BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGÔ THỊ HUẾ
H×NH T¦îNG NG¦êI ANH HïNG CHèNG NGO¹I X¢M
Qua NHãM TRUYÒN THUYÕT CHI L¡NG, L¹NG S¥N
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số : 60.22.01.25
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Trường Phát
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn lãnh đạo trường Đại học sư phạm Hà Nội và
khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện để em thực hiện luận văn của mình. Cảm ơn quý Thầy,
Cô đã nhiệt tình giảng dạy em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn.
Đặc biệt, xin gửi đến PGS.TS Lê Trường Phát lòng biết ơn sâu thẳm, chân
thành. Thầy đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, trao đổi, và đặt niềm tin vào bài nghiên
cứu của em.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, ủng hộ
em trong suốt quá trình nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Ngô Thị Huế
TRONG TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN Ở CHI LĂNG.......................................38
2.1. Đặc điểm nội dung về nhân vật người anh hùng chống ngoại xâm trong truyền
thuyết vùng Chi Lăng.................................................................................................38
2.2. Truyền thuyết Chi Lăng mang nội dung phản ánh lịch sử.................................51
2.3. Tinh thần đoàn kết và vai trò của hậu phương....................................................51
2.4. Truyền thuyết thể hiện sự ngợi ca, tôn vinh của người dân đối với những anh
hùng dân tộc và mang tính giáo dục sâu sắc..............................................................53
2.5. Hình ảnh người anh hùng chống ngoại xâm gắn liền với các địa danh ở Chi
Lăng............................................................................................................................57
2.6. Điểm tương đồng và khác biệt về nội dung của truyền thuyết về hình tượng
người anh hùng chống ngoại xâm vùng Chi Lăng, so với những truyền thuyết về
hình tượng anh hùng chống ngoại xâm ở các vùng khác trên đất nước ta................59
Chương 3....................................................................................................................65
ĐẶC ĐIỂM VỀ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CỦA HÌNH TƯỢNG...................65
NHÂN VẬT ANH HÙNG CHỐNG NGOẠI XÂM.................................................65
TRONG NHÓM TRUYỀN THUYẾT CHI LĂNG.................................................65
3.1. Kết cấu.................................................................................................................65
3.2. Nhân vật và nghệ thuật xây dựng hình tượng anh hùng chống ngoại xâm........68
3.3. Một số mô típ được sử dụng trong truyền thuyết...............................................72
3.4. Biểu tượng...........................................................................................................82
3.5. Thời gian và không gian nghệ thuật....................................................................86
3.6. Điểm tương đồng và khác biệt về hình thức nghệ thuật của hình tượng người
anh hùng chống ngoại xâm vùng Chi Lăng, so với những truyền thuyết về hình
tượng anh hùng chống ngoại xâm ở các vùng các trên đất nước ta..........................89
KẾT LUẬN................................................................................................................92
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................94
2.1. Đặc điểm nội dung về nhân vật người anh hùng chống ngoại xâm trong truyền
thuyết vùng Chi Lăng.................................................................................................38
2.2. Truyền thuyết Chi Lăng mang nội dung phản ánh lịch sử.................................51
2.3. Tinh thần đoàn kết và vai trò của hậu phương....................................................51
2.4. Truyền thuyết thể hiện sự ngợi ca, tôn vinh của người dân đối với những anh
hùng dân tộc và mang tính giáo dục sâu sắc..............................................................53
2.5. Hình ảnh người anh hùng chống ngoại xâm gắn liền với các địa danh ở Chi
Lăng............................................................................................................................57
2.6. Điểm tương đồng và khác biệt về nội dung của truyền thuyết về hình tượng
người anh hùng chống ngoại xâm vùng Chi Lăng, so với những truyền thuyết về
hình tượng anh hùng chống ngoại xâm ở các vùng khác trên đất nước ta................59
Chương 3....................................................................................................................65
ĐẶC ĐIỂM VỀ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CỦA HÌNH TƯỢNG...................65
NHÂN VẬT ANH HÙNG CHỐNG NGOẠI XÂM.................................................65
TRONG NHÓM TRUYỀN THUYẾT CHI LĂNG.................................................65
3.1. Kết cấu.................................................................................................................65
3.2. Nhân vật và nghệ thuật xây dựng hình tượng anh hùng chống ngoại xâm........68
3.3. Một số mô típ được sử dụng trong truyền thuyết...............................................72
3.4. Biểu tượng...........................................................................................................82
3.5. Thời gian và không gian nghệ thuật....................................................................86
3.6. Điểm tương đồng và khác biệt về hình thức nghệ thuật của hình tượng người
anh hùng chống ngoại xâm vùng Chi Lăng, so với những truyền thuyết về hình
tượng anh hùng chống ngoại xâm ở các vùng các trên đất nước ta..........................89
KẾT LUẬN................................................................................................................92
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................94
MỞ ĐẦU
Chủ đề chống xâm lược phương Bắc là một chủ đề khá phổ biến trong nền
văn học Việt Nam qua các giai đoạn, đặc biệt đối với văn học dân gian và được biểu
hiện đậm nét trong truyền thuyết. Có lẽ, ít có nơi nào như mảnh đất Chi Lăng, lớp
1
lớp chiến công, mỗi tấc đất, mỗi ngọn núi, dòng sông... đều mang trong mình dấu
tích của những chiến công hiển hách, những huyền thoại vô cùng đẹp đẽ về tinh
thần mưu trí, dũng cảm, quyết hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc của những
người anh hùng chống ngoại xâm trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
4. Khu di tích Chi Lăng gồm 52 điểm di tích trải dài khoảng 15km dọc theo
thung lũng sông Thương - bắt đầu từ địa phận Sông Hoá đến giáp xã Mai Sao (km
100 đến km 115 quốc lộ Hà Nội - Lạng Sơn), chủ yếu thuộc hai xã Chi Lăng và
Quang Lang của huyện Chi Lăng. Đây là khu di tích lịch sử ghi dấu chiến thắng
chống Tống (thế kỷ XI), chiến thắng chống quân Nguyên (thế kỷ XIII), chống Pháp
cuối thế kỷ XIX - đặc biệt, là chiến thắng Chi Lăng ngày 10/10/1427, quân ta tiêu
diệt đạo quân tiếp viện hơn 10 vạn quân tinh nhuệ do Liễu Thăng chỉ huy, góp phần
quyết định kết thúc cuộc trường kỳ kháng chiến chống giặc Minh trong suốt 20 năm
của dân tộc.
Ngày 28/4/1962, Bộ Văn hoá ra quyết định 313-VH/VP, khu di tích Chi
Lăng xếp hạng di tích Quốc gia đợt một. Khi được công nhận di tích Quốc gia, khu
di tích Chi Lăng được xác định với phạm vi chung rộng lớn, bao gồm toàn bộ vùng
đất đã diễn ra chiến trận ở Chi Lăng. Sau này, căn cứ vào sự kiện lịch sử và thực
địa, ngành văn hoá Lạng Sơn dần xác định cụ thể từng điểm di tích. Có những di
tích chỉ đơn thuần là sự kiện, nhân vật có thật trong lịch sử, nhưng có nhiều di tích
lại gắn với truyền thuyết dân gian vô cùng sống động. Lịch sử và truyền thuyết đan
xen vào nhau đã tạo nên một Chi Lăng huyền thoại sáng mãi chiến công trong ký ức
dân tộc và tâm thức mỗi người dân nước Việt.
6. Bản thân tác giả là người con sinh ra trên mảnh đất huyện Lạng Giang,
xứ Lạng được đề cập đến trong một số cuốn sách, bài viết về văn học dân gian miền
núi phía Bắc, các truyện kể, luận văn, luận án… và ngày càng được quan tâm, khai
thác, tìm hiểu. Có thể kể đến như:
Bài viết: “Sắc thái truyền thuyết trong Folkore xứ Lạng” của tác giả Lê Trường
Phát, đăng trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật năm 1993, đã đưa ra một cái nhìn mới, toàn
diện về truyền thuyết dân gian xứ Lạng. Tác giả đi phân tích một số đặc điểm về nội
dung và hình thức nghệ thuật của mảng truyền thuyết về đề tài chống ngoại xâm. Đặc
biệt là việc so sánh truyền thuyết dân gian Lạng Sơn với một số địa phương khác để
làm nổi bật đặc trưng của thể loại truyền thuyết dân gian ở đây.
Cuốn: “Truyện cổ xứ Lạng” của Nguyễn Duy Bắc (1997), Nxb Văn hóa dân tộc,
Hà Nội, đã bước đầu thống kê các truyện kể dân gian ở xứ Lạng nhưng trong cuốn sách
này tác giả chưa phân loại các truyện theo đặc trưng của từng thể loại riêng biệt.
Trong hai cuốn “Lễ hội dân gian Lạng Sơn”, của tập thể các tác giả Hoàng Páo,
Hà Văn Thanh, Bế Kim Loan, Vũ Kiều Oanh (2002), Sở Văn hóa thông tin tỉnh Lạng
Sơn.) và “Ai lên xứ Lạng”, của Hà Văn Thư - Hoàng Văn Nam - Vi Hồng Nhân Vương Toàn (1994), Nxb văn hóa dân tộc Hà Nội. Hai cuốn sách này có điểm qua sơ
lược một số truyền thuyết dân gian Lạng Sơn gắn liền với lễ hội và vẽ ra một bức tranh
toàn diện về đời sống tinh thần của nhân dân các tộc miền biên ải của Tổ quốc.
3
Ngoài ra, còn phải kể đến một số các công trình nghiên cứu là khóa luận,
luận văn, luận án về truyền thuyết dân gian ở Lạng Sơn như:
- Hoàng Thị Khánh Xuân (2007), “Truyền thuyết Bàn Hồ và tục thờ cúng
Bàn Hồ của người Dao Lô Gang ở huyện Lộc Bình - tỉnh Lạng Sơn”, Luận văn thạc
sĩ khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Phạm Thị Huyền (2008), “Truyền thuyết và lễ hội ven sông Kỳ Cùng Lạng Sơn”, Khóa luận tốt nghiệp Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
- Nguyễn Thị Tân Hương (2012), “Khảo sát truyện kể dân gian Tày Nùng xứ
Lạng”, luận văn thạc sĩ, trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên.
- Phạm Duy Tùng (2014), “Truyền thuyết về núi non xứ Lạng”, Luận văn thạc
vùng Đại Từ Thái Nguyên”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
- Hà Xuân Hương (2011), “Mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ
hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc”, Luận văn thạc sĩ,
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội.
…
Những công trình trên đều nêu lên những nét đặc trưng của truyền thuyết ở địa
phương về người anh hùng chống ngoại xâm gắn với văn hóa, tín ngưỡng và lễ hội. Đây là
một hướng nghiên cứu mang lại những phát hiện giá trị, có nhiều đóng góp to lớn.
Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết về đề tài người anh hùng chống ngoại
xâm vùng Chi Lăng, Lạng Sơn.
Chi Lăng - mảnh đất với bao kỳ tích lịch sử gắn liền với cuộc đấu tranh dựng
nước và giữ nước của dân tộc ta qua các thời kỳ lịch sử. Nhiều cây bút đã khắc họa
những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử của địa phương với lòng tự hào và ý thức
giáo dục truyền thống lịch sử cho các thế hệ sau. Trong những năm qua, có thể nói
số lượng các công trình sưu tầm, nghiên cứu về truyền thuyết Chi Lăng đã được
quan tâm nhưng trong một số công trình, bài báo, chủ yếu là của địa phương, thể
loại truyền thuyết mới chỉ được điểm qua một cách sơ lược.
Năm 1987, nhân kỷ niệm 555 năm chiến thắng Chi Lăng (1427 – 1982), tại
mảnh đất Chi Lăng, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn cùng Viện sử học
Việt Nam đã tổ chức Hội nghị khoa học “Chi Lăng lịch sử”. Tập kỷ yếu với trên 30
bản báo cáo khoa học và tham luận của các nhà khoa học Trung ương và địa
phương chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu thắng lợi quân sự của chiến thắng
Chi Lăng – Xương Giang ở thế kỷ XV, khẳng định vị thế hiểm yếu của vùng đất
Chi Lăng. Trong đó, chúng tôi tổng hợp được 8 truyền thuyết về đề tài người anh
hùng chống ngoại xâm gắn ở Chi Lăng, Lạng Sơn.
Nhiều tác giả ở địa phương đã khai thác truyền thuyết bám sát với đề tài lịch sử
và hiện thực cuộc sống và có nhiều tác phẩm có giá trị và ý nghĩa về văn học như:
“Ngả đường khiếp sợ” (Nông Văn Côn), cuộc kháng chiến của quân dân cả nước và
những nghĩa binh người Lạng Sơn đã chém đầu tên tướng giặc Liễu Thăng trong cuộc
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn là bước tổng hợp mới về những thành tựu nghiên cứu về nhóm
truyền thuyết Chi Lăng đặc biệt là nhóm truyền thuyết về hình tượng người anh
hùng chống ngoại xâm trong nhóm truyền thuyết Chi Lăng, Lạng Sơn.
Trong khuôn khổ đề tài, người viết đi vào khảo sát nhóm truyền thuyết Chi
Lăng về hình tượng người anh hùng chống ngoại xâm giai đoạn chống phong kiến
phương Bắc. Từ đó, phân tích những đặc điểm cơ bản về nội dung, nghệ thuật và ý
6
nghĩa để làm rõ đặc trưng của thể loại truyền thuyết về đề tài người anh hùng chống
ngoại xâm ở Chi Lăng, Lạng Sơn so với các địa phương khác. Trên cơ sở đó, khẳng
định vai trò, vị trí và ý nghĩa của việc giữ gìn phát huy và bảo tồn kho tàng truyền
thuyết của địa phương nói riêng và cả nước nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các truyền thuyết về đề tài người anh hùng chống ngoại xâm trong nhóm
truyền thuyết Chi Lăng, Lạng Sơn trong thời kỳ chống phong kiến phương Bắc
được sưu tầm, biên soạn và xuất bản.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tài liệu chúng tôi chọn làm tài liệu khảo sát chính là những truyền thuyết trong
cuốn sách “Kỳ tích Chi Lăng” của Nguyễn Trường Thanh, Nxb Thanh niên, năm 2014.
Cùng với một số truyện sưu tầm trong công trình “Chi Lăng lịch sử”, nhiều tác giả,
Nxb Sở văn hóa thông tin tỉnh Lạng Sơn, 1987. Cuốn “Ai lên xứ Lạng” của Hà Văn
Thư, Hoàng Nam, Vi Hồng Nhân, Vương Toàn, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1994.
Ngoài ra, chúng tôi còn mở rộng biên độ khảo sát các truyền thuyết về đề tài
người anh hùng chống ngoại xâm ở một số địa phương khác để làm sáng tỏ những
vấn đề có liên quan.
5. Phương pháp nghiên cứu
Góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần của văn
học dân gian Chi Lăng, Lạng Sơn nói riêng và văn học dân gian cả nước nói chung.
Từ đó khẳng định sự bền vững của bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương và của
đất nước Việt Nam.
Luận văn góp thêm một phần trong việc bồi đắp tinh thần yêu nước, khơi dậy
lòng tự hào dân tộc, ý thức xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước của thế hệ trẻ
hôm nay. Cũng thông qua đó, luận văn cũng giúp cho việc giảng dạy của giáo viên
địa phương có thêm nguồn tư liệu về thể loại truyền thuyết và truyền thống đấu
tranh chống ngoại xâm trong chương trình giảng dạy của mình và học sinh có
những kiến thức về truyền thuyết và truyền thống của địa phương để phục vụ học
tập được tốt hơn.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung.
Chương 2: Đặc điểm về nội dung của hình tượng người anh hùng chống
ngoại xâm trong nhóm truyền thuyết dân gian ở Chi Lăng.
Chương 3: Đặc điểm về hình thức nghệ thuật của hình tượng người anh
hùng chống ngoại xâm trong nhóm truyền thuyết Chi Lăng.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái quát chung về vùng đất, con người, lịch sử Chi Lăng
Quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của văn học dân gian nói chung và
truyền thuyết dân gian nói riêng bao giờ cũng gắn liền với điều kiện lịch sử, văn
hóa, xã hội và tâm lý của con người. Do vậy, trước khi khảo sát thể loại truyền
thuyết về người anh hùng chống giặc ngoại xâm, cần phải có những tìm hiểu về
sử. Đồng thời, đó cũng là điều kiện cho sự giao lưu văn hoá Nam - Bắc của Chi
Lăng. Mang vị trí địa lý thuận lợi như vậy tự bản thân nơi đây đã tạo cho mình
những tiềm năng thương mại du lịch và giao lưu kinh tế quốc tế và văn hóa.
1.1.1.2. Điều kiện tự nhiên
- Chi Lăng một địa hình vòng tròn khép kín vững chắc
Trong quá trình lịch sử kiến tạo lâu dài của lớp vỏ trái đất đã tạo nên một Chi
Lăng có địa hình không giống với bất cứ địa phương nào. Đó là Chi Lăng nằm gọn
trong một thung lũng hình bầu dục, hai đầu chụm lại, đoạn giữa phình ra hai bên.
Chính do điểm độc đáo về địa hình này mà người ta mệnh danh Chi Lăng với cái
tên “Quả bầu Chi Lăng”.
Nếu đi từ xã Bắc Thủy, qua xã Mai Sao, tới Ngõ Thề, xuống Đồng Bành Cầu Quan Âm chúng ta sẽ thấy rõ địa hình tròn gần như khép lại: phía Bắc bắt đầu
từ Làng Đăng, Làng Cóc, phía Nam là Ngõ Thề. Chính đặc điểm cấu trúc này tạo
nên hướng núi đặc biệt. Hướng núi ở Chi Lăng xét theo tổng thể địa hình cả nước
(hướng Tây Bắc- Đông Nam) là Bảo Đài, Thái Họa thấp dần xuống theo hướng Lục
Ngạn (Bắc Giang) và thấp nhất là Quảng Yên (Quảng Ninh). Theo hướng vòng
cung là dãy núi Cai Kinh. Ngoài ra, địa hình khép kín này tạo ra một cấu trúc địa
chất đa dạng, một vùng tổng hợp sự phức tạp về địa hình, một sự kết hợp vừa là núi
đá vừa là núi đất tạo nên một yếu tố khép kín với các dãy núi chạy song song và bao
lẫn nhau tạo nên một thung lũng Chi Lăng - một cửa ải dài và nổi bật về mặt địa
hình - một yếu tố lợi hại về quân sự.
Hình như, thiên nhiên đã cố ý tạo nên cửa ải lịch sử này. Hai rặng núi đá từ
Đông Bắc và Tây Bắc chạy về đến đây đều khép lại như hai nan cái của chiếc quạt
giấy chạy về điểm tựa. Và cũng chính từ cửa ải Chi Lăng, hai rặng núi như hai cánh
tay khổng lồ giang rộng ra ôm cả một vùng đất nước đến mãi sông Cầu.
Nếu đứng từ phía Bắc nhìn về Qủy Môn quan như là mút của một chiếc hom
giỏ khổng lồ nơi địa đầu Tổ quốc. Địa thế ở đây vô cùng hiểm trở, hai bên là vách
đá cao thẳng đứng. Rừng cây trùng điệp. Ở giữa là dòng sông, mùa thu nước trong
dọc ngang.
Nếu nói sự cắt xẻ và phức tạp của Chi Lăng chỉ là núi thôi thì chưa đủ. Yếu
tố tác động trở lại làm cho địa hình càng phức tạp hơn phải kể đến các yếu tố khí
hậu, nguồn nước và thảm thực vật.
Chi Lăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc điểm chung
của khí hậu miền Bắc. Mùa đông với gió mùa đông bắc lạnh, ít mưa, nhiều năm có
sương muối. Mùa hạ có gió đông nam, nền nhiệt cao, nhiều giông bão, nhiều mưa.
Nguồn nước ở Chi Lăng khá dồi dào. Con sông Thương bắt nguồn từ phía
bắc của huyện là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp và sinh
hoạt khu vực nông thôn, cũng như là nguồn nước lớn phục vụ sản xuất và sinh hoạt
của cư dân trong vùng. Sông suối không chỉ đem lại nguồn nước và cá tôm mà từ
xưa còn là nơi tập duyệt, là trận chiến của nghĩa binh ta với kẻ thù.
Trước đây thảm thực vật Chi Lăng và rừng chưa bị tàn phá nhiều nên lượng
11
nước tương đối điều hòa. Bên cạnh dòng sông Thương xuất hiện các khe suối càng
làm cho địa hình trở nên phức tạp. Chi Lăng gồm hai kiểu rừng cơ bản là rừng rậm
và rừng lá thường khô nhiệt đới. Rừng Chi Lăng rất phong phú về thành phần loại
cây cũng như trữ lượng các loại cây như: lim, trầm, mộc lan, nghiến, lát, hoàng đàn,
cam thảo, hà thủ ô,... Núi rừng không chỉ bao bọc, che chở mà còn cung cấp nguồn
lương thực dồi dào như trái cây, rau rừng, thịt thú,…và biết bao cây dược liệu quý
hiếm. Yếu tố rừng một mặt làm cho cảnh quan thêm phức tạp, mặt khác chính
những yếu tố đó là điều kiện thuận lợi cho việc bố phòng quân sự.
- Chi Lăng - một thế hiểm, đặc biệt là con đường độc đạo.
Chi Lăng là tên một cửa ải đã trở thành tên gọi chung cho cả dải chiến
trường liên hoàn gồm nhiều cửa ải, nhiều trận địa phối hợp chặt chẽ với nhau, chạy
dài mấy chục cây số dọc quốc lộ 1A bây giờ, từ ải Pha Lũy (tức Mục Nam Quan)
đến ải Chi Lăng (53km) và quá xuống một chút đến Hữu Lũng giáp giới hai tỉnh
lợi với chúng thành những bất lợi khi chúng đi qua ải Chi Lăng. Bởi, với vị trí địa lý
và địa thế của cửa ải, đã bao lần là mồ chôn quân cướp nước từ phương Bắc tràn
xuống. Với các yếu tố tự nhiên, Chi Lăng là “một thiên thời địa lợi” đối với ta,
nhưng lại là “một bất lợi” lớn đối với kẻ thù. Núi rừng Chi Lăng với thế hiểm độc
đáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược. Nắm
được đặc điểm của thế núi, thế sông với lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc, ông
cha ta đã đánh tan quân thù, đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.
Với vị trí chiến lược như vậy, từ xa xưa cha ông ta đã xây dựng ở đây một
phòng tuyến vững chắc. Mỗi ngọn núi, con sông ở Chi Lăng là một trận địa tiêu diệt
quân thù. Bởi, nếu Chi Lăng bị mất hoặc quân xâm lược đã qua được Chi Lăng thì
thành Đông Quan (Hà Nội) và các vùng khác sẽ bị uy hiếp. Quân Minh từng gọi:
“Ải Chi Lăng là cổ họng của Giao Chỉ, là nơi hiểm yếu đại quân ra vào” [31; 42].
Khi quân địch tiến công vào thì bằng những chiến lũy kỳ diệu ở Chi Lăng, quân ta
đã chặn đứng quân thù, từng bước chia cắt và tiêu hao sinh lực địch. Ta lùi từng
bước, để bảo toàn lực lượng và nhử địch vào những trận kịch chiến mà ta đã định
trước. Trong khi đó, ta gài một lực lượng quan trọng xung quanh chiến lũy. Khi
địch lọt sâu vào đất nước ta thì các chiến lũy ở các cửa ải trở thành những chiếc
khóa, khóa chặt sau lưng chúng lại. Qua nhiều triều đại, nhiều tên tướng giỏi, con
cưng của “thiên triều” ở các thời kỳ khác nhau đã bỏ xác tại Chi Lăng. Tướng
Quách Qùy đã phải ngửa cổ, gạt nước mắt than: “Đi mười, về không được một. Cửa
quỷ này là đất của trời”[48; 182].
Bởi vậy, ở thời nào, Chi Lăng cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng. Hơn
nữa, đây lại là đất thiêng, vùng đất “địa linh, nhân kiệt”. Thực tế lịch sử hàng ngàn
năm dựng nước và giữ nước đã chứng minh điều đó. Biết bao anh hùng hào kiệt đã
sinh ra và lớn lên, ghi lại bao chiến công trong lịch sử chống giặc ngoại xâm trên
mảnh đất này. Đó là các vị anh hùng Hoàng Đại Huề, Hoàng Đại Liệu, Kiều Liên,
Kiều Hoa, Hoàng Đình Kinh… Điều góp phần vào chiến công của họ vừa chính là
yếu tố tự nhiên “địa lợi” vừa là yếu tố con người “nhân hòa” của Chi Lăng.
Mảnh đất Chi Lăng từng chứng kiến bao chiến công lừng lẫy và sự hy sinh
4
Dân tộc
Nùng
Tày
Kinh
Các dân tộc khác
Tổng số
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
Ghi chú
36.294
49
25.921
35
10.227
13.8
1681
2.2
74.123
100
(Nguồn: thống kê của tỉnh Lạng Sơn
1993)
1.1.2.1. Một số đặc điểm chung.
Đặc điểm thứ nhất: là đặc điểm nổi bật về dân cư, đó là Chi Lăng gồm nhiều
dân tộc sống đan xen nhau cùng “chung lưng đấu cật” xây dựng quê hương. Sách
“Đồng Khánh dư địa chí” cho biết: “So với các châu huyện khác thì người Nùng ở
xen kẽ với người Thổ (Tày) nhiều hơn. Họ cần cù canh tác hơn người Thổ (Tày).
Với sự tụ cư của các dân tộc anh em đã giúp cho Chi Lăng có đầy đủ sắc thái
văn hóa và cũng như một bức tranh thu nhỏ của vùng văn hóa xứ Lạng. Trong số
các dân tộc sống ở Chi Lăng thì tộc người Tày, Nùng là hai tộc người xuất hiện sớm
nhất và cũng là hai dân tộc có số dân đông nhất.
- Dân tộc Nùng: Là dân tộc chiếm số dân đông nhất và ở vị trí hàng đầu
trong cơ cấu các tộc người trong huyện. Người Nùng đã sinh sống ở Chi Lăng từ rất
lâu đời, một phần thuộc lớp dân cư bản địa với thời gian đã dần “Tày hóa”, một
phần là mới từ Trung Quốc sang đây khoảng ba thế kỷ.
15
Người Nùng là cư dân nông nghiệp làm nương rẫy kết hợp với ruộng nước,
có nhiều kinh nghiệm làm ruộng bậc thang. Ngoài ra, người Nùng còn làm thêm
một số nghề phụ như: mộc, rèn, dệt vải, làm ngói, nung vôi… để duy trì cuộc sống.
Họ sống tập trung thành bản làng dưới chân hoặc lưng chừng núi. Đến Chi Lăng, họ
đã sống hòa hợp với cư dân địa phương, vừa đấu tranh phai phá thiên nhiên, đoàn
kết chống giặc giã, trộm cướp bảo vệ quê hương. Trải qua thời gian, họ đã trở thành
một thành viên không thể chia cắt của đại gia đình dân tộc Việt Nam. Ngày nay,
người Nùng cư trú đông ở các xã Vân Thủy, Bắc Thủy, Chi Lăng.
Văn học dân gian của người Nùng rất phong phú và đa dạng về thể loại. Văn
học dân gian gắn liền với đời sống của người Nùng, nó ra đời và phát triển trong
các sinh hoạt hàng ngày, hàng năm của quần chúng nhân dân. Nó gắn với những
cuộc trò chuyện, vui chơi, trao đổi tình cảm, lao động, cưới xin, ma chay. Nội dung
cơ bản của văn học dân gian phản ánh ước mơ chân chính của cộng đồng về cuộc
sống ấm lo, hạnh phúc.
- Dân tộc Tày: là một cộng đồng tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày –
Thái, có số dân đứng thứ hai trong số các dân tộc ở Chi Lăng (sau người Nùng).
Dân tộc Tày ở Chi Lăng là một dân tộc thuần hậu, chất phác, có những nét văn hóa
mang bản sắc riêng của dân tộc và có quan hệ gần gũi thân thuộc với các dân tộc
núi làm ăn hay những người buôn bán, những tù nhân lưu đày, con cháu quan lại
nhà Mạc…di cư lên Trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam, ngay từ buổi
đầu xây dựng nhà nước trung ương tập quyền, các vị vua Lý – Trần đã thể hiện sự
đoàn kết giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam bằng việc phong
tước, chọn phò mã trong các tộc trưởng có uy tín tại miền núi. Từ thời nhà Lê, sau
khi đánh thắng giặc Minh, triều đình đã thực hiện chính sách “phiên thần” đối với
vùng dân tộc thiểu số nói chung và Lạng Sơn nói riêng. Những đội quân “thần tốc
phiên thần” của triều đình có nhiệm vụ lên trấn ải biên cương và chiêu tập dân cư
địa phương ổn định sản xuất. Đến thời Nguyễn, với chính sách “lưu quan”, triều
đình đã cử những công thần hay con cháu của họ, chọn những người ưu tú nhất lên
miền núi chiêu dân, lập ấp, cai trị địa phương và làm nhiệm vụ trấn giữ biên ải. Quá
trình di cư của người Kinh đến Chi Lăng diễn ra liên tục trong lịch sử, có lúc lẻ tẻ,
có lúc ồ ạt.
Người Kinh khai hoang chủ yếu quê ở Thái Bình, Nam Định, Hà Tây cũ…
lên đây vào những năm 60 của thế kỷ XX, khi Đảng và nhà nước Việt Nam phát
động phong trào nhân dân miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế - văn hóa ở
miền núi. Đặc biệt, đầu thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa số lượng người Kinh ở Lạng Sơn nói chung và
trên vùng đất Chi Lăng nói riêng đã tăng lên nhanh chóng.
Hiện nay, người Kinh tập trung chủ yếu ở thị trấn Đồng Mỏ và thị trấn Chi
Lăng. Dân tộc Kinh ở đây sống cần cù, chăm chỉ, ham học hỏi, sống hòa đồng cùng
với các dân tộc khác trong huyện. Họ đã mang theo phong tục tập quán cũng như
phương thức canh tác, kinh nghiệm sản xuất từ miền xuôi lên và giao lưu văn hóa
với các dân tộc khác. Điều này làm cho văn hóa Chi Lăng thêm phong phú, đa
17
dạng.
- Dân tộc Dao: Ở Chi Lăng, dân tộc Dao sống rải rác và là dân tộc thiểu số ít
Thời kì các vua Hùng dựng nước, nước ta chia thành 15 bộ. Chi Lăng nói riêng,
tỉnh Lạng Sơn nói chung thuộc bộ Lục Hải (một trong 15 bộ của nước Văn Lang).
Thời Bắc thuộc, đời Hán, Lạng Sơn thuộc quận Giao Chỉ, sau đó đời Đường
18
thuộc Giao Châu. Theo Đại Nam nhất thống chí, đời nhà Lý, đất Châu Ôn gọi là
châu Quang Lang; thời thuộc Minh, tháng 4- 1407 Minh Thành Tổ hạ chiếu, đổi
Đại Việt làm quận Giao Chỉ. Tháng 6- 1407, lập ra 15 phủ, phủ Lạng Sơn khi đó
gồm 7 châu, 16 huyện. Châu Ôn gọi là Khâu Ôn hay huyện Ôn (thuộc phủ Lạng
Sơn). Thời Hậu Lê, đổi Khâu Ôn là châu Ôn; có 5 tổng (Mai Pha, Vân Thê, Tràng
Quế, Bằng Mạc, Sơn Trang) và 57 phố, chợ, động, quán. Bấy giờ, châu Ôn thuộc
phủ Trường Khánh, trấn Lạng Sơn.
Chi Lăng là một địa bàn có tính lịch sử lâu đời. Trải qua một nghìn năm Bắc
thuộc, vào thế kỉ X, nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập chính thức được xác
lập. Cũng từ đó tên gọi Chi Lăng, mảnh đất Chi Lăng được nói tới như là tấm cửa
lim vững chắc ở cửa ngõ chính phía Bắc của Tổ quốc.
Chi Lăng xưa thuộc Lạng Châu. Ở thời Lý trung tâm của Lạng Châu chính là
Quang Lang - Nhân Lý (Chi Lăng hiện nay). Đến thời nhà Hồ (1397), phủ Lạng
Châu được đổi thành trấn Lạng Sơn. Sách “Dư địa chí” (1435) của Nguyễn Trãi
cho biết: Trấn Lạng Sơn có một phủ gọi là phủ Tràng Khánh. Phủ này có 7 châu
trong đó có Châu Ôn (nay gọi là huyện Chi Lăng). Từ đó cho đến thời nhà Nguyễn,
Châu Ôn bao gồm các tổng:
1. Tổng Mai Pha: Gồm các xã Mai Pha, Giang Lỗi, Quảng Nhân, Quảng
Cư, Vân Nồng.
2. Tổng Vân Thê: Gồm các xã Vân Thê, An Trạch, Nhân Lý, Vân Uy, Hậu Nông
3. Tổng Tràng Quế: Gồm các xã Tràng Quế, Quý Hậu, Vân Nham, Quang
Lang, Mai Sao, Thi Cường, Gia Lộc, Tri Quan, Chi Lăng, An Bãi.
4. Tổng Sơn Trang: Gồm các xã Sơn Trang, Hiệp Hạ, Hữu Lân.