1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tòa án là cơ quan có chức năng đặc biệt trong bộ máy nhà nước Nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan duy nhất có quyền xét xử. Tòa án xét
xử và giải quyết những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh
thương mại, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật.
Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ
tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân
phẩm của công dân.
Các quyền và lợi ích chính đáng hợp pháp của công dân cụ thể có thể bị vi
phạm từ nhiều phía: đó có thể là sự vi phạm bởi hành vi trái pháp luật của các cơ
quan nhà nước nói chung (cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan hành
chính nhà nước và các cán bộ công chức của các cơ quan này) cũng như bởi hành
vi trái pháp luật của các tổ chức xã hội, kinh tế hoặc bởi công dân khác. Nhưng sự
vi phạm Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước và các cán
bộ công chức làm thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân gây nên các vụ
khiếu kiện là một vấn đề bức thiết đòi hỏi phải có sự giải quyết hiệu quả. Qua đó,
nhằm bảo vệ quyền con người, tạo dựng lòng tin của quần chúng nhân dân đối với
Nhà nước.
Nguyên tắc "Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật" trong tố tụng hành chính là một trong những nguyên tắc cơ bản để Tòa án
thực hiện nhiệm vụ xét xử nhằm thực hiện các mục tiêu đó. Nguyên tắc này là sự
thể hiện quan điểm của Nhà nước trong hoạt động xét xử các vụ án hành chính,
Hội thẩm và Thẩm phán có quyền đưa ra phán quyết trên cơ sở quy định của pháp
luật để giải quyết vụ án hành chính một cách khách quan và chính xác mà không
phải phụ thuộc vào bất cứ sự tác động nào khác, kể cả tác động của các cơ quan
Đảng hay cơ quan hành chính nhà nước. Đây là một nguyên tắc Hiến định được
ghi nhận từ rất sớm và phát triển cùng Hiến pháp và pháp luật, được ghi nhận cụ
sách chuyên khảo của các tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề này như
“Độc lập xét xử trong nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” của Tiến sĩ, luật sư Lưu
Tiến Dũng, 2012; “Tính độc lập của tòa án...” của Tiến sĩ Tô Văn Hòa,
2007;...cùng nhiều những bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành khác.
Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu và các sách báo chuyên ngành cũng chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu nguyên tắc độc lập trong tố tụng nói chung, chưa có đề tài nào đi
sâu nghiên cứu về nguyên tắc độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm trong tố tụng
hành chính. Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu về nguyên tắc này trong bối cảnh tố
tụng hành chính có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
Trên cơ sở tiếp thu, tổng hợp những đề tài, bài viết trước, cùng với sự tìm tòi,
và quá trình nghiên cứu của mình, tác giả đi vào phân tích nguyên tắc "Thẩm phán,
3
Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính", để
thấy rằng, việc áp dụng nguyên tắc này trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập và
đưa ra những giải pháp thích hợp để nguyên tắc được thực thi có hiệu quả hơn.
Đề tài lựa chọn của tác giả cũng nhằm mục đích khẳng định đường lối chủ trương
của Đảng trong cải cách tư pháp là đúng đắn, kịp thời và nên được thống nhất thực
hiện.
3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là nhằm nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ
bản về nguyên tắc "Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật" trong hoạt động xét xử các vụ án hành chính nhằm làm rõ khái niệm, nội
dung, ý nghĩa và những tồn tại khi áp dụng nguyên tắc để từ đó đưa ra các giải
pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc trong thực tiễn xét xử các vụ án hành
chính.
3.2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu của đề tài. Tùy từng chương, mỗi một
phương pháp sẽ được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác hoặc được sử
dụng với vai trò chủ đạo phù hợp nội dung nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Do nghiên cứu đề tài ở phạm vi hẹp nên luận văn có điều kiện đi sâu xem xét
nguyên tắc "Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật"
trong tố tụng hành chính ở Việt Nam, đồng thời nêu lên thực tế áp dụng nguyên tắc
này của ngành tư pháp nói chung và trong hoạt động xét xử của Tòa án nói riêng.
Trên cơ sở đó luận văn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị mang tính xây dựng
nhằm hoàn thiện hơn quy định của pháp luật về vấn đề này góp phần vào quá trình
cải cách tư pháp trong thời gian tới tại Việt Nam.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật.
Chương 2: Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật trong tố tụng hành chính.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng nguyên tắc và một số giải pháp nâng cao hiệu
quả thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật trong tố tụng hành chính.
5
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN
DÂN ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT
1.1. Khái niệm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật
Nguyên tắc là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong lý luận và thực
6
Thẩm phán và Hội thẩm chứ không phải là Tòa án nói chung- bởi vì tổ chức bộ
máy nhà nước ta theo nguyên tắc tập quyền, có sự phân công và phối hợp giữa ba
nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp chứ không theo nguyên tắc phân
quyền như các nước tư bản. Theo đó, độc lập của Tòa án Việt Nam được hiểu một
cách phổ biến là sự độc lập của cá nhân Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Thẩm
phán là một chức danh tư pháp đồng thời là ngạch chức danh trung tâm của hệ
thống tư pháp, bởi lẽ đó là người thay mặt và nhân danh nhà nước trực tiếp thực
hiện quyền tư pháp. Trước hết, họ là người có thẩm quyền đưa ra các quyết định
mang tính chất bắt buộc chung, trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến quyền tự do
cơ bản và các lợi ích hợp pháp của công dân, của các cơ quan nhà nước, của các tổ
chức xã hội, tổ chức kinh tế. Những giá trị xã hội cần thiết cho mọi nhà nước dân
chủ như: sự khẳng định và duy trì công lý, công bằng, việc thiết lập và củng cố
pháp chế, trật tự pháp luật tùy thuộc rất nhiều vào phán quyết của Thẩm phán tại
Tòa án.
Ở Việt Nam việc xét xử còn do các Hội thẩm nhân dân thực hiện. Xuất phát từ
đặc trưng cơ bản của nhà nước ta “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”,
để đảm bảo tính công bằng, bình đẳng của pháp luật thì việc xét xử không chỉ có
những người chuyên môn mà còn có đại diện từ phía nhân dân tham gia. Hội thẩm
nhân dân là người đại diện cho nhân dân trong việc tham gia xét xử vụ án, vừa đảm
bảo tính khách quan, công bằng, dân chủ trước tòa, vừa thay mặt cho nhân dân
giám sát hoạt động xét xử của Tòa án. Mặc dù Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán
có địa vị pháp lý và có nền tảng kiến thức khác nhau, nhưng về nguyên tắc tính độc
lập của họ là không có sự khác biệt. 2
Với ý nghĩa đó, các Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân phải độc lập với
nhau và độc lập với các yếu tố tác động bên ngoài. Độc lập với các yếu tố bên
ngoài là khi nghiên cứu hồ sơ cũng như khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân không bị phụ thuộc vào kết luận của Viện kiểm sát cũng như quyết định của
các cấp xét xử, Tòa án cấp trên quản lý Tòa án cấp dưới cả về tổ chức, tài chính và
chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Tòa án cấp trên và
Tòa án cấp dưới là mối quan hệ tố tụng, chứ không phải là mối quan hệ quản lý
hành chính. Tòa án cấp trên hướng dẫn Tòa án cấp dưới về áp dụng thống nhất
pháp luật, đường lối xét xử, nhưng không được quyết định hoặc gợi ý cho Tòa án
cấp dưới trước khi xét xử một vụ án cụ thể. Ngoài ra, trong hoạt động xét xử,
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có thể tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên
môn, của bất kỳ ai và phải nắm bắt dư luận xã hội, nhưng khi quyết định, Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân phải thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp của mình, xem xét
mọi vấn đề một cách độc lập, không được để cho ý kiến bên ngoài làm ảnh hưởng
tới tính khách quan của vụ án. Điều này cho thấy khái niệm này về mặt nội dung
tập trung chủ yếu vào việc bảo đảm mục đích cuối cùng của hoạt động xét xử, có
nghĩa là việc xét xử phải nghiêm minh và chỉ tuân thủ pháp luật. Vì vậy, có thể nói
khái niệm đó về mặt nội dung gần như trùng lặp với khái niệm tính khách quan khi
xét xử.
8
Vậy, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nghĩa là phải tự mình đưa ra kết luận
giải quyết vấn đề trên cơ sở quy định của pháp luật mà không phụ thuộc vào bất kỳ
yếu tố nào khác. Đó là những tư tưởng chủ đạo, định hướng trở thành xử xự bắt
buộc chung đối với thẩm phán và hội thẩm khi được phân công xét xử vụ án. Độc
lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử chỉ tuân
theo pháp luật. Tuy nhiên sự độc lập của Thẩm phán là độc lập để tuân theo pháp
luật. Sự độc lập này đòi hỏi Thẩm phán phải tuân theo pháp luật, không có bất kỳ
sự lẩn tránh nào đối với pháp luật, không bỏ lọt bất kỳ một hành vi vi phạm pháp
luật nào. Xixeron một luật sư, nhà hùng biện nổi tiếng của La Mã thời cổ đại từng
nói: “quan tòa, đó là một đạo luật biết nói, còn đạo luật là một vị quan tòa câm”.
Với những điều phân tích trên thì thẩm phán và hội thẩm là ai và vấn đề độc
luật, nhằm giải quyết vụ án một cách vô tư, khách quan. Tuy nhiên, quá trình tố
tụng bao giờ cũng đặt trong một khoảng thời gian giới hạn theo quy định của pháp
luật, vì thế, nguyên tắc độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm được hiểu trong phạm
vi như trên là hợp lý.
Như vậy, nguyên tắc Thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật được hiểu là những tư tưởng chủ đạo có tính bắt buộc chung thể hiện
quan điểm của nhà nước trong hoạt động xét xử, được quy định trong pháp luật tố
tụng, theo đó, chỉ có thẩm phán và hội thẩm mới có quyền đưa ra phán quyết trên
cơ sở quy định của pháp luật để giải quyết vụ án một cách khách quan và chính
xác mà không chịu chi phối bởi bất kỳ một sự tác động nào khác.
Trong đó, cụm từ “khi xét xử” của thẩm phán và hội thẩm được hiểu là các
hoạt động kể từ thời điểm họ được giao nhiệm vụ xét xử vụ án cho đến khi giải
quyết xong vụ án.
1.2. Nội dung nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật.
1.2.1. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập khi xét xử
* Độc lập với các yếu tố khách quan:
- Độc lập với các chủ thể khác của Tòa án: giữa Thẩm phán, Hội thẩm và
nội bộ ngành Tòa án có mối quan hệ ràng buộc nhất định được thể hiện cụ thể ở:
quan hệ giữa Thẩm phán và Tòa án cấp trên; quan hệ giữa Thẩm phán và Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao; quan hệ giữa Hội thẩm và chánh án Tòa án nơi Hội thẩm
tham gia xét xử. Những mối quan hệ này không đơn thuần là quan hệ về tổ chức
hành chính, càng không đơn thuần là quan hệ tố tụng. Trong quan hệ hành chính có
mối quan hệ tố tụng và trong quan hệ tố tụng có mối quan hệ hành chính nhất định
không có sự tách bạch rõ ràng. Ví dụ như: tiêu chí để có thể được tuyển chọn bổ
nhiệm Thẩm phán phải có phẩm chất đạo đức, năng lực, liêm khiết, do cơ quan nơi
người được tuyển chọn đánh giá thông qua việc bỏ phiếu tín nhiệm. Chánh án là
người đứng đầu cơ quan vừa sử dụng cán bộ nhưng đồng thời cũng là người quản
lí cán bộ trong đơn vị mình, ngoài việc bỏ phiếu tín nhiệm như các cán bộ công
chức khác, chánh án còn có tiếng nói quan trọng trong việc lựa chọn, định hướng
Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo
Nhà nước và xã hội”. Như vậy, một lần nữa chúng ta khẳng định nguyên tắc “Đảng
lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội” là tất yếu, là nguyên tắc tối cao và được bảo
đảm bằng Hiến pháp. Thực tiễn cách mạng nước ta cho thấy, nguyên tắc “Đảng
lãnh đạo” chính là yếu tố quan trọng nhất, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng
Việt Nam, dân tộc Việt Nam.
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, tổ chức và hoạt động của ngành
Tòa án luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hoạt động xét xử của cơ quan Tòa án
11
là hoạt động đặc thù, nhân danh Nhà nước để giải quyết các vụ án, vụ việc. Các
bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà
nước, các tổ chức và cá nhân trong xã hội tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành.
Không như hoạt động của các cơ quan khác, kết quả xét xử của Tòa án là những
phán quyết liên quan trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức xã hội,
đến sinh mệnh chính trị và lợi ích của công dân. Do vậy hoạt động xét xử của Tòa
án phải luôn bảo đảm tính khách quan, công bằng và chính xác. Một trong những
điều kiện bảo đảm tính công bằng, khách quan và đúng pháp luật đó là sự độc lập
của Tòa án trong công tác xét xử. Chính vì vậy, nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” luôn là nguyên tắc kiên định được quy
định rõ trong các bản Hiến pháp của nước ta và trong Luật tổ chức TAND.
Bằng lý luận khoa học pháp lý cũng như qua thực tiễn cần phải hiểu rõ và
đúng đắn bản chất và mối quan hệ của nguyên tắc “Đảng lãnh đạo” cũng như “tính
độc lập” trong xét xử của Tòa án. Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về chiến lược cải
cách tư pháp nêu rõ: “Cải cách tư pháp phải đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của
Đảng, bảo đảm sự ổn định chính trị, bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền lực Nhà nước là thống nhất,
có sự phân công, phối hợp giữa cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền
chức năng hoặc đương sự thu thập. Chính vì vậy, các thông tin ban đầu có ảnh
hưởng nhất định đến nhận định của hội đồng xét xử. Vì vậy, độc lập với tài liệu
trong hồ sơ vụ án là việc Thẩm phán và Hội thẩm trên cơ sở đánh giá tính chính
xác của các thông tin, kiểm tra lại tính xác thực, đúng đắn của quyết định truy tố,
từ đó đưa ra quan điểm của hội đồng xét xử, các tình tiết thu thập được phải phù
hợp với hiện thực khách quan.
- Độc lập với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với dư luận và với cơ
quan báo chí: phán quyết của Tòa án bao giờ cũng làm xuất hiện những mâu thuẫn
về lợi ích giữa các bên tham gia tố tụng ví dụ như giữa bị cáo và người bị hại, giữa
nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự, giữa nhà nước và người phạm tội...bởi vì ai
cũng có nhu cầu kết quả xét xử đưa lại lợi ích tối ưu cho họ. Sau phán quyết của
Tòa án sẽ có rất nhiều bình luận từ quần chúng nhân dân, từ cơ quan báo chí rằng
tòa xét xử như vậy đúng hay không, có công bằng hay không, nặng hay nhẹ. Đặc
biệt là các vụ án bị cấp trên hủy án, những vụ án xét xử lưu động và các vụ án lớn
được dư luận quan tâm. Những vấn đề đó đều tác động mạnh mẽ đến tâm lý của
Thẩm phán và Hội thẩm khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Vì vậy, mới đặt ra yêu cầu
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với
báo chí, với dư luận nghĩa là việc xét xử chỉ dựa trên những chứng cứ, những quy
định của pháp luật, không phụ thuộc vào yêu cầu khách của những người nói trên.
4
Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11/12/2003, Chất lượng xét xử của chúng ta cao hay thấp?: Nâng
cao chất lượng xét xử.
13
* Độc lập với các yếu tố chủ quan (giữa các thành viên trong hội đồng xét
xử)
Cơ sở của việc độc lập xét xử giữa Thẩm phán và Hội thẩm được ghi nhận
14
1.2.3. Mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt
động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm
Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là hai yêu cầu trong quá trình xét xử của
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có mối quan hệ chặt chẽ và ràng buộc với nhau.
Từ tính độc lập giúp cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật
khi xét xử, tạo ra tính khách quan và tạo nên độ chính xác công bằng. Từ việc tuân
theo pháp luật, giúp hạn chế việc áp đặt ý chí chủ quan của Thẩm phán và Hội
thẩm để họ dựa vào những quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Cụ thể, mối
quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong quá trình xét xử của
Thẩm phán và Hội thẩm được thể hiện như sau:
- Độc lập là biểu hiện của tuân theo pháp luật. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập là một phần nội dung của nguyên tắc. Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với
nhau và độc lập với các yếu tố khác. Nếu Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập,
không chịu bất kì sự tác động nào thì phán quyết của hội đồng xét xử mới có tính
khách quan, vô tư, quyết định của hội đồng xét xử mới đảm bảo đúng pháp luật.
Độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm tuân theo pháp luật.
- Tuân theo pháp luật là cơ sở để thể hiện tính độc lập trong xét xử. Xét ở khía
cạnh thuần túy của tính độc lập, để có thể tự mình đưa ra phán quyết, Thẩm phán
và Hội thẩm phải có kiến thức pháp luật và phải chấp hành quy định của pháp luật.
Khi nắm chắc kiến thức pháp luật, Thẩm phán và Hội thẩm có điều kiện để thể
hiện sự độc lập trong phán quyết của mình. Xét ở khía cạnh khác thì tuân theo
pháp luật là đã loại trừ các tác động khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và
Hội thẩm, bởi vậy họ mới có được sự độc lập.
- Độc lập trong việc thống nhất với chỉ tuân theo pháp luật: độc lập nhưng
phải dựa trên những quy định của pháp luật. Mọi kết luận của bản án, quyết định
của hội đồng xét xử phải phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án. Bản án phải
xác định đúng người, đúng tội và đúng với các thiệt hại do hành vi phạm pháp luật
để đảm bảo sự thành công trong việc phòng chống tham nhũng bởi lẽ những kẻ
tham nhũng sẽ không có cơ hội được bao che dưới sự can thiệp hay tác động vào
quá trình xét xử của Tòa án.
Ngoài ra, khi được trao quyền xét xử các VAHC, HĐXX đã thay mặt Nhà
nước Việt Nam phán quyết về tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành
vi hành chính một cách chính xác, khách quan. Qua đó, góp phần đem lại lòng tin
cho người khiếu kiện nói riêng và toàn thể nhân dân nói chung, trong một số
trường hợp đã có ý nghĩa đặc biệt để chấp dứt tình trạng khiếu kiện đông người,
vượt cấp, ngăn ngừa tình huống phát sinh những “điểm nóng” về chính trị, xã hội;
góp phần ổn định tình hình kinh tế, xã hội của đất nước trong quá trình hội nhập
quốc tế.
16
Thứ ba, về ý nghĩa pháp lý, nguyên tắc: “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là cơ sở đảm bảo cho hiến pháp và pháp luật
được thực thi một cách nghiêm túc trong đời sống bởi những người thi hành pháp
luật và những người xét xử hành vi vi phạm pháp luật
Thứ tư, về ý nghĩa với hoạt động thực tiễn: Việc nghiên cứu và tìm hiểu
nội dung của nguyên tắc này cho thấy nó không chỉ xác định được nhiệm vụ và
nâng cao tinh thần trách nhiệm của hội đồng xét xử, buộc họ phải khách quan, vô
tư, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mà còn tạo tiền đề quan trọng cho
việc thực hiện các nguyên tắc khác.
Chương 2
17
Như trên đã phân tích, nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một nguyên tắc chung trong tổ chức và
18
hoạt động của tòa án. Trong tố tụng hành chính nguyên tắc này được thể hiện ở các
mặt:
- Thứ nhất: khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không bị ràng buộc bởi kết
luận của Viện Kiểm sát; không bị chi phối bởi ý kiến của nhau; hay bị chi phối bởi
các quyết định ở giai đoạn tiền tố tụng. Thẩm phán, Hội thẩm phải chịu trách
nhiệm đối với ý kiến của mình về từng vấn đề của vụ án.
- Thứ hai: Thẩm phán và Hội thẩm độc lập cũng có nghĩa là không một cơ
quan, tổ chức nào can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và
Hội thẩm. Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử phải gắn liền với việc
tuân thủ pháp luật. Ðiều đó có nghĩa là khi xét xử các vụ án hành chính, Thẩm
phán và Hội thẩm phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để đưa ra ý kiến,
quyết định của mình về từng vấn đề của vụ án hành chính, chứ không được tùy tiện
hay bằng cảm tính, và không một tác động nào từ phía cơ quan hành chính được
dùng làm căn cứ để ra các quyết định giải quyết vụ án.5
Quy định này một lần nữa được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 vừa nhằm
mục đích bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa vừa thể hiện tính chất độc lập, không
phụ thuộc vào các cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào trong hoạt động của Tòa án
nhân dân. Trong thực tế có thể có những vi phạm đối với nguyên tắc độc lập xét xử
này. Song, đó là những vi phạm mang tính chất cá nhân, tư lợi, họ lợi dụng danh
nghĩa cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, hoặc sự ảnh hưởng của mình nhằm tác
động vào cơ quan xét xử, ép buộc cơ quan xét xử thực hiện theo yêu cầu của họ.
Như vậy, từ sự phân tích ở trên, ta có thể thấy được rằng nguyên tắc khi xét
xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố
tụng hành chính là một nguyên tắc vừa mang những đặc điểm là nguyên tắc chung
bị xâm phạm mà “người” xâm phạm là các cơ quan nhà nước, là cơ quan đại diện
cho “công quyền”, thay mặt Nhà nước trong việc ra các quyết định hay thực hiện
các hành vi hành chính áp dụng lên các đối tượng cụ thể. Do đó, đối tượng bị kiện
trong các vụ án hành chính nó cũng mang tính đặc thù. Đó là các quyết định hành
chính và hành vi hành chính do những người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan
nhà nước ban hành hoặc thực hiện. Và vì vậy, “người bị kiện” bao giờ cũng là
những những người có thẩm quyền và trực tiếp trong việc ban hành các quyết định
hành chính hay thực hiện các hành vi hành chính, là người theo quy định của pháp
luật giữ vai trò đại diện cơ quan “công quyền” trong việc thực hiện các hoạt động
quản lý nhà nước - trong đó có việc ra các quyết định hành chính và thực hiện các
hành vi hành chính, là người luôn có vị trí “xứng tầm” với các cơ quan tiến hành tố
tụng.
Như vậy, đối tượng xét xử của vụ án hành chính là các tranh chấp phát sinh
liên quan đến luật công, một bên là Nhà nước thực thi công vụ, vì lợi ích chung và
với các phương tiện mang tính quyền lực, tính cưỡng chế, còn bên kia là các công
dân với các lợi ích được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Một Nhà nước pháp quyền
phải là một Nhà nước mà trong đó các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
phải được tôn trọng một cách tuyệt đối, không cho phép bất kỳ một hành vi nào
20
xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cho dù đó là cơ quan công
quyền. Với tính đặc thù về bảo vệ lợi ích của công dân trước cơ quan công quyền,
khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm phải khách quan nhất, công tâm nhất, trách
nhiệm nhất và phải tuyệt đối tuân thủ các quy định của Hiến pháp và pháp luật để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân một cách triệt để nhất. Do đó, vai
trò độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử các VHAC trở nên bức thiết
hơn bao giờ hết.
Do có những đặc thù về đối tượng như trên, cho nên, trong quá trình giải
trách nhiệm trực tiếp tổ chức quản lý các lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm xây dựng
và phát triển địa phương về mọi mặt, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, là nhân tố quan trọng nhất tác động đến quá trình hình thành ý thức pháp
luật của cán bộ, công chức cũng như các tầng lớp nhân dân địa phương. Với vị trí,
vai trò to lớn như vậy, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có tầm ảnh
hưởng lớn lao đến đội ngũ cán bộ công chức nói chung và đội ngũ Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân trong địa phương mình nói riêng. 6
Một đặc trưng của xét xử các vụ án hành chính là phán quyết về tính hợp pháp
của quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, của người có
chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước, nhiều trường hợp là người có chức vụ
rất cao. Vì vậy, rất nhiều trường hợp Thẩm phán “e ngại”, nể nang, né tránh, không
dám ra phán quyết khẳng định tính bất hợp pháp của quyết định hành chính, hành
vi hành chính. Điều này là khó tránh khỏi, bởi vì trên thực tế hiện nay, tính độc lập
của Tòa án chưa được đảm bảo. Thẩm phán bị chi phối bởi nhiều quan hệ, trong đó
chủ yếu là quan hệ giữa Thẩm phán với cấp ủy, chính quyền địa phương như: liên
quan đến vấn đề bổ nhiệm, bỡi lẽ khi bổ nhiệm hay tái bổ nhiệm Thẩm phán đều
phải lấy ý kiến của chính quyền địa phương; do hạn chế về kinh phí hoạt động và
trang thiết bị làm việc của ngành Tòa án nên hầu hết các tòa án địa phương đều
phải xin chính quyền địa phương hỗ trợ, giúp đỡ về tài chính để phục vụ các hoạt
động của mình…Những điều này tạo nên tâm lý lệ thuộc, mất tính độc lập khi xét
xử. Do vậy, khi ngưởi dân khởi kiện yêu cầu hủy bỏ quyết định trái pháp luật của
chính quyền địa phương thì tâm lý e ngại, nể nang, né tránh là tất yếu.7
Bên cạnh đó, trong giải quyết các VAHC các phán quyết của Thẩm phán và
Hội thẩm căn cứ chủ yếu vào các văn bản pháp luật. Pháp luật TTHC quy định tố
tụng hành chính là “tố tụng viết” mà theo đó chứng cứ các bên đưa ra trong tố tụng
hành chính được trao đổi công khai, các bên có quyền và nghĩa vụ chứng minh
bằng văn bản. Do các tranh chấp chủ yếu là việc xác định tính hợp pháp của
QĐHC, HVHC bị khởi kiện nên nguyên tắc “tố tụng viết” đòi hỏi mọi sự tranh
luận, giải trình giữa các bên phải được thể hiện bằng văn bản. Do vậy, giai đoạn
6
nước hoặc đương chức hoặc đã về hưu, do Mặt trận tổ quốc giới thiệu nên
tính nhân dân trong đó cũng không quá nhiều. Vì là cán bộ, công chức và nhiều khi
trong số đó là những người chưa được đào tạo chuyên sâu về pháp lý, nên quá trình
giải quyết còn mang tính chủ quan, và không tránh khỏi “cả nể” các cơ quan nhà
nước.
- Thứ hai, về động cơ của các tác động đến tính độc lập của Thẩm phán và
Hội thẩm trong tố tụng hành chính.
Như đã nói ở trên, các vụ án hành chính đều là “dân kiện quan”, “người” bị
khiếu kiện là các cơ quan nhà nước có vị trí, vai trò quan trọng, có quyền hạn lớn,
và có uy tín đối với nhân dân. Uy tín của cơ quan nhà nước được bảo đảm bằng
chính sách, pháp luật và bằng hành động thực tiễn của cơ quan công quyền, trong
đó, đội ngũ cán bộ công chức giữ vai trò nòng cốt. Trong đội ngũ cán bộ ấy, thì vai
trò của người lãnh đạo cơ quan nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết
định nên sự vận hành của cả một “bộ máy” có nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động
23
của địa phương. Ngoài ra, với vai trò, vị trí của mình, lãnh đạo các cơ quan nhà
nước có một “uy quyền” nhất định trong xã hội. “Uy quyền” ấy được quy định bởi
những nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước giao cho những người đứng đầu các cơ
quan ấy. Khi không tuân thủ các quy định của pháp luật thì với “uy quyền” ấy rất
dễ gây nên những xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân
dân. Bất kể một xâm phạm bất hợp pháp nào gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân cũng đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, dù người lãnh
đạo đó là ai, và cơ quan đó là cơ quan nào. Chính vì lẽ ấy, mà vấn đề trách nhiệm
đặt ra rất nặng nề đối với những hành vi bất hợp pháp của cán bộ, công chức nói
chung, và lãnh đạo các cơ quan nhà nước nói riêng. Như vậy, có thể thấy rằng,
trong các vụ án hành chính, một khi có các tác động từ phía cơ quan nhà nước đối
với Thẩm phán và Hội thẩm, thì động cơ của các tác động ấy nếu có là nhằm loại
pháp luật đó thì theo quy định, cơ quan ấy có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại.
Thiệt hại do cơ quan nhà nước gây ra thì nhà nước có trách nhiệm bồi thường.
Thiệt hại gây ra cho công dân càng lớn thì thiệt hại cho ngân sách nhà nước cũng
tăng lên và uy tín của Nhà nước càng giảm sút. Chính vì vậy, tâm lý của tất cả mọi
người trong cơ quan nhà nước nói chung và với lãnh đạo cơ quan nói riêng là
không mong muốn có một nguy cơ nào gây ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan
mình, nhất là liên quan đến tính hợp pháp của các quyết định từ phía cơ quan. Với
tâm lý chung ấy thì việc “tìm mọi cách” để gây tác động, ảnh hưởng đến Thẩm
phán và Hội thẩm, nhằm làm cho các phán quyết của tòa án nghiêng về hướng “có
lợi” cho mình là điều không tránh khỏi.
Đối với cá nhân, một khi người có nhiệm vụ và quyền hạn ra các quyết định
hành chính hay có những hành vi hành chính trái pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích
của công dân thì vấn đề đặt ra trong trường hợp này không chỉ đơn thuần là uy tín
của cá nhân hay của cơ quan đó. Vấn đề đặt ra ở đây khiến nhiều lãnh đạo cơ quan
nhà nước “lo sợ” chính là vấn đề trách nhiệm. Trách nhiệm ở đây là trách nhiệm
đối với nội bộ cơ quan và trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Khi cá nhân
lãnh đạo có những quyết định hay hành vi bất hợp pháp gây thiệt hại đến quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, thì ngoài việc bị kiểm điểm, phê bình trong nội bộ
cơ quan, cá nhân lãnh đạo ấy có thể phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, không
loại trừ khả năng chịu trách nhiệm hình sự nếu các hành vi đó cấu thành tội phạm.
Vì thế, bằng mọi sự tác động có thể, cá nhân người lãnh đạo cũng gây ra các ảnh
hưởng nhằm tác động đến các Thẩm phán và Hội thẩm trong Hội đồng xét xử các
VAHC mà cá nhân lãnh đạo ấy là người bị kiện.
Có thể thấy rằng, về mặt nguyên tắc, HĐXX các VAHC không liên quan gì
đến quá trình ban hành các quyết định hành chính, các hành vi hành chính bị kiện.
Vì thế, HĐXX độc lập với cơ quan hành chính và cá nhân lãnh đạo cơ quan ấy,
không có quyền lợi thực chất nào liên quan tới kết quả của vụ việc nên sẽ bảo đảm
tính khách quan, công bằng khi phán quyết. Nhưng theo quy định của pháp luật
chung và của hệ thống tư pháp nói riêng được quy định từ ngay trong bản hiến
pháp đầu tiên và ở trong tất cả các bản hiến pháp sau đó. Ở hiến pháp 1946,
nguyên tắc này được quy định là “trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân
8
Thùy Linh, Việt Trinh (2011), Tìm hiểu hướng dẫn thi hành pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm tòa án nhân dân,
NXB Lao động, Hà Nội, tr 123.