặc “ta”, sự thừa nhận hình ảnh nhà văn như là người nói với độc giả
nhân danh bản thân mình… Trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư, hình tượng tác
giả đầy trăn trở về bản thể người được thể hiện ở ý thức về bản ngã, khẳng
định cái tôi cá nhân, đồng thời cũng là sự khẳng định ý thức về nghề nghiệp,
khẳng định cái tôi nghệ sĩ. Điều này được từ thể hiện trong những phát biểu
trực tiếp của nhà văn trong ở các bài trả lời phỏng vấn trực tiếp đến những tác
phẩm văn xuôi từ tản văn, truyện ngắn cho đến tiểu thuyết, đặc biệt là tản văn.
2.1.1. Ý thức về bản ngã, khẳng định cái tôi cá nhân
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã từng nghiệm thấy : “Con người
sinh ra ở đâu thì mặt mày giống cha mẹ, còn diện mạo tinh thần thì lại
giống xứ sở nơi nó sinh ra”. Quả thật, ảnh hưởng trực tiếp tới “diện mạo
tinh thần” mỗi người chính là bản sắc quê hương. Bước vào những trang
văn của Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta cảm nhận một tình yêu rạo rực, một
niềm tự hào tha thiết, một sự thôi thúc kiếm tìm “diện mạo tinh thần” của
chính mình, thể hiện qua sự gắn bó với Cà Mau nói riêng và mảnh đất Nam
Bộ nói chung. Nhà văn đã từng khẳng định, sự gắn bó với quê hương, xứ
sở là một điều hết sức bình dị, tự nhiên trong tâm hồn mình. Đối với chị,
những cái tên như Hà Tiên, Bến Tre, Đất Cháy, Cà Mau … đều mang đến