ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ LÂN
TRUYỀN THUYẾT ANH HÙNG
CHỐNG NGOẠI XÂM TRIỀU TRẦN LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Dân gian
Hà Nội - 2012
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………
4
PHẦN NỘI DUNG………………………………………………………
18
Chương 1:
KHÔNG GIAN ĐỊA - VĂN HÓA –LỊCH SỬ TRIỀU TRẦN
18
1.1. Về nguồn gốc và quê hương nhà Trần………………
18
1.2. Không gian địa lý……………………………………………
22
1.3. Văn hóa - Lịch sử……………………………………………
30
Tiểu kết chương 1……………………………………………………
35
Chương 2:
VĂN BẢN TRUYỀN THUYẾT ANH HÙNG CHỐNG NGOẠI
Trần Quốc Tuấn…………………………………………………
42
2.3.1.3. Nội dung chùm truyền thuyết về Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn…………………………………………………….
43
2.3.2. Chùm truyền thuyết về một số tướng lĩnh triều Trần
49
2.3.2.1. Bảng hệ thống chùm truyền thuyết về một số tướng lĩnh triều Trần………………………………………………………
49
2.3.2.2. Nhận xét chùm truyền thuyết về một số tướng lĩnh triều Trần …….
52
2.3.3.3. Nội dung chùm truyền thuyết về một số tướng lĩnh triều Trần………
56
2 2.3.3. Chùm truyền thuyết về các liệt nữ và nữ thần triều Trần
62
2.3.3.1. Bảng hệ thống chùm truyền thuyết về các liệt nữ và nữ thần
76
3.2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ……………………
76
3.2.2. Phân tích ý nghĩa một số mô típ cơ bản
78
3.2.2.1. Về khái niệm mô típ ………………………….
78
3.2.2.2. Mô típ sinh nở thần kì/ xuất thân kì lạ…………………….
79
3.2.2.3. Mô típ chiến công phi thường
86
3.2.2.4. Mô típ hóa
90
3.2.2.5. Mô típ vinh phong, gia phong
93
3.2.2.6. Mô típ hiển linh âm phù
94
3.3. Môi trường diễn xướng của truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm triều Trần
chống ngoại xâm triều Trần………………………………
108
3.3.3.1.Truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm triều Trần là cơ sở để các lễ hội về các anh hùng chống ngoại xâm triều Trần tồn tại và phát triển…………………………………………
108
3.3.3.2. Lễ hội về anh hùng chống ngoại xâm triều Trần là “môi trường sống” của truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm triều Trần……
110
Tiểu kết chương 3
111
PHẦN KẾT LUẬN……………………………………………………
113
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………
116
PHỤ LỤC ……………………………………………………………
122
có tâm hồn cao đẹp, biết “ ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “ uống nước nhớ
nguồn”, biết tưởng nhớ tổ tiên ông bà, biết kính trọng và biết ơn những thế hệ
cha ông có công chống giặc ngoại xâm và biết lưu giữ những giá trị văn hóa
tinh thần bằng nhiều phương thức, cách thức khác nhau. Truyền thuyết là một
thể loại văn học Dân gian đã trở thành một phương thức biểu đạt có giá trị và
hiệu quả cao về những điều đó.
1.2. Truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm chiếm số lượng lớn
trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam. Khi nghiên cứu truyền thuyết anh
hùng chống ngoại xâm trên phương diện nội dung và nghệ thuật chúng ta
5
không chỉ hiểu được lịch sử hào hùng của dân tộc mà chúng ta còn biết được
tư tưởng người Việt, tâm hồn người Việt, tinh thần dân tộc của người Việt gửi
gắm trong đó. Và hơn thế nữa, một mặt nào đó chúng ta thấy bề sâu, độ dày
văn hóa của con người Việt Nam và đất nước Việt Nam được thể hiện dưới
những tác phẩm văn học dân gian này.
1.3. Truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm triều Trần là một mảng
rất lớn trong truyền thuyết Việt Nam. Đó là truyền thuyết kể về các anh hùng
thời đại Đông A như Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, Yết
Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Lân Hổ Bên cạnh đó là những truyền
thuyết về các liệt nữ, nữ thần triều Trần như bà Quý Minh, bà chúa giữ kho
Lý Thị Châu, Nguyễn Thị Bích Châu, Linh từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung, các
nàng công chúa đời Trần và biết bao các bậc nữ lưu khác lúc sống đã góp
công sức mình trong cuộc chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, lúc mất thì
hiển linh âm phù cho đời sau. Các truyền thuyết ấy đã cho chúng ta thấy hừng
hực hào khí Đông A, tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm của quân và
dân nhà Trần. Một tinh thần thời đại, một tư tưởng lớn lao, một tâm hồn cao
đẹp của người Việt được nhân dân gửi gắm trong các truyền thuyết như một
minh chứng hùng hồn rằng đất nước Việt Nam, non sông Việt Nam sẽ trường
tồn mãi mãi vì nó được dựng xây từ những con người vĩ đại với những truyền
(NXB Giáo dục)
+ Truyền thuyết Việt Nam (NXB Văn hóa - Thông tin)
+ Truyện Các nữ thần Việt Nam (NXB Văn hóa - Thông tin)
+ Văn học Dân gian, những tác phẩm chọn lọc, Bùi Mạnh Nhị chủ biên, NXB GD.
- Các tư liệu điền dã.
3. Về khái niệm truyền thuyết và truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm
3.1.Truyền thuyết
7
Truyền thuyết ở Việt Nam xuất hiện khá sớm, được ghi lại trong Việt
điện u linh, Lĩnh Nam chích quái ( thế kỉ XIV – XV). Nhưng thuật ngữ truyền
thuyết và việc giới thiệu nó lại ra đời khá muộn, xuất hiện vào khoảng giữa
thế kỉ XX.
Định nghĩa đầu tiên về truyền thuyết có lẽ xuất hiện trong công trình
Lược thảo lịch sử Văn học Việt Nam của nhóm tác Lê Quý Đôn. Khi xác định
ranh giới giữa thần thoại và truyền thuyết, nhóm tác giả này đã bước đầu định
nghĩa về truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là tất cả những truyện lưu
hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bảo” [42,
tr. 60]
Năm 1961, trong bộ giáo trình Văn học Dân gian Việt Nam của trường
Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả Đỗ Bình Trị đã công nhận truyền thuyết là
một thể loại và đã đưa ra định nghĩa về thể loại này: “ Truyền thuyết là những
truyện dính líu đến lịch sử mà lại có sự kì diệu - là lịch sử hoang đường - hoặc
là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch sử” [ 45, tr.176].
Nhưng trong giáo trình của Đại học Tổng hợp, xuất bản năm 1962 thì
GS Đinh Gia Khánh lại không công nhận sự tồn tại của thể loại truyền thuyết
mà chỉ coi đó là cổ tích lịch sử.
Báo Nhân dân số 549 ngày 29 tháng 4 năm 1969 đăng bài “ Nhân ngày
giỗ tổ Vua Hùng” của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Trong đó cố Thủ tướng
đã nhận định mối quan hệ giữa truyền thuyết và lịch sử: “ Những truyền
Nếu như trước đây, trong giáo trình của Đại học tổng hợp GS Đinh Gia
Khánh không thừa nhận sự tồn tại của thể loại truyền thuyết thì quan điểm và
định nghĩa về truyền thuyết của GS Lê Chí Quế đánh dấu sự thay đổi của giáo
trình ĐH Tổng hợp về quan điểm nghiên cứu và giảng dạy truyền thuyết.
9
Điều này phù hợp với xu hướng chung trong việc công nhận sự tồn tại độc lập
của thể loại truyền thuyết.
Qua những khái niệm về truyền thuyết của các tác giả ta thấy rằng
những yếu tố để xác định một văn bản là truyền thuyết phải đảm bảo những
yếu tố sau:
Là một tác phẩm tự sự dân gian.
Tác phẩm có nội dung phản ánh nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử
trong quá khứ.
Tác phẩm đó có sử dụng yếu tố hư cấu, tưởng tượng.
3.2. Truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm
Truyền thuyết có nhiều loại, trong đó truyền thuyết về người anh hùng
“chiếm số lượng nhiều hơn cả” [23, tr. 211]. Có người anh hùng văn hóa như
Không lộ, Chu Văn An Có người anh hùng chống xâm lược như Hai Bà
Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, anh hùng chống phong kiến như Nguyễn Hữu
Cầu, Nam Cường, chàng Lía Trong số những truyền thuyết anh hùng thì
truyền thuyết về “anh hùng chống xâm lược là nổi bật nhất” [ 23, tr. 211].
Theo nhà nghiên cứu Phan Trần “thì mới chỉ qua các thần tích của ba tỉnh Hà
Bắc, Vĩnh Phú, Hà Tây mà đã có 60 đến 70 phần trăm là nhân vật có công
chống xâm lăng” [23, tr . 190]
Theo GS Kiều Thu Hoạch thì truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm
hoặc có thể gọi tắt là truyền thuyết chống ngoại xâm “ là một thể loại lấy các
nhân vật lịch sử chống ngoại xâm, các anh hùng dân tộc làm đối tượng phản
ánh”. [25, tr . 51]. Chúng tôi coi ý kiến này là định nghĩa về truyền thuyết anh
hùng chống ngoại xâm
nổi tiếng. Những nhân vật, anh hùng thu hút nhiều sự quan tâm chú ý nhất là
Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Tứ vị Thánh nương
11
Về Đức Thánh Trần Hưng Đạo thì Phạm Quỳnh Phương có một hệ
thống những bài viết và bài nghiên cứu về Đức Thánh Trần trên nhiều phương
diện khác nhau, như: Truyện Phạm Nhan và đôi điều lý giải (Tạp chí Văn hóa
dân gian, số 1/1999 ); Từ Trần Hưng Đạo đến Đức Thánh Trần (tạp chí văn
hóa nghệ thuật, số 9/2000) ; Đức Thánh Trần trong xã hội Việt Nam đương
đại: Tăng quyền và xung đột, sự đa nghĩa của một hiện tượng văn hóa [51],
Tín ngưỡng Đức Thánh Trần [57, tr.143]
Trong bài viết Từ Trần Hưng Đạo đến Đức Thánh Trần tác giả Phạm Quỳnh
Phương nhấn mạnh vị trí đặc biệt của Trần Hưng Đạo trong số các anh hùng
dân tộc được tôn thờ, bởi ảnh hưởng sâu rộng của nhân vật lịch sử này trong
đời sống dân tộc và tâm linh. Từ một nhân vật lịch sử, Trần Hưng Đạo trở
thành một vị Thánh là do hiện tượng văn hóa này đáp ứng được cả ba nhu
cầu: nhu cầu của những người lãnh đạo quốc gia ở nhiều thời đại (cần một
biểu tượng đề cao tinh thần yêu nước và truyền thống đánh giặc nhằm củng cố
sức mạnh cộng đồng trước mọi biến cố xã hội); nhu cầu của tầng lớp trí thức
(cần một biểu tượng về “địa linh nhân kiệt”, một anh hùng lịch sử văn hóa và
tấm gương để giáo dục truyền thống cho các thế hệ nối tiếp); nhu cầu của
quần chúng bình dân (cần biểu tượng một sức mạnh siêu phàm trợ giúp sức
khỏe, trừ mọi tà ma bệnh tật)
Bài nghiên cứu Đức Thánh Trần trong xã hội Việt Nam đương đại: Tăng
quyền và xung đột, sự đa nghĩa của một hiện tượng văn hóa thì luận bàn về vai trò
của anh hùng lịch sử và tôn giáo Trần Hưng Đạo - Đức Thánh Trần trong sự biến
đổi không ngừng của xã hội Việt Nam hiện nay. Tác giả khẳng định Trần Hưng
Đạo vẫn đang là một hiện tượng gắn với những vấn đề và biến cố của xã hội
hiện đại, Trần Hưng Đạo vẫn “ sống”. Khác với chức năng đơn thuần là trừ tà
ma, việc tôn thờ Trần Hưng Đạo nay đã mang một màu sắc mới, Đức Thánh
anh hùng (Trần Hưng Đạo) ông trở thành vị thần (Đức Thánh Trần), rồi từ
một vị thần, ông lại được làm mới lại trong con mắt dân tộc như một anh
hùng vĩ đại. Trần Hưng Đạo là điểm tựa mà trong suốt lịch sử nhiều thế kỉ và
cả hiện tại dân tộc Việt Nam hiểu, tin và diễn giải bản thân. Ông cung cấp
một liệu pháp tâm lí cho phép những người bình thường được bày tỏ mối lo
lắng của họ cũng như trao tặng một sự hợp pháp hóa về mặt chính trị hay văn
hóa. Và bởi vậy, chúng ta đã, đang và vẫn sẽ cần đến “Đức Thánh Trần Hưng
Đạo” trong cuộc hành trình đi tìm, xác định cái tôi và vị thế của cá nhân và
của dân tộc.
Một công trình nghiên cứu khác của Phạm Quỳnh Phương, đó là công
trình “Tín ngưỡng Đức Thánh Trần” được in trong “ Tín ngưỡng và văn hóa
tín ngưỡng ở Việt Nam” do Ngô Đức Thịnh chủ biên bao gồm ba phần: Phần
một tác giả nghiên cứu về truyền thuyết, di tích và lễ hội. Phần hai tác giả
nghiên cứu cơ sở văn hóa - xã hội của tín ngưỡng Đức Thánh Trần. Phần ba
tác giả tìm hiểu bản chất của hiện tượng Đức Thánh Trần. Đây là một công
trình với những trang viết rất sâu có sự dày công tìm tòi nghiên cứu, tìm hiểu
vì sao Đức Thánh Trần lại chiếm một vị trí quan trọng trong tín ngưỡng của
người Việt, vì sao Đức Thánh Trần lại chiếm giữ vị trí người Cha đối sánh
với một người mẹ ( Mẫu Liễu Hạnh ) trong tâm linh người Việt.
Trịnh Quang Khanh với tác phẩm “Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn”
cũng đã đem đến cho người đọc một cái nhìn chung nhất về cuộc đời của Trần
Hưng Đạo. Tác phẩm này bao gồm hai phần: Phần thứ nhất - vài nét về cuộc
đời và sự nghiệp của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Phần thứ hai -
Hưng Đạo Đại vương trong kí ức người đời: trong văn thơ, trong các tác
phẩm nghệ thuật Tác phẩm đề cao vai trò của Hưng Đạo trong các cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Và qua các tác phẩm nghệ thuật điêu
khắc, các tác phẩm văn thơ, sân khấu thì ta thấy Hưng Đạo Vương tồn tại
14
nghiên cứu của tác giả Hồ Đức Thọ đã góp thêm những kiến thức phong phú
và đa dạng về tục thờ Tứ vị Thánh nương ở nước ta. Qua đây ta hiểu rằng tục
thờ Tứ vị Thánh nương rất phổ biến trong cộng đồng người Việt và nó tồn tại
khắp mọi nơi từ Bắc chí Nam.
Năm 2009, tác giả Trần Thị An có bài: “Tìm hiểu sự hình thành truyền
thuyết Tứ vị Thánh Nương (qua các nguồn thư tịch, truyền thuyết dân gian và
tục thờ cúng)” đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học: Đây là một bài nghiên
cứu chuyên sâu của một nhà nghiên cứu văn học Dân gian. Qua khảo sát các
văn bản truyền thuyết, PGS -TS Trần Thị An lý giải sự hình thành của truyền
thuyết Tứ vị Thánh nương. Trong đó tác giả còn đặt ra vấn đề “
Tại sao các vị
thần Trung Quốc được thờ rộng rãi đến thế ở Việt Nam?” và để trả lời cho
câu hỏi này tác giả đã “lí giải đôi điều về thực chất của tín ngưỡng Tứ vị
Thánh nương ở Việt Nam”. Bà cho rằng: “Về bản chất của tín ngưỡng này đó
là tín ngưỡng thờ thần biển” và “trong bề sâu của tín ngưỡng thờ Tứ vị Thánh
nương có ẩn chứa một lớp tín ngưỡng thờ cá”, “ đằng sau lớp tín ngưỡng thờ
cá này còn ẩn chứa/hay đan xen những lớp tín ngưỡng khác. Đó là tín ngưỡng
thờ người chết trôi trên sông/biển tín ngưỡng hiến tế mạng người cho thủy
thần, tín ngưỡng thờ cây linh hồn”. Từ sự am hiểu về lịch sử, văn hóa, tư
tưởng tinh thần của người Việt tác giả khẳng định rằng: “sự hình thành của
một truyền thuyết, sự phát sinh, tồn tại và phát triển của một tục thờ không
đơn giản chỉ xuất phát từ niềm tin và nhu cầu của người dân mà còn chịu sự
tác động đa chiều trong các mối quan hệ chồng chéo trong lịch sử”
Trong tất cả các nơi thờ Tứ vị Thánh Nương thì đền Cờn được coi là
nơi phát tích và là trung tâm thờ cúng Tứ Vị Thánh Nương. Tại xã Quỳnh
Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, ngày 15, 16 tháng 6, năm 2009 đã
diễn ra Hội thảo khoa học Lễ hội đền Cờn, tục thờ Tứ Vị Thánh Nương với
16
tưởng- thẩm mĩ của thể loại truyền thuyết. Trong đó đã bước đầu định nghĩa về
truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm và khẳng định cụm truyền thuyết thời
Trần sục sôi hào khí Đông A, rừng rực ngọn lửa căm hờn “ Sát Thát”, nổi bật lên
tinh thần đoàn kết chiến đấu của cả dân tộc. Và cụm truyền thuyết chống xâm
lược đời Trần thể hiện “tinh thần đoàn kết chiến đấu” – “ nền tảng vững chắc của
chủ nghĩa anh hùng tập thể và truyền thống toàn dân đánh giặc” Phần Khải luận
đó đã “cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn tổng quan và một số nhận thức cơ bản
về truyền thuyết”, và những nhận định, đánh giá về truyền thuyết anh hùng chống
ngoại xâm triều Trần, là gợi ý cho việc triển khai luận văn này.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn là quá trình tổng hợp về những thành tựu sưu tầm, nghiên cứu
hệ thống truyền thuyết về các anh hùng chống ngoại xâm triều Trần, những
dấu ấn của tín ngưỡng dân gian, tôn giáo phản ánh trong truyền thuyết.
Luận văn là công trình khoa học đi sâu nghiên cứu, khảo sát, mô tả một
cách hệ thống, chi tiết truyền thuyết về các anh hùng chống ngoại xâm triều
Trần gắn với các tín ngưỡng, lễ hội.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê
Phương pháp so sánh loại hình
Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Phương pháp điền dã.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Không gian địa - văn hóa - lịch sử triều Trần
Chương 2: Văn bản truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm triều Trần
Chương 3: Nghệ thuật truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm triều Trần
18
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: KHÔNG GIAN ĐỊA - VĂN HÓA - LỊCH SỬ
Theo sử liệu và truyền thuyết về ngôi mộ kết phát thì họ Trần tuy định
cư ở Tức Mặc nhưng vẫn lênh đênh sông nước làm nghề đánh cá để kiếm
sống và nhờ cứu được ông thầy địa lý người Tàu, người này trả ơn bằng cách
chỉ cho khu đất tốt có huyệt đế vương để táng mộ. Đó là khu Tam Đường
(nay là xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Cụ Trần Hấp đã đem
mộ cha là Trần Kinh táng vào đó. Ít lâu sau ông cũng chuyển cư sang Hải Ấp
và sang cả khu Tam Đường làm ăn để gần gũi và trông nom phần mộ.
Căn cứ vào các cứ liệu trên ta có thể khẳng định rằng nhà Trần có gốc
gác thuyền chài, xuất thân từ nghề đánh cá. Nơi nào tiện cho việc đánh bắt cá
thì nhà Trần tìm đến. Hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, Nam Định được
nhà Trần lựa chọn để định cư sinh sống. Nơi đây đã trở thành vùng đất gắn bó
và là nơi phát tích của dòng họ Đông A vĩ đại.
Khi nhà Trần nắm giữ, điều hành đất nước thì một hành cung quy mô
được xây dựng trên quê hương nhà Trần. Đó là hành cung Tức Mặc. Đây
không chỉ đơn thuần là nơi nghỉ ngơi của vua và hoàng tộc mỗi khi đi kinh lý
và về quê mà như thực tế lịch sử đã chứng minh nó là một căn cứ có vị trí
chiến lược về nhiều mặt, nhất là khi có chiến tranh xảy ra.
Năm 1262 hành cung Tức Mặc được vua Trần Thái Tông đích thân đi
xem xét và mở rộng. Trong chuyến đi này ông đã cho mở tiệc để an ủi và vỗ
về dân chúng. Hương Tức Mặc được đổi thành phủ Thiên Trường và đã cho
xây dựng thêm ở đây một cung điện mới gọi là cung Trùng Quang dành cho
Thượng hoàng. Cho xây riêng một khu khác gọi là cung Trùng Hoa dành cho
các vua nối ngôi về chầu. Chùa Phổ Minh được trùng tu, tôn tạo. Nơi đây
được thiết kế xây dựng đầy đủ các cung điện, hành cung, phủ đệ, doanh trại
20
quân lính. Ngoài ra còn có cả nơi thi cử (Văn Hưng), nơi ca hát (Phương
Bông), Lựu Viên để cho vua và hoàng tộc thưởng thức, bên cạnh đó còn có cả
nơi giam giữ tù binh (Cồn Cũi), nơi phục vụ hậu cần (Hậu Bồi). Không những
thế, theo chính sách khuyến khích các hoàng thân quốc thích nhà Trần chiêu
Ngoài ra, Yên Sinh còn có lăng Đồng Thái (Trần Anh Tông), Lăng Đồng Mục
(Trần Minh Tông), Lăng Phụ Sơn (Trần Dụ Tông), Lăng Ngải Sơn (Trần
Hiến Tông), Lăng Đồng Hy (Trần Nghệ Tông, Trần Thuận Tông).
Dựa theo truyền thuyết địa phương, một số thư tịch để lại thì có nhiều ý
kiến cho rằng Long Hưng - Thái Bình mới là quê gốc, là nơi phát tích của nhà
Trần. Nơi đây hiện nay vẫn còn ngôi mộ tổ của họ Trần ở Tam Đường, xã
Tiến Đức, huyện Hưng Hà.
Trần tộc chi phả ghi rằng : “Ức tiền ngư dĩ sinh nhai, Dương Xá thủy
lai đình tất trú. Chi hậu công vu lý tộ, Khang thôn sơ định tác gia từ” (Nhớ
xưa lấy nghề chài lưới sinh sống, đầu tiên dừng chân ở Dương Xá, sau có
công giúp nhà Lý mới lập miếu Trần tại thôn Khang Kiện)
Như vậy ta thấy rằng phủ Thiên Trường - Nam Định, Long Hưng -
Thái Bình, Yên Sinh - Đông Triều - Quảng Ninh là ba nơi có liên quan mật
thiết đến triều Trần. Đã từng có những tranh luận đâu là quê hương thực của
nhà Trần? Trong “Kỷ yếu hội thảo thời Trần và Hưng Đạo Đại vương Trần
Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà” GS Trần Quốc Vượng đưa ra ý kiến:
“Sơn Tây và Vĩnh Phúc đôi bờ sông Nhị là hai nửa của một xứ Đoài. Bắc
Giang - Bắc Ninh đôi bờ sông Cầu là hai nửa của một xứ Bắc. Kinh Bắc, Hà
Đông, Hà Nam, Hưng Yên cùng trên đôi bờ sông Nhị là hai nửa của một Sơn
Nam Thượng. Vậy cớ gì Nam Định – phủ Thiên Trường và Thái Bình – phủ
Thái Bình không phải là hai nửa của một? (Sơn Nam Hạ)”
22
Nếu Nam Định được coi là “ dương cơ” thì Long Hưng - Thái Bình
và Yên Sinh - Đông Triều - Quảng Ninh lại là “âm phần” của nhà Trần. Các
nơi này đều là địa bàn phát tích, nơi cư trú, gốc tích của nhà Trần, là nơi tổ
tiên họ Trần định cư, tạo nghiệp, nảy nở, sinh sôi dòng họ Đông A vĩ đại. Là
nơi “ địa linh nhân kiệt”, sản sinh ra các anh hùng Đông A – những người làm
nên chiến công vĩ đại trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của
dân tộc. Và đó cũng là cơ sở, “ cốt lõi” để cho những truyền thuyết về các anh
Họ chinh phục thiên nhiên để phục vụ đời sống của mình như quai đê, lấn
biển để trồng lúa, làm muối và đánh cá ở ven biển nhưng chỉ là đánh bắt gần
bờ với quy mô nhỏ. Vì là nơi địa hình có nhiều mương máng, sông ngòi nên
người dân chài coi trọng khai thác đánh bắt thủy sản.
Cơ cấu làng xã trong xã hội nông nghiệp tạo sự gắn bó trong cộng đồng
làng quê, những người dân gắn bó với nhau không chỉ trong quan hệ sở hữu
ruộng đất, trên những di sản hữu thể chung như đình làng, chùa làng mà họ
gắn bó với nhau trên các quan hệ về tâm linh, về chuẩn mực xã hội, đạo
đức
Không gian địa lý vùng châu thổ Bắc Bộ đã góp phần quan trọng
trong sự hình thành tính cách cơ bản của con người Việt Nam. Tính cách ấy là
kết quả của cuộc đấu tranh sinh tồn của con người ở vùng đất này. Vì phải
chinh phục thiên nhiên, canh tác lúa nước trong điều kiện thiên nhiên khắc
nghiệt, cư dân vùng châu thổ Bắc Bộ từ thế hệ này sang thế hệ khác đã có
truyền thống cần cù, kiên trì, dũng cảm và năng động. Những đức tính ấy
được phát huy thêm trong những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm tàn bạo
Là một bộ phận của đồng bằng châu thổ Bắc Bộ nên Thiên Trường -
Nam Định, Long Hưng - Thái Bình, Yên Sinh - Đông Triều - Quảng Ninh
(thuộc Hải Dương cũ) mang những nét chung của vùng đồng bằng châu thổ